1, 2  >                 Diễn Đàn                 <<< tìm >>>                 BÀI MỚI . muc luc . vào



Mùa Xuân và Hoa





Mai Vàng, Mùa Xuân và Việt Nam


Mai, Lan, Cúc, Trúc là biểu tượng của bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Mai vàng, một loài hoa đẹp cao quý chỉ nở mỗi năm một lần đúng vào dịp Xuân về, với dân Việt, hoa mai đã trở thành sứ giả biểu tượng cho mùa xuân của vùng đất phương Nam từ nghìn năm trước. Trong văn chương, hoa mai đã có mặt trong thơ của thiền sư Không Lộ, thiền sư Mãn Giác từ thời nhà Lý, thiền sư Huyền Quang thời nhà Trần, trong thơ của Nguyễn Trãi thời nhà Lê, trong những tác phẩm nổi tiếng như Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du, trong Lục Vân Tiên của Nguyễn đình Chiểu ... và rất nhiều những vần thơ, những áng văn của các văn thi nhân khác từ cổ chí kim viết để ca tụng hoa mai . Trong số này, có hai câu thơ, tương truyền là của Chu Thần Cao Bá Quát, mà khi đọc sẽ thấy ngay địa vị của hoa mai trong tâm tưởng của thi nhân Việt .
”Thập tải luân giao cầu cổ kiếm
Nhất sinh đê thủ bái mai hoa”.
(Mười năm chu du tìm gươm cổ
Một đời chỉ cúi lạy hoa mai.)

Thiền sư Huyền Quang, ông tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đã "phong" cho hoa mai ngang hàng "ngự sử".
"Ngự sử mai hai hàng chầu ráp
Trượng phu tùng mây rặng phò quang"

Mai cũng có mặt trong hai câu thơ khắc trên chiếc dĩa cổ cuả triều Nguyễn, trưng bày ở Huế mà tác giả theo tương truyền là của Nguyễn Du.
"Nghêu ngao vui thú yên hà
Mai là bạn cũ, hạc là người quen"
Nhưng hiện nay tác giả của hai câu thơ trên là đề tài đang được tranh luận . Giữa Nguyễn Du, Định Viễn Quận Vương và Đông Các Đại Học Sĩ Đinh Phiên, ai là tác giả vẫn chưa có kết luận.( Ðịnh Viễn Quận Vương là hoàng tử thứ 6 của vua Gia Long. Ðông Các đại học sĩ Ðinh Phiên là người đã phụng mệnh vua Gia Long làm phó sứ cho Cần Chánh đại học sĩ Nguyễn Xuân Tình sang Thanh năm 1819) .

Xuân đến- xuân đi, những ngày Xuân trôi qua, nhìn những cánh hoa mai vàng rơi lìa khỏi thân cành như nhắc nhở dòng thời gian đến-đi, hoa nở- hoa tàn, tóc xanh- tóc bạc . Vòng đời luân chuyển, mọi việc trên đời đều vô thường. Vô thường của thời gian, vô thường của cỏ cây hoa lá, vô thường của kiếp người. Một sự chu chuyển tất yếu của thiên nhiên và sinh mệnh. Ai cũng đến đi, ai cũng trẻ già, ai cũng sống chết. Ngắn ngủi một kiếp người, đã là thế nhân làm sao thoát khỏi vòng sinh tử. Phàm nhân tục tử, như hầu hết chúng ta, chắc ai cũng có những cảm giác băn khoăn, nuối tiếc, lo lắng, sợ hãi... khi nghĩ đến thời điểm phải rời xa trại tạm trú trần gian này. Làm sao có thể an nhiên, tự tại, thanh thản, sẳn sàng đón nhận sanh tử vô thường như các bậc giác ngộ ? Dù có chờ hay chẳng đợi, thì con người vẫn phải phụ thuộc theo sự vận hành của đất trời, như một phần tử của bộ máy tạo hóa xoay chuyển và biến hóa mãi không ngừng. Dù vui hay buồn thì Xuân cũng đến và đi . Như tâm sự của Chế Lan Viên khi xuân về :
" Tôi có chờ đâu có đợi đâu
Đem chi xuân lại gợi thêm sầu
Với tôi tất cả là vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau…"

Mỗi độ xuân về, có lẽ bài kệ thi "Cáo Tật Thị Chúng " của thiền sư Mãn Giác được nhắc đến nhiều nhất vì cái hay, cái đẹp của tứ thơ và phong thái của một bậc giác ngộ đối diện với Sinh, Trụ, Dị và Diệt của vạn vật và con người .

Cáo Tật Thị Chúng
"Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai
Mạc vị Xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai."

(Xuân đi, trăm hoa rụng
Xuân đến, trăm hoa khai
Đời thoáng ngang qua mắt
Tóc trên đầu bạc phai
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua, sân trước một nhành mai.)

Xuân đến trăm hoa khoe sắc thắm, xuân đi qua trăm hoa rơi rụng. Xuân đến và đi, với thiền sư, thanh thản, nhẹ nhàng, bình yên và an lạc . Với thời gian, tóc xanh mới đó đã thành bạc thì cũng chẳng có gì vướng bận tâm hồn. Những gì đã qua không nuối tiếc, những gì chưa đến không mong cầu. Bình thản, tự tại và an lạc sống với hiện hữu, trước những cảnh biến đổi của thời tiết thiên nhiên, trước những đổi thay dâu bể của cuộc đời. Nhưng đây là cách ứng xử của một bậc chân tu, đã giác ngộ lẽ sinh tử vô thường của cuộc sống. Còn thế nhân như chúng ta, tâm tư đầy ắp bóng dáng khổ lụy của kiếp người. Lúc được thì vui, lúc mất thì buồn. Khi gần gũi thì hạnh phúc, khi ly biệt thì đau khổ. Được khen thì tươi tắn, bị chê thì ủ rũ. Như ý thì hân hoan, trái ý thì cáu giận ... Tóm lại, chúng ta là phàm nhân, rất khó kềm chế lòng ham muốn của con người nên luôn bị chi phối bởi những cảm giác thương yêu, ghen ghét, lo âu, sợ hãi, buồn sầu, vui vẻ, khổ đau, hạnh phúc ... và làm sao không nao núng tâm thần trước những biến đổi lớn lao của cuộc sống. Nhưng đã sinh ra làm kiếp con người, dù có "Trải qua những (một) cuộc biển dâu; Những điều trông thấy mà đau đớn lòng", dù không đủ khả năng giác ngộ mọi việc như một bậc chân tu, dù phải chân ngắn bước dài, lên cao xuống thấp, thăng trầm theo buồn vui nhân thế thì chúng ta cũng phải sống, và sống cho trọn một kiếp trăm năm. Dù vẫn biết bài thi kệ "Cáo tật thị chúng", thiền sư Mãn Giác có ý nhắn dạy thế nhân về qui luật vận hành tất yếu của thiên nhiên và cái vòng tử sinh luân hồi của kiếp người. Nhưng mùa xuân đã qua mà thiền sư vẫn trông thấy một nhành mai ở sân trước. "Mạc vị Xuân tàn hoa lạc tận; Đình tiền tạc dạ nhất chi mai." Có chăng một cành mai nở muộn lúc xuân tàn? Hay thiền sư đã nhìn thấy sự trường cửu của mùa xuân nơi cành mai tàn có thực trước sân chùa? Theo qui luật thiên nhiên thì cành mai chắc chắn là không có hoa , nhưng sư Mãn Giác đã nhận ra thông điệp của mùa xuân kế tiếp, của thế hệ kế tiếp nơi cành mai không hoa ấy mà nói thế để truyền dạy cho thế nhân thông điệp: Mùa Xuân trường cửu trong vạn vật. Ước mong chúng ta có thể nhìn thấy sự trường cửu của mùa Xuân trong mọi việc đã qua, đang xảy ra và sắp đến. Mùa Xuân là mùa cây lá đâm chồi nẩy lộc, trăm hoa khoe sắc thắm... Mùa Xuân là mùa của sự sống, là biểu tượng cho sự cát tường của đời sống.

Hoa mai đã đươc tao nhân, mặc khách ưa chuộng bởi cái vẻ đẹp thanh khiết cao quý, hương hoa nhẹ nhàng thanh tịnh . Trời càng lạnh, hoa càng tỏa hương thơm hơn nên hương của hoa mai còn được gọi là "lãnh hương" (hương lạnh). Màu vàng của hoa mai là màu tượng trưng cho sự vinh hiển cao sang, màu tượng trưng và dành riêng cho vua chúa thời xưa. Theo thuyết ngũ hành, thì màu vàng thuộc hành Thổ, nằm ở vị trí Trung Ương của bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc. Màu vàng cũng là màu biểu tượng cho nòi giống Việt. Cho nên chẳng có gì ngạc nhiên khi dân Việt phuơng Nam chọn mai vàng để đón Xuân, để đón cái Tết Nguyên đán thiêng liêng, cổ truyền của dân tộc .

Nhiều quốc gia trên thế giới có một tập quán rất hay, họ gọi tên quốc gia bằng tên của một loài hoa như : Hòa Lan là xứ sở của hoa tulip, Bungari là đất nước hoa hồng, Nhật Bản là đất nước hoa anh đào, lá phong (maple leaf) là biểu tượng của Canada ...v.v Cũng là thảo mộc như bao loài thảo mộc khác nhưng nhưng những hoa, lá đó là biểu tượng của một quốc gia, mang trên mình sứ mệnh của một đất nước, chuyển tải cái hồn của cả một dân tộc. Cũng với định ý này, người Nhật đã vinh danh hoa anh đào là quốc hoa (kuni no hana) của Nhật Bản. ChoViệt Nam, nếu theo tập quán có ý nghĩa, hay và đẹp này thì hoa mai có thừa đủ mọi tiêu chuẩn để trở thành biểu tượng cho đất nước Việt Nam. Mặc dù là vậy, ở Việt Nam, hoa mai vẫn chưa được "vinh danh" xứng đáng với tầm vóc và phẩm chất của một loài hoa cao quý. Có lẽ, mọi người dân Việt nên suy nghĩ "dùm" cho hoa Mai . Có thể nói, đây là suy nghĩ cho cả dân tộc và đất nước VN luôn chứ không phải cho riêng hoa mai. Phần của hoa mai thì chắc cũng đã hài lòng với những tước hiệu như "sứ giả của mùa xuân", " ngự sử", "loài hoa cao quý", "bạn song hành với thi nhân" ... mà dân Việt đã dành tặng cho hoa mai qua bao nhiêu thế hệ.

Mỗi độ xuân về, ngoài trời tuyết phủ trắng cảnh vật. Đã bao nhiêu cái Tết chẳng có mùi vị Xuân trôi qua im lặng đến lạnh lùng như khí hậu lạnh lẽo của nơi này. Giao thừa đến không hay, giao thừa đi chẳng biết. Đôi khi có dịp cùng vài người bạn thân cạn vài ly rượu mừng Xuân, cũng thấy ấm áp, khuây khỏa vơi bớt nỗi buồn ngày Xuân xứ lạ đôi chút. Cùng nhau ôn lại quá khứ, nhắc lại những kỷ niệm đã qua. Chợt nhận ra, đã có quá nhiều thay đổi, khác biệt do cuộc sống mang lại . Những giấc mơ đầy nhiệt huyết thuở nào dường như đã bị chôn vùi sâu dưới lớp bụi thời gian. Nhạt nhoà và mất dần dấu tích theo năm tháng trôi qua. Buồn lại kéo về tràn ngập, tát không vơi.

Đón Xuân nơi xứ lạ
Cành mai giả, màu vàng
Ngoài trời tuyết phủ trắng
Những giấc mơ muộn màng
Ngày Xuân đem rao bán
Tiếng tơ lòng ai mua ?
Nỗi lòng người xa xứ
Chờ cơn gió giao mùa .

Thêm một mùa Xuân đang chờ ngoài ngõ, nỗi nhớ quê hương càng thêm da diếc. Tự nhủ lòng : Thôi đừng buồn nữa tôi ơi! Quê hương còn đó, bè bạn còn đây. Rồi sẽ có một ngày đất nở hoa, đón xuân về ngắm huỳnh mai nở hoa sân trước.

Cầu nguyện cho mùa Xuân dân tộc và Việt Nam trường cửu trong lòng người dân Việt ly hương.

Mạc vị Xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Lý Lạc Long (TTL/TCT/MAI/Xuân 2005)





CUNG CHÚC TÂN XUÂN
Chúc Tất Cả ACE Một Năm Bính Tuất An Khang & Thịnh Vượng



trả lời


Mùa Xuân và Hoa


Cám ơn TTL gởi vào trang web này một bài thật hay và rất ý nghĩa về sự dung hòa của Trời Đất tạo nét khởi sắc cho mùa Xuân, với nét đặc thù của Quê Hương Việt Nam.
Nhân lời chúc của TTL, Cao Nguyên lấy nơi đây làm nơi hội ngộ vào Xuân của các anh chị em thân tình của Bến Trăng.



trả lời


Mùa Xuân và Hoa


tiệc rượu chân mây

Thế nào tôi cũng ghé qua
cùng anh uống một chén trà chào Xuân
gởi anh thêm nửa lời mừng
nợ nhau từ bữa ngập ngừng tiễn đưa !

Thế nào đêm cúng Giao Thừa
ruộng đồng hương hoả cũng vừa tuần hương
nén tình cho chặc Yêu Thương
cầu xin Sông Núi Quê Hương thanh bình !

Thế nào cũng đến thăm Mình
hâm bầu rượu nóng, nhắc tình thuở xưa
nghiêng vai so tóc dày thưa
đếm từng sợi bạc, nhớ mùa lạc nhau !

*

Thế nào lòng cũng vương sầu
khi đem nguyện ước neo Cầu Sông Mê
nhớ Nhà mắt ngóng đường về
mà chân vẫn bước trên Quê Hương Người

Thôi đành mượn bút ghi lời
treo cành Xuân Nhớ, xanh Trời rộ Mai
Xuân mừng tiệc rượu chân mây
uống hương Sông Núi, Thơ say giữa Trời !

Cao Nguyên



trả lời


Mùa Xuân và Hoa


Đêm Giao Thừa

Mời nhau câu chúc giao thừa
Bánh chưng dưa món đủ vừa tình thân
Uống trà Bảo Lộc bâng khuâng
Trời Xuân cảm khái xa gần Đông Tây

Hai bờ vạn lý đường mây
Rủ rê trẩy hội những ngày an vui
Bài thơ Nhân Ái ngậm ngùi
Trải lên Lục Bát êm tươi cuộc đời

Mai vàng rực nở nơi nơi
Dung hòa hương khói gởi lời quê hương
Âm vang dội kín bên tường
Pháo hoa bay thẳng miên trường giấc đêm

Mến chúc huynh CN, huynh SC và các anh chị một Năm Mới
An Khang Thịnh Vượng

PhuongDoan



trả lời


Mùa Xuân và Hoa


Ý nghĩa các loài hoa!!

Hoa... nói điều gì?
ở Phương Tây, người ta đặt cho mỗi màu hoa, mỗi thứ hoa một ý nghĩa nhất định. Màu trắng biểu thị sự trong sạch, vì vậy trong các đám cưới, tặng hoa cô dâu, người ta chỉ dùng hoa trắng để tặng mà

thôi. Ngoài ra, màu xanh nhạt chỉ sự xoa dịu đam mê, màu hoàng yến đường hoàng kiêu hãnh, màu phấn hồng êm ái ôn nhu, màu tím cà lâng lâng thoát tục, màu tím than an ủi đau thương, màu đỏ sậm tượng trưng máu lửa.

Hoa hồng tượng trưng cho tình yêu, vì vậy một bông hồng người ta gọi là "Bà Chúa của trái tim". Hoa mai có nghĩa là vô tình (nhưng ở phương Đông lại dùng hoa mai để chỉ người có tâm hồn thanh cao). Hoa thuỷ tiên chỉ sự kiêu căng, ích kỷ (phương Đông coi Hoa thuỷ tiên chính để chỉ sự chung thuỷ). Hoa đào nói về những người con gái (phương Đông cũng vậy). Nguyễn Du đã viết:"Vẻ chi một đoá hoa đào" hoặc "Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông" (Kiều). Hoa cam trinh bạch, các cô dâu thường đội vòng hoa cam trong ngày cưới. Hoa mào gà sự say mê hăng hái. Hoa glay-zơn chỉ sự hẹn hò. Hoa mẫu đơn chỉ mối tình trọn vẹn cả đôi bề.

Người ta còn mượn hoa để nói thay lời. Ngôn ngữ thật là uyển chuyển, tế nhị đúng là một thứ trung gian đáng yêu của tình cảm:

Mã tiền (verveine): nỗi lòng kín đáo chẳng ai hay, Bách hợp (lys): tình trong sạch, Dạ hương (belle de nuit): ấp úng không thốt nên lời, Đồng thảo (Violette): khiêm tốn quá, Hoà trà (camelias): biết đâu mà tìm, Thuỷ cúc (marguerite): yêu ai hơn hết, Uất kim cương (tulipe): chiến thắng tức là tái sinh, Cẩm chướng (oeillet): thầm tạ ơn lòng, Hồng hồng (rose-rose): say đắm, trìu mến. Ca dao xưa có câu: "Vườn hồng ai dám ngăn rào chim xanh", Hồng nhung (rose rouge): say đắm, Nhài (jasmin): ngây ngất, Lưu ly (myosotys): xin đừng quên nhau, Thu mẫu đơn (anemone): chia tay, phản bội, Cúc (aster): bao giờ cho hết khổ đau...

ở phương Đông, Hoa sen là tượng trưng cho người quân tử, Hoa cúc tượng trưng cho người ẩn dật, Cúc bách nhật được nhiều nhà thơ ví với lòng chung thuỷ của người phụ nữ, hoa phù dung sớm nở tối tàn thường được ví với những người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng bạc mệnh; hoa lan là thứ hoa vương giả; hoa mẫu đơn là thứ hoa phú quý; hoa nhài là thứ hoa lãng mạn, chỉ nở về đêm (người ta không dùng hoa nhài để cúng), hoa huệ tượng trưng cho sự thanh khiết, nên thường được bày ở bàn thờ Phật...

Gần đây, ta thường cho hoa phượng tượng trưng cho mùa thi (thời xưa ở nước ta, hoa hoè tượng trưng cho mùa thi, có câu thơ "Hoè hoa hoàng, cử tử mang" (nghĩa là hoa hoà vàng, người đi thi bận rộn), Hoa hướng dương tượng trưng cho sự chung thuỷ vì luôn hướng về Mặt trời (xưa gọi là hoa quỳ, có câu thơ "tấm lòng quỳ hắc hướng về dương" chỉ bầy tôi trung thành với vua).

Hoa Cẩm chướng: Tình bạn.
Hoa Cúc trắng: Ngây thơ và duyên dáng.
Hoa Cúc tím (thạch thảo): Nỗi lưu luyến khi chia tay.
Hoa Cúc vàng: Lòng kính yêu quý mến, nỗi hân hoan.
Hoa Ðinh tử màu lửa: Càng ngày anh càng yêu em.
Hoa Ðinh tử màu đỏ sẫm: Lòng anh không bao giờ thay đổi.
Hoa Ðồng thảo: Tính khiêm nhường.
Hoa Ðồng tiền: Niềm tin của em đã đạt được.
Hoa Forget Me Not: Xin đừng quên em.
Hoa Huệ: Sự trong sạch và thanh cao.
Hoa Hướng dương: Niềm tin và hy vọng.
Hoa Hải đường: Nên giữ tình bạn thân mật thì hơn.
Hoa Hồng: Thể hiện tình yêu bất diệt.
Hoa Hồng BB: Tình yêu ban đầu.
Hoa Hồng bạch: Em ngây thơ, duyên dáng và dịu dàng.
Hoa Hồng nhung: Tình yêu say đắm và nồng nhiệt.
Hoa Hồng vàng: Một tình yêu kiêu sa và rực rỡ.
Hoa Hồng đỏ: Một tình yêu mãnh liệt, đậm đà.
Hoa Hồng phấn: Sự trìu mến của em theo bước chân anh.
Hoa Hồng tỉ muội: Khi được tặng, nếu là bạn trai thì cần hiểu rằng bạn là một đứa em ngoan.
Hoa Inmortel: Nỗi đau khổ khó nguôi.
Hoa Kim ngân: Lòng trung thành.
Hoa Lan: Bao giờ em cũng thành thật với anh.
Hoa Lay ơn: Những cuộc họp vui vẻ và lời hẹn cho ngày mai.
Hoa Lưu ly: Anh muốn hoàn toàn là của em.
Hoa Lài: Tình bạn ngát hương.
Hoa Lý: Tình yêu thanh cao và trong sạch.
Hoa Mai, hoa Ðào: Một mùa xuân tràn trề ứơc mơ và hy vọng.
Hoa Mimosa: Tình yêu mới chớm nở.
Hoa Mào gà đỏ đậm: Không có điều gì làm anh chán cả.
Hoa Ngân hương vàng: Tôi đã có chồng, hãy tha thứ.
Hoa Phù dung: Hồng nhan bạc phận. Chóng phai, không bền.
Hoa Quỳnh: Sự thanh khiết.
Hoa Sen hồng: Hân hoan, tươi vui.
Hoa Sen trắng: Cung kính, tôn nghiêm.
Hoa Sen: Lòng độ lượng và từ bi bác ái.
Hoa Sơn trà: Anh nên dè dặt một chút.
Hoa Thuỷ tiên: Kiêu căng và ích kỷ. Vương giả, thanh cao, kiêu hãnh.
Hoa Thược dược: Sự dịu dàng và nét thầm kín.
Hoa Trà mi: Kiêu hãnh, coi thường tình yêu.
Hoa Trà: Mong manh sương khói.
Hoa Tường vi hồng: Anh yêu em mãi mãi.
Hoa Tường vi vàng: Anh sung sướng được yêu em.
Hoa Tường vi: Anh đã bắt đầu yêu em.
Hoa Tử vi: Sự e ấp kín đáo.
Hoa Violette (Chuông): Hãy giữ bí mật mối tình
Hoa făng: Giúp ta han gan nhung vet thuong long.
Hoa trà: loai hoa mau trang tinh nay noi len suc manh tinh than cua tinh yeu va niem hanh phuc vo tan cua lua doi.
Thuỷ tiên vàng: nhung bong hoa mong manh nhu khoi mach bao cho nguoi ay biet la ban dang thuy chung.
Cúc đại đoá : suc manh cua tinh yeu.

Hoa lưu ly: nhac nho nguoi yeu hay luon nho den ban.
Kim ngân: loai hoa mang suc quyen ru cua tinh yeu.
Dạ lý hương : bao hieu 1 trang moi trong cuoc doi ban.
Tuylip:loai hoc cua xu so coi xay gio mang den cho ban tinh yeu va su may man.
Hoa hướng dương: Nhung bong hoa ruc ro nay the hien su khao khat tim hieu tri thuc.
MAU HOA NOI LEN DIEU GI?
- Đỏ: the hien cam xuc manh.
- Tím: mau cua tinh than.
- Vang: hi vong co hoi moi se den.
- Cam: tuong trung cho suc khoe xung man.
- Trắng: trung thuc.
- Hồng: su dam me.



(Nguồn : diễn Đàn Yamaha )



trả lời


Mùa Xuân và Hoa


XUÂN TRONG TA

Trần Kiêm Đoàn



Không biết từ thuở nào, ý niệm “nửa chừng xuân” đã trở thành khái niệm “nửa vời” trong văn chương tiếng Việt. Cuộc chơi đang vui phải bỏ dở nửa vời, cuộc tình đang đẹp nửa đường đứt gánh, tuổi trẻ hoa mộng nửa chừng hụt hẩng. Cái “nửa” tương đối đó thật là thiên hình vạn trạng, khó ai mà xác định được thời gian. Cô Đạm Tiên “nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương...” không rõ trong tâm thức nghệ sĩ Nguyễn Du nàng được bao nhiêu tuổi khi “chết xuống làm ma không chồng”. Rồi cô Mai trong Nửa Chừng Xuân của Khái Hưng; cô trinh nữ trong đám xuân xanh ấy, phải “theo chồng bỏ cuộc chơi” của Hàn Mạc Tử; “Xuân đến hoa mơ hoa mận nở, gái xuân giũ lụa trên sông Vân” của Nguyễn Bính... đều là những nhân vật phi thời gian; những hiện thân của mất mác và chia lìa.

“Bỏ cuộc” (!) không phải là một bi kịch của đời sống. Nhưng mùa Xuân giữa cuộc đời mới chính là thủ phạm của những bi kịch đó. Tại sao? Tại vì mùa xuân của con người đi theo một con đường thẳng. Trong khi mùa xuân của đất trời lại đi theo một vòng tròn. Xưa, Lý Bạch bên Tàu trong bài thơ Mời Rượu đã ví mùa Xuân của đời người như con nước sông Hoàng Hà, một lần tuôn ra biển khơi là sẽ không bao giờ còn trở lại. Trăm họ về sau buồn man mác mỗi lần nhắc lại lời họ Lý nói lên một sự thật xót xa rằng: “Hoàng Hà nước đổ người ơi. Xuôi dòng ra biển muôn đời chẳng lui. (Quân bất kiến Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai bôn lưu đáo hải bất phục hồi – Lý Bạch; Tương Tiến Tửu.)

Xuân! Tự bản chất là trung tính, chẳng thiên về giới tính, nam nữ gì cả. Thế nhưng, trong sinh hoạt thực tế, có vẻ như Xuân lại là độc quyền của nữ giới. Gái Xuân. tuổi Xuân, nụ Tầm Xuân, tình Xuân, hài Xuân, mơ Xuân... đều là sản phẩm của phái đẹp hay dành cho phái đẹp. Trong văn chương cũng như ngoài xã hội, sự “bất công” nầy đã thành quy ước. Nghệ thuật tha thiết nhắc đến lòng Mẹ, hòn Vọng Phu, chinh phụ, cô phụ, góa phụ... mà chẳng có nghệ sĩ nào thật tình tha thiết nói đến giới mày râu.

Từ xa, nhìn về quê mẹ là thế. Và nếu thật sự đến gần hay được hòa vào dòng sống của quê hương... thì có lẽ cũng thế thôi! Thế là thế nào? Là mùa Xuân và phái đẹp trên quê hương Việt Nam – tuy trên danh nghĩa là công dân hạng hai, đàn bà sau đàn ông một bước, nhưng trên thực tế là hạng nhất, là hạng siêu sao – vẫn còn đáng yêu. Cái đáng yêu nhất của người phụ nữ Việt Nam truyền thống (xin gạch dưới hai chữ “truyền thống” nhé!) là sự hóa giải những cực đoan. Bất cứ cái gì, điều gì mà chỉ có một phía là cực đoan. Dành được một vị trí vinh quang như thế là nhờ người phụ nữ Việt truyền thống không lạm dụng ba “quyền căn bản” như người phụ nữ Âu Mỹ, nên họ có thể “uốn nắn” (?!) được người đàn ông – kể cả lớp đàn ông “râu hùm, hàm én, mày ngài” như Từ Hải – phải quay về nẻo chánh; dẫu cho khát vọng tự nhiên tha thiết hướng đến nẻo... tà cũng đành chịu thua!

Trong hoàn cảnh đối diện với những sự cực đoan tương tự, người phụ nữ phương Tây (dĩ nhiên cũng đáng yêu lắm chứ!) sẽ không hóa giải mà bứt phá cực đoan bằng những hình thức chọn lựa một cách giải quyết cực đoan khác như sống đời độc thân, ly dị, ly thân, bạo động, tự tử...

Ba sự lạm dụng mang tính cực đoan hàng đầu của phụ nữ mang thiên chức làm mẹ đã kéo nền đạo lý phương Tây, nhất là Hoa Kỳ, xuống thấp hơn so với nửa thế kỷ trước. Đó là: Muốn có con mà vẫn tôn thờ chủ nghĩa độc thân (single mother by choice), nam nữ sống với nhau, có con ngoài giới hạn hôn nhân. Ly dị bừa bãi, bất chấp hậu quả đối với bản thân, con cái và gia đình. Và, tự do buông thả quan hệ giới tính trong lứa tuổi vị thành niên đưa đến tình trạng “em bé có em bé” (children having children.)

Trong một cái khung xã hội như thế với điệu sống đặt nặng trên căn bản tự do cá nhân là chính, người phụ nữ phương Tây quan niệm mùa Xuân của cuộc đời và tuổi Xuân của một người không có giới hạn thời gian. Ngày nào một người còn sống vui chơi, thoải mái và hạnh phúc với chính cuộc đời của họ thì ngày đó là mùa Xuân, là tuổi Xuân. Hiện tượng Xuân muộn của những cặp vợ chồng mới cưới nhau ở vào lứa tuổi “Thất thập cổ lai hy. Bát tuần thượng thọ...” (Thọ tới 70 xưa nay hiếm. Tuổi thọ cao tới 80... ) xảy ra rất thường tình trong xã hội Âu Mỹ ngày nay. Những đôi uyên ương chưa trăm năm mà đã cùng răng long đầu bạc nầy hầu hết bày tỏ niềm vui tươi mới và hạnh phúc đằm thắm trong hôn nhân ở lứa tuổi Xuân hoàng hôn của họ. Như ông bà Dick và Vicky Anderson, đồng chủ nhân các công ty du thuyền ở Florida và San Diego, đồng tuổi 75, đám cưới đầu Xuân 2002. Sau gần 5 năm chung sống đã hoan hỷ trả lời phóng viên hôn nhân báo Suncruise rằng, “Chúng tôi tìm thấy tuổi Xuân trong nhau. Tuổi trẻ và mùa Xuân vật lý thì do thiên nhiên ban cho. Nhưng tuổi trẻ và mùa Xuân của tình yêu thì phải do hai người chung sống trong cuộc tình, bất chấp ở lứa tuổi nào, phải cùng nhau đầu tư và sáng tạo ra không được quên lãng một giây phút nào cả mới có được.” Khi phóng viên Casper Hoover dí dỏm hỏi về “phép lạ kích dục” nào đã giúp cho hai ông bà Anderson giữ được sự quân bình và hạnh phúc gối chăn ở lứa tuổi “trâu già ra cà ổ rơm” vậy kìa?... Chàng lão Xuân Dick Anderson cười nụ trả lời: “Kích dục và thỏa mãn tính dục là chỉ làm cho no một cơn đói. Càng hay ăn thì càng hay đói. Càng ngấu nghiến thì càng thèm ăn. Tình yêu không có điểm đích cuối cùng bằng sự thỏa mãn mà là một chuỗi cảm nhận sâu xa, trân trọng nâng niu. Khi yêu là khi người ta sống với và hướng về một đối tượng cao viễn hơn là những gì ở trong tầm nhìn và tầm tay. Ví như mối quan hệ của trái đất với mặt trời. Cần nhau, nương nhau, tương giao từng giây phút và bao giờ cũng mới...” Phóng viên Hoover nầy bèn nói tếu để thay cho lời kết luận trong bài phỏng vấn này, rằng: “Nghe ông Anderson giảng về ‘đạo Tình’, tôi làm dấu chữ thập (?!) Không dám cười và lẳng lặng đi ra.”

Ôi! Xứ Tây quý cụ tám chục Xuân xanh mà vẫn chưa chịu “nửa chừng Xuân.” Cớ sao tuổi lứa đôi đầy mộng mơ xứ ta lại hóa ra nhiều nửa chừng Xuân đến thế?! Người ta thế đó; còn người mình thì sao đây?

Gần ba thập niên sống trên xứ Mỹ, tôi vẫn thường có một cảm nhận “dùng dằng” (mà dân Mỹ thường gọi là emotional ambivalence.) Nghĩa một trạng thái tâm lý và ý thức cứ chợt bên nầy, chợt bên kia giữa hai bờ đối nghịch. Mỗi lần vào dạy một lớp mới, tôi thường hỏi sinh viên – thường là một tập thể đủ mọi thành phần màu da, chủng tộc và văn hóa từ nhiều nơi trên thế giới – rằng là: “Mỹ có phải là một xã hội nam nữ bình quyền không? Nếu phải thì tại sao khi người đàn bà lấy chồng rồi, phải bỏ họ mình lấy họ chồng; lịch sử nước Mỹ chưa hề có đàn bà làm tổng thống; cái gì do con người tạo ra thì gọi là ‘man-made’, nghĩa là do người đàn ông làm ra?!” Một lần, có một sinh viên da trắng đã trả lời rằng: “ Giáo sư có để ý là người Mỹ để tên cá nhân mình trước và tên giòng họ sau; trong khi người châu Á lại để tên họ trước và tên riêng sau không? Người Mỹ chuộng thực chứ không chuộng danh. Cá nhân người đàn bà trong xã hội phải thật sự bình đẳng trong đời sống cá nhân, vợ chồng và gia đình trước đã. Sau đó mới tính đến chuyện bình đẳng ngoài xã hội và toàn thế giới.” Cũng như tôi khi nghe anh sinh viên nầy lý sự như thế đâu khoảng ba năm về trước, có thể câu trả lời của anh ta không làm thỏa mãn mọi người, nhất là người Việt chúng ta. Đơn giản chỉ vì triết lý hành động “hy sinh vì đời” theo tinh thần kẻ sĩ nhà Nho của ta và triết lý sống thực “sống cho ta trước đã” kiểu Tây Đầm là hai cánh bay ngược chiều nhau trên cùng một thân thể con đại bàng nhân loại vừa thực tế, vừa lý tưởng. Thế nhưng, nếu mất đi một trong hai cánh cực đoan đó thì lại rơi vào một cực đoan kế tiếp: Gãy cánh! Đại bàng gãy cánh thì còn tang thương hơn là gà vịt bán thịt ngoài chợ.

Chúng ta chỉ nghĩ đến chuyện “tề gia” căn bản như ăn cơm cho chắc bụng trước đã. Tiếp theo sau đó là sẽ “trị quốc” và “bình thiên hạ”. Nghe ra, tất cả đều là một chuỗi hy sinh rôm rả cứu nhơn độ thế chứ không nghe nói đến niềm hạnh phúc riêng tư nào cho cá nhân mình cả. Phải chăng, đấy cũng là một sự cực đoan như học giả Hồ Diên An, học phái Hồ Thích, nói đến lý tưởng viễn mơ của mình là “Nho giáo đã tự hóa thánh mình một cách không thực!”

Trước mùa Xuân, nào ai biết đâu là đời mình đang đứng trước ngưỡng cửa của khúc quanh Một Đời Xuân, Nửa Chừng Xuân, Một Thoáng Xuân hay chỉ là nếp mòn của một dòng sống loanh quanh không bao giờ thay đổi.

Để vươn lên từ hai phía cực đoan, những đầu óc khôn ngoan, siêu việt nhất từ xưa tới nay chỉ còn một con đường hay một thái độ giữ thế quân bình. Chọn con đường ở giữa: Trung dung, trung đạo, trung không – Middle Path!

Phụ nữ Việt Nam ta cũng đã chọn một con đường khiêm cung mà sáng quắc như thế đó. Nhưng khi nguy biến cũng hiên ngang cầm gươm ra trận, đối mặt với binh đao, chiến đấu với quân thù ở chốn sa trường như bà Trưng, bà Triệu.

Đang đón Xuân đến là đang đưa Xuân đi. Làm sao để những mùa Xuân không già đi, héo úa mà vẫn còn trở lại hoài. Hương sắc một mùa Xuân chỉ trọn vẹn khi nhìn được mùa Xuân thật như chính nó; không nửa chừng xuân mà cũng chẳng một đời xuân. Xuân đến và xuân qua theo bước vô thường. Vui để mùa Xuân trở lại. Chẳng buồn để mùa Xuân đừng đi qua. Giữ lấy mùa Xuân trong ta. Xuân Trong Ta mới là mùa Xuân rất thật.



Trần Kiêm Đoàn

Elk Grove, Cali mùa Noel 2007



trả lời


Mùa Xuân và Hoa




Hoa mai trong văn chương Việt Nam:


Ngày Xuân là dịp người thi sĩ nâng bút, người họa sĩ vung cọ dể thi họa. Tôi truy lục được một số thơ văn tiêu biểu cho bài viết biên khảo này như sau:

1) Với Quách Tấn:

Thi sĩ Quách Tấn vốn yêu hoa mai và ông đã viết về loài hoa này như sau:

"Mai là một đề tài rất thông dụng. Thi nhân dùng để tượng trưng cho niềm tiết tháo, cho lòng tinh khiết của mình. Thói đa tình cũng thường biểu lộ trong thơ. Chúng ta đã thấy rõ những điểm ấy trong bài thơ Mai chúng ta đã được đọc.

Và nhân đọc thơ Mai, chắc các em cũng như tôi không khỏi nghĩ luẩn quẩn:

- Mai kết bạn cùng tùng, trúc, luôn làm đại biểu cho giới nam nhi. Liễu luôn đại biểu cho giới phụ nữ. Còn Mai, khi thì đàn ông, khi thì đàn bà. Như thế có phải Mai là Đức Quán Thế Âm Bồ Tát của loài thực vật có sắc, có hương ?

- Phi thị, thị phi cần chi phải biện bạch. Xem thơ mà tìm được cái thú do nhận thức, do tưởng tượng, do suy tư…, đó là đạt được mục đích. Bởi đối với chúng ta, xem thơ, nói chuyện thơ, không có mục đích nào khác hơn là hưởng thú, hưởng thú để di dưỡng tính tình, đẻ tăng tiến trên đường học vấn.

Nhưng không nên lý luận suông mà sanh chán. Bấy nay đã đem Mai của cổ nhân ra làm quà cho các em, tuy chưa được bao lăm, song các em đã biết qua mùi vị. Bây giờ tôi xin gửi đến các em một ít "cây nhà lá vườn".

Xuân Giáp Dần (1974), nhân khóm Mai trong vườn, trong tháng giêng, tháng hai nở lác đác, sang tháng ba mới nở vun cành, tôi cao hứng ngâm được một luật:

"Giếng ngọt Giang Nam một khóm già
Xuân ngoài sáu chục nhánh trĩu hoa
Tình Xuân còn đợi duyên công chúa
Hương muộn càng say giấc Tố Nga
Mộng ngấm sương khuya hồn đọng ngọc
Vần gieo gió sớm bút trao già
Hỡi người thức trắng đêm thương nhớ
Tiếng địch thành cao vọng bến xa"

Tứ tuy không thoát khỏi phạm vi ảnh hưởng của cổ nhân, nhưng tình cảm chân thiết, nên chép ra lòng không mấy ngại ngùng. Gần đây, nhân thấy một người hàng xóm vất nhánh mai hết thời nơi xó nhà bếp, tôi cảm tác được bốn vần:

"Trước Tết Mai là hoa
Sau tết Mai là củi
Trước bao nhiêu nâng niu
Sau bấy nhiêu hất hủi
Nâng niu Mai chẳng mừng
Hất hủi Mai không tủi
Nghìn trước ngẫm nghìn sau
Khe trong lồng bóng núi."

Nhìn qua thì an nhiên tự tại, nhưng chíp chắp vẫn thấy chua chát ngậm làm ngon, làm ngon để giữ lòng được an nhiên tự tại. Tôi nhận thấy người cũng như mình, xưa cũng như nay, nói đến MAI chỉ vì mình mà nói, chớ chưa từng thấy thi nhân nào vịnh Mai vì Mai. Đối với Mai như thế kể cũng phụ phàng quá ! Song Viên Mai lại nói:

"Thơ vịnh vật mà không có ký thác thì chẳng khác lời đùa của trẻ em…, thì thơ kia là Mai hay Thi Nhân đâu còn là hai nữa, mà người đọc chúng mình còn phân biệt Ngã, Nhân. Thơ vịnh Mai là thế. Thơ vịnh các vật khác cũng thế.", Quách Tấn.

2) Với Vũ Hoàng Chương:

Nhà thơ Vũ Hoàng Chương cũng cho nhiều thơ về hoa Mai như:

"Cao sâu từng nhập bóng cây già
Cây vẫn thân xưa bóng chẳng nhòa
Vườn trải băng sương trăm thức cỏ
Xuân còn thúy vũ một cành hoa
Lòng nghe nắng ấm say đôi chút
Cánh để men hồng nhuốm phớt qua
Vang tiếng chim xanh về hót đấy
Bồng lai hẳn nhớ kẻ đi xa"
(bài "Tết Đề Mai", VHC)

"Rồng lên một bóng u hoài
Ôi thôi từng khúc ngã dài tâm tư!
Chín giao thừa, tám năm dư
Cành mai trắng mộng đêm trừ-tịch xuông..."
("Cành Mai Trắng Mộng", VHC)

"Ngàn mai lối tuyết đêm đông lạnh
Hai gã say sưa lạc nẻo về
Đắm giấc mơ tình trên nệm tuyết
Quanh người âu yếm lá mai che"

hay,

"Tuyết tan mai rụng còn đâu nữa
Dĩ vãng tìm đâu một chút ghi
Chăn gối đêm xưa nơi vực thẳm
Điêu tàn mang cả ái ân đi"

rồi,

"Mai Tuyết là hai nàng bạc mệnh
Lấy xuân làm mộ nắng làm tang
Nâng niu đưa tới nguồn say đắm
Chỉ một đêm đông gió phũ phàng."
("Hận Rừng Mai", VHC)

3) Với Sương Nguyệt Anh:

Khi viếng Điện Núi Bà hay Linh Sơn Thánh Mẫu, nơi thắng cảnh thiên nhiên rất hùng vỹ, uy nghi, trước những hàng mai trắng đang trổ hoa mừng xuân, nữ sĩ Thụy Khuê Sương Nguyệt Anh cảm tác hai bài thơ tiêu biểu là "Thưởng Bạch Mai Cảm Đề" và "Linh Sơn Nhất Thụ Mai" như sau:

"Non Linh đất phuớc trổ hoa nhân
Riêng chiếm vườn hồng một cảnh xuân
Tuyết đượm nhành tiên in sắc trắng
Sương pha bóng nguyệt ánh màu ngân
Mây lành gió lạnh nương hơi chánh
Vóc ngọc mình băng hắt khói trần
Sắc nước hương trời nên cảm mến
Non linh đất phước trổ hoa thần.
("Thưởng Bạch Mai Cảm Đề")

Và bài thơ Đường làm bằng hán tự khi xuân vịnh về tại Linh Sơn mà nữ sĩ Thụy Khuê đã cảm tác:

"Quỳnh tư ngọc cốt bản thiên chân
Tịnh độ cô liêu viên tục trần
Noãn nhập ám hương xuân dật từ
Hàn xung sơ ảnh nguyệt tà thần
Tuyết trung tự khước lưu phong vận
Phong ngoại ưng liên đạp tuyết nhân
Thừa hứng mạc hiếm sơn thủy viễn
Đồng lai dữ tử phú dương xuân".
("Linh Sơn Nhất Thụ Mai")

Bài thơ trên được thi sĩ Hi Đạm chuyển ngữ sang Việt ngữ:

"Ngọc quỳnh cốt cách trời ban
Đất tịnh trơ vơ lánh thế gian
Ấm áp hương đầm xuân buổi sớm
Lạnh lùng bóng nhạt nguyệt đêm tàn
Nghĩ thân ánh tuyết hơi sương đượm
Thương kẻ hài sương gót tuyết chan
Mến cảnh nước non xa chớ ngại
Cùng lên ngâm vịnh tứ xuân tràn."

4) Với Cao Bá Quát:

Thơ ông ca ngợi hoa mai như sau:

"Thập tái luân giao cầu cố kiếm
Nhất sinh đê thứ bái mai hoa."
(Mười năm chu du tìm gươm cổ
Cả đời chỉ cúi lạy hoa mai).

Cao tiên sinh cúi đầu lạy hoa mai một kiếp đời trân quí hoa mai.

5/ Với Nguyễn Du:

Nguyễn Du tiên sinh nhìn bộ đồ trà có cây mai làm đề tài. Nổi tiếng trong đương thời là bộ chén dĩa trà"Mai hạc" có câu thơ nôm trích trong truyện Kiều của Nguyễn Du:

"Nghêu ngao vui thú yên hà
Mai là bạn cũ, hạc là người quen."

Cây mai ở bộ tách uống trà này vẽ cành mai uốn cong rất nhiều hoa nở và một con chim hạc đứng trên bờ đá. Bộ trà mang màu men xanh ngọc và đề câu thơ chữ Hán "Hàn mai xuân tín tảo", tức là cành mai mùa lạnh báo tin xuân sớm về.

Thật ra văn hóa ấm trà còn nhiều lắm, tôi đọc tài liệu đâu dó mà nay đã quên. Nói chung trong văn hóa các loại sành sứ có dùng biểu tượng của hoa mai. Tính chất thanh nhã của loài hoa này đã đi vào văn hóa của dân tộc Việt Nam. Nghệ thuật hội họa cũng chọn mai làm bao đề tài cho mùa Xuân hay cho ngày Tết. Thơ văn hay hội họa xoay quanh 4 loài kiểng quí, hay nôm na là "tứ quí", mà hoa mai đã dân đầu: Mai, Lan, Cúc, Trúc. Các nhà Nho thường trang trí bộ tranh họa ngày xưa thời nho học thì hoa mai xuất hiện nhiều trong các bộ tranh vẽ qua nhiều kiểu khác nhau như mai bên hoa cúc, mai xen trong cành trúc hay mai lan song cặp,... bên cạnh là những dòng thơ ngắn bằng hán tự trong nét thư họa bay bướm và tất cả nói lên ý nghĩa cao quí của mùa Xuân về với chúng ta. Phải chăng hoa mai đã phô sắc diễm kiều, hoa mai đã đóng góp một sắc thái văn hóa dộc đáo cho dân tộc Việt Nam. Sự rực rỡ của màu hoa mai đang nở rộ trong ba ngày Tết thêm lá non nẩy lộc tươi mát mới là điềm thịnh vượng, phát lộc, phát tài và nó còn bao hàm ý nghĩa của sự hạnh phúc hay sung túc cho gia đình hay cho một đoàn thể hay một tổ chức thương mại nào đó nhân dịp đầu năm, khởi sự cho một chu kỳ mới của con người. Người người làm ăn phát đạt sung mãn của năm mới đang đến với xa hội nói chung.

Thi ca về hoa Mai còn nhiêu, tôi xin buớc sang lãnh vực âm nhạc. Ngày Xuân mới hay ngày Tết về làm phơi phới thiên nhiên, làm xôn xao không gian qua vai trò của âm nhạc.

Âm nhạc về hoa mai:

"Bông mai vàng thuở nàng còn trẻ
Trên lối đi về lắm kẻ đợi mong
Bây giờ tình đã sang sông..."
("Lý Bông Mai" - Kim Tuấn & Trương Quang Tuấn)

"Con biết bây giờ mẹ chờ tin con
Khi thấy mai vàng nở rộ bên sông..."
("Xuân Này Con Không Về" - Duy Khánh)

"Mùa xuân... tung tăng trên phố phường
Nhánh mai vàng... khoe sắc đưa hương"
("Bên Nhau Mùa Xuân", Lê Quốc Thắng)

"Anh cho em mùa xuân,
Nụ hoa vàng mới nở..."
("Anh Cho Em Mùa Xuân", Nguyễn Hiên)

Nhạc mừng Xuân mới hay mang âm hưởng vui tân niên có hoa mai còn nhiều lắm. Ta đã đi từ thơ Quách Tấn, Vũ Hoàng Chương, Sương Nguyệt Anh, Cao Bá Quát, Nguyễn Du đến âm nhạc Xuân của Nguyễn Hiền, tất cả đều nói đến nét đẹp của mùa Xuân kèm theo vẻ thanh tao của hoa mai, vì hoa mai đã hòa nhập vào nếp sống của dân gian. Hoa mai mặc nhiên góp phần cho văn hóa xã hội thăng hoa giá trị tâm hồn chúng ta vậy.



( PNM/Viet.no)



trả lời


Mùa Xuân và Hoa




trả lời


Mùa Xuân và Hoa


Tết Nguyên Đán

Nói đến Xuân hẳn mọi người đều nghĩ đến
Mai vàng rực nắng chim ca
Bánh chưng tràng pháo mọi nhà an vui.
Ngoài ra góp không ít nét đặc sắc cho mùa Xuân còn có mặt của các loài hoa khác như hoa đào, vạn thọ, sống đời, hướng dương, bát tiên, phong lan, sứ, cúc ... và các loại bonsai được uốn nắn đủ kiểu bởi bàn tay của các nghệ nhân, các loại hình nghệ thuật như viết thư pháp, múa lân, múa rồng, cờ người, múa cờ ... Và Xuân trở thành nơi hò hẹn của các thi nhân phóng bút đầu năm, những câu thơ nhẹ nhàng và hoa mỹ, những câu đối được treo liễn đỏ như một thứ bảo vật hiếm có được nâng niu, được quý trọng dành cho mùa Xuân với cả tấm lòng thân thương ...

Với nét đẹp truyền thống, mọi tinh hoa của đất trời, của con người được chắt lọc đều nảy nở vào dịp Xuân mang đến cho từng người, từng nhà một năm mới, một mùa Xuân hiền và tươi thắm với một ước mơ giản dị sống thanh bình no đủ mà thật gần gũi lắm bản chất mộc mạc của người dân Việt.

Mời quý anh chị nhâm nhi hương trà thơm ngát và từ từ thưởng ngoạn nét đẹp của Xuân trong những hình ảnh Tết mà PĐ sẽ lần lượt post ở các bài viết sau.




trả lời


Mùa Xuân và Hoa





Tết Dương Lịch & Tết Nguyên Đán

Phong tục về ngày Tết Nguyên Đán




1- Tổng Quát về Dương Lịch và Âm Lịch:

Năm Mới Dương Lịch hay Tết Dương Lịch, “Tết Tây”
bắt đầu vào ngày 1 tháng 1 Dương Lịch. Đó là ngày
đầu năm tính theo lịch Gregorian Calendar - do BS
Aloysius Lilius nước Ý đề nghị từ sự cải cách lịch Julian
Calendar. Lịch Gregorian calendar được sử dụng rộng
rãi tại nhiều quốc gia trên thế giới ngày nay, ngoại trừ
Do Thái vẫn sử dụng lịch Julian Calendar, ngày Tết sẽ
rơi vào 14 tháng 1 Dương Lịch (theo lịch Gregorian
Calendar). Cũng nên biết thêm lịch Julian Calendar là
cải cách của lịch La Mã. Những năm sau thời gian này
được ghi chú bằng chữ AD (anno Domini) hay CE
(Common Era - tiếng Việt dịch là Công Nguyên - CN).
Những năm trước thời gian này ghi là BC (Before
Christ) hoặc BCE (Before the Common Era). Những ghi
chú này thường gặp trong sách Lịch Sử.



Khoảng 4000 năm trước (2000 năm trước Công Nguyên - BC), người Babylon cổ
mừng ngày đầu năm theo mặt trăng, tức là ngày bắt đầu “Trăng Mới” (the first New Moon -
thường vào ngày đầu tiên thấy xuất hiện vành trăng non hình lưỡi liềm – đó là ngày đầu tiên
của mùa Xuân – Tương tự người Việt và người Tàu thường Cung Chúc Tân Xuân). Đây
chính là ngày bắt đầu mùa Xuân, ngày vạn vật hồi sinh sau những ngày đông tháng giá,
cây cối dâm chồi, nẩy lộc, nở hoa…ngày bắt đầu vụ mùa trong năm.

Như vậy ngày Tết Dương Lịch không liên quan gì đến Thiên Văn Học hoặc mùa màng.
Đó chỉ là cách tính toán số học cho tròn 365 ngày hoặc 366 ngày trong một năm (Theo mặt
trời nên gọi là dương lịch, tính trung bình một cách chính xác, một năm có 365 ngày, 5 giờ,
49 phút, 12 giây). Cũng theo lịch này, một năm chia ra 12 tháng với số ngày khác nhau
như sau: Các tháng 1,3,5,7, 8, 10, 12 có 31 ngày, còn tháng 4, 6, 9, 11 có 30 ngày. Đặc
biệt tháng 2 có 28 ngày mà thôi và cứ sau 4 năm thì tháng 2 lại có 29 ngày, đó là “tháng
nhuần” (vì 1 năm tính tròn là 365 ngày, sẽ dư ra 6 giờ, cứ 4 năm thì dư ra 24 giờ tức là 1
ngày, do đó có tháng 2 nhuần để trang trải số giờ dư thừa đó.)

Đối với dân tộc Việt Nam (tương tự người Tàu), ăn Tết theo âm lịch, nên ngày đầu năm
(Năm Mới hay ngày “Tết” Nguyên Đán do chữ “Tiết” Nguyên Đán - Nguyên là đầu tiên,
Đán là sáng sớm) khác với Tết Dương lịch (thường trong khoảng 21 tháng 1 đến 21 tháng
2 Dương Lịch - Mồng 1 Tết Kỷ Sửu rơi vào ngày 26 tháng 1 – 2009) và mỗi năm mang tên
một con thú. Thí dụ năm 2008 là Tết con Chuột (Mậu Tí), năm 2009 là Tết con Trâu (Kỷ
Sửu)... (cách tính ghép 10 Can với 12 Chi thành tên một năm: Thập Thiên Can là Giáp, Ất,
Bính, Đinh, Mậu, Kỷ , Canh, Tân, Nhâm, Quý với Thập Nhị Địa Chi là 12 con giáp: Tý, Sửu,
Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Theo cách ghép này, cứ hết 1 vòng là
60 năm. Đối với Dương Lịch, ngày và đêm cộng chung là 24 giờ. Nhưng đối với âm lịch, lại
phân biệt “đêm 5 canh, ngày 6 khắc” (Đêm bắt đầu từ 7 giờ tối đến 5 giờ sáng tức là 10
tiếng đồng hồ. vậy mỗi canh là 2 tiếng đồng hồ. Còn ngày bắt đầu từ 5 giờ sáng đến 7 giờ
tối, tức là 14 tiếng. Vậy mỗi khắc là 2 giờ 20 phút.)
Giờ Tí là nửa đêm “Nủa đêm giờ Tí canh ba”. Chính Ngọ là 12 giờ trưa.

Năm canh:
“Canh Một (7:00 PM-9:00 PM) dọn cửa dọn nhà
Canh hai dệt cửi, canh ba đi nằm
Canh tư bước sang canh năm
Trình anh dậy học thôi nằm mà chi
Một mai chúa mở khoa thi
Bảng vàng chói lọi kia đề tên anh…
Bõ công cha mẹ sắm sanh,
Sắm nghiên sắm bút cho anh học hành”.

Tuy rằng ta theo lịch Tàu và chịu ảnh hưởng văn hóa Tàu rất nặng nề, nhưng Triều Đình
VN xưa cũng có tòa Khâm Thiên Giám xem thiên văn làm lịch riêng, không phải hoàn toàn
chép theo lịch Tàu. Cũng vì thế, 12 con giáp của ta khác Tàu như: năm Mão hay mẹo là
năm con mèo (Tàu là năm con thỏ), Năm mùi là con dê khác Tàu (con cừu), năm sửu là con
trâu, khác Tàu (con bò). Các quan trong tòa Khâm Thiên Giám quan sát sao Bắc Đẩu, lấy
khởi điểm ở tháng Dần làm tháng Giêng, lúc chuôi sao Bắc Đẩu chỉ về hướng Dần, cho đến
tháng 12, chuôi sao Bắc Đẩu chỉ về hướng Sửu. Tết Ta và Tết Tàu khác nhau vào các năm
1985 (Tết Ta vào 21 Jan., Tết Tàu vào 20 Feb.), năm 2007 (Tết ta vào 17 Feb. Tết Tàu vào
18 Feb.), năm 2030 (Tết Ta sẽ vào 2 Feb. Tết Tàu sẽ vào 3 Feb.)…

Người Thái Lan ăn Tết (Songkran) theo Phật lịch, mồng 1 Tết vào ngày 15 tháng tư là ngày
Đức Phật đản sinh (ăn Tết từ 13-15 tháng tư AL và có tục tắm Phật và té nước vào nhau lấy
hên). Một số nước như Iran hoặc theo đạo Hindu ăn Tết vào tháng 3 DL. Năm Mới đối với
người theo đạo Hồi (ngày 1 Muharram theo lịch Hồi giáo) thường sớm hơn Tết Dương Lịch
11 ngày.

Ngày Tết Dương Lịch thường tổ chức đốt pháo vào nửa đêm New Year's Eve (tương tự
đêm Giao Thừa Tết VN gây tiếng động đuổi tà ma) và tổ chức diễn hành vào sáng mồng
một Tết (Diễn hành Hoa Hồng - Roses Parade tại Pasadena, California hàng năm. Cộng
Đồng Việt Hải Ngoại cũng tổ chức diễn hành tại khu Bolsa, thành phố Westminster). Ngoài
ra, buổi sáng mồng một Tết DL, mọi người thường chúc tụng nhau “Happy New Year”, uống
rượu mừng năm mới (uống rượu không được lái xe). Trong thời gian Lễ Giáng Sinh và ngày
Tết DL dân chúng thường đi “shopping” vì có nhiều hàng “sale”có khi tới “ 75% off” trong
dịp này.

Ngoài phong tục đốt pháo mừng năm mới, còn có tục “countdown”, đếm ngược số từ 10
đến 1 trước giờ bước sang năm Mới, mở rượu “champagne” chúc mừng nhau.

• Ngày Tết Dương Lịch tại Anh và Scotland có chơi football.
• Tại Mỹ có Rose Bowl football game và Roses Parade tại Pasadena
• Tại nước Áo (Austria) có hoà nhạc
• Polar Bear Clubs có tục lệ tắm nước giá băng vào ngày Tết Dương Lịch (từ 1903).
• Người theo đạo Hindu ăn Tết bằng cách tôn kính cha mẹ và người lớn tuổi.(Tham
khảo Wikipedia).

2- Tết Nguyên Đán

a- Sửa soạn Tết – Mua Sắm Tết: Tết Nguyên Đán là ngày rất trọng đại nên người VN
chuẩn bị ăn Têt rất kỹ lưỡng, thường hàng tháng trước, có khi hàng năm trước (nhất là tại
thôn quê), như:
- Lá, lạt gói bánh chưng (bánh tét trong Nam)
- Nuôi heo, gà đến Tết mổ thịt (nhà nghèo có thể chung nhau nhiều nhà một con heo
gọi là đụng thịt), vì thế, ngày Tết nhà nào cũng có thịt heo, gà trong nhà:
“Số ông không giàu thì nghèo”
“Đêm ba mươi Tết thịt treo trong nhà”
Hay câu đối:
“Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ”
“Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh”. (trong Nam thay dưa hành bằng dưa món và
thường có món thịt kho hột vịt, cá thu kho, bánh tét…
- Có nơi đi chợ Tết thường mua 2 cây mía về để bên bàn thờ để làm gậy ông vải ...
- Mua vàng hương cúng Tết.
- Mua hoa trưng Tết (Bắc hoa đào, Nam hoa Mai), hoa Thủy Tiên, hoa Lan, Cúc Vạn
Thọ Đại Đóa, chậu quít hay kim quất, Lay Ơn…tại chợ hoa như tại chợ hoa Nguyễn Huệ ở
Sài Gòn hay chợ Hoa gần khu Phúc Lộc Thọ tại Little Sài Gòn.
- Mua sắm quần áo mới nhất là cho trẻ em
- Mua tranh Tết như Tranh Đông Hồ, pháo, câu đối Tết do ông Đồ biết chữ Nho viết
(xưa):

Ông Ðồ
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tầu giấy đỏ
Bên phố đông người qua.
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay!
Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu!
Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài trời mưa bụi bay.
Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ? (Vũ Đình Liên -1936).

Câu đối Tết:

“Chiều ba mươi, nợ réo tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa”
“Sáng mồng một, rượu say túy lúy, , giơ tay bồng ông Phúc vào nhà.” (Nguyễn Công Trứ)

- Mua thực phẩm đủ dùng cho 3 ngày Tết (hay nhiều hơn vì chợ và cửa hàng đều
đóng cửa có khi cả tuần lễ, sau khi chọn được này tốt mới mở cửa lại).
Cũng vì thế, chợ Tết rất đông: đông như chợ Tết.
- Dọn dẹp sạch sẽ cửa nhà, bàn thờ, đánh bóng đỉnh đồng…
- Dựng nêu (ở thôn quê, trên ngọn nêu buộc vàng mã, khánh bằng đất nung…) trễ
nhất vào 30 Tết, rắc vôi bột, vẽ cung tên, bàn cờ để đuổi tà ma, xác định nhà có chủ…
- 23 tháng chạp (tháng 12 âm lịch) lễ tiễn Ông Táo về Trời để tâu trình việc gia
chủ, việc thế gian...(Sự tích Táo quân hai ông một bà…Xưa có 2 vợ chồng nhà kia, vì người
chồng phải đi xa làm ăn, mãi không về. Người vợ tưởng chồng đã chết nên tái giá. Một hôm
người chồng cũ đi ăn xin qua nhà. Người vợ biết được, rất thương sót, lấy cơm cho ăn và
quần áo cho mặc. Chẳng may người chồng mới trở về. Người vợ sợ bị hiểu lầm nên dấu
người chồng cũ vào đống rơm rạ ngoài sân. Người chồng mới vô tình đốt rơm để làm phân
bón. Người chồng cũ chết cháy. Người vợ thương tâm nhẩy vào đống rơm cứu và bị chết.
Người chồng mới cũng nhẩy vào đống lửa cứu vợ và cũng bị chết cháy. Ngọc Hoàng biết
chuyện 3 người có nghĩa và chung thủy nên cho làm Vua Bếp hay Táo Quân)
- Biếu Tết: Biếu Tết ông bà, cha mẹ, Thầy dạy học, Thày thuốc…“sêu” Tết nhà vợ
chưa cưới, biếu quà cho ân nhân hay người giúp việc (tương tự bên Mỹ thường tặng quà
cho Mailman…nhân dịp Giáng Sinh hay Tết Dương Lịch).

b- Đêm Giao Thừa, Lễ Trừ Tịch: Trừ là trao lại chức quan, tịch là ban đêm. Dân chúng tin
tưởng mỗi năm có một vị thần Hành Khiển và một phụ tá là Phán Quan trông coi việc thế
gian, và bàn giao công việc vào lúc nửa đêm giao thừa, sau 12 năm mới trở lại (có thần
hiền và thần ác, cúng lễ giao thừa thường bày ngoài sân.)
Người ta đi lễ rất đông (lễ giao thừa hoặc sáng mồng một Tết) tại Chùa , Lăng Ông tại
Sài Gòn (Tả quân Lê Văn Duyệt), Các Chùa tại Little Sài Gòn, Orange County… Sau khi đi
lễ về có tục hái lộc lấy hên.

c- Kiêng cữ ba ngày Tết: Để tránh xui sẻo cả năm (rông hay giông), người ta tránh:
- Kiêng nói những câu xui sẻo, không nói con khỉ, con hùm.
- Kiêng đánh vỡ chén bát, đổ ống điếu, dầu hôi (xưa)
- Kiêng cãi nhau, đánh nhau (trẻ em kiêng khóc)
- Kiêng mặc áo quần mầu trắng (mầu tang)
- Kiêng ăn thịt vịt đầu năm sợ xui. Kiêng sát sinh.
- Kiêng quét nhà (sự tích người lái buôn qua hồ Thanh Thảo được Thủy thần tặng cho một
hầu gái là Như Nguyện, nên giàu có. Một lần vào ngày Tết, người lái buôn đánh nó nên nó
chui vào đống rác rồi biến mất. Từ đó người lái buôn lại nghèo như cũ). Có nhiều địa
phương kiêng tắm vào ngày mồng một Tết (nên có tục tắm tất niên).
- Đầu năm đến nhà ai, chủ mời ăn bánh mứt, hạt dưa, uống trà, rượu…cũng nên nhấm
nháp một chút lấy thảo. Nếu từ chối, gia chủ sẽ không vui vì bị giông cả năm (việc làm
không hanh thông).

d- Cúng lễ ba ngày Tết: Tối 30 Tết làm cỗ đón Ông Bà về ăn Tết. (xưa đốt pháo), sau đó
đèn nhang thắp suốt 3 ngày Tết, mỗi bữa đều có cơm cúng ông bà cho tới khi “hóa vàng”
mới thôi. (Tập tục mỗi nhà nấu bánh chưng, từ chiều 29 hay 30 Tết, kể chuyện ma, đánh
bài Tam Cúc…trong khi canh nồi bánh chưng…là những kỷ niệm rất thú vị và khó quên.

e- Đi Lễ Chùa và đi chúc Tết Bố mẹ ruột, Bố mẹ vợ, Thầy dạy học và bạn thân:
“Mồng một thì ở nhà cha
Mồng hai nhà vợ, mồng ba nhà Thầy.”
Chúc mừng những câu tốt đẹp gọi là “mừng tuổi”, cho các em bé tiền “mừng tuổi”, “mở
hàng” hay “lì xì” đựng trong bao giấy đỏ.
Ngoài những câu chúc Tết tốt lành, những người gánh nước thuê mướn (xưa) còn mang
nước đến nhà đổ vào lu để chúc Tết, có ý nói tiền sẽ vào nhiều như nước.

f- Xông đất - Xuất hành – Khai bút:
Tục lệ xông đất vẫn còn thịnh hành ở nhiều nơi. Người ta tin rằng được người tốt, nhanh
nhẹn, hiền hậu, có nhiều con cháu…xông đất sẽ may mắn suốt năm.
Xuất hành theo hướng tốt không còn hợp thời ở thành thị, vì lái xe ra đường phải tuân theo
luật lệ giao thông, không thể chọn hướng.
Tục lệ khai bút vẫn thấy ở các nhà thơ văn:
“Đầu năm khai bút…bút khai hoa…”

g- Hội Chợ Tết: Là nơi gặp gỡ của mọi người, mọi gia đình đến đây vui xuân. Ở Việt Nam,
Thành Phố Sài Gòn có Hội Chợ Tết (ở vườn Hoa Tao Đàn), vừa mua bán hàng Tết, nhất là
Hoa Tết, vừa vui xuân. Hội Chợ Tết tại Hải Ngoại thường do Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam tổ
chức hàng năm tại Garden Grove Park, chỉ với mục đích gìn giữ phong tục tập quán tốt đẹp
của người Việt, gặp gỡ vui chơi, không mang tính thương mại.
(Tham khảo: Việt Nam Phong Tục – Phan Kế Bính, Đất Lề Quê Thói - Nhất Thanh Vũ Văn
Khiếu, Wikipedia & tài liệu trên internet)


http://www.hungsuviet.us/vanhoa/TetDuongLichvaTetAmLich.html



trả lời


Mùa Xuân và Hoa




Chùa Hương

Ngôi chùa được xây dựng với quy mô chính vào khoảng cuối thế kỷ 17.


Kiến trúc

Đường xuống hang chùa là một dốc gồm 120 bậc lát đá. Vách trước cửa động có năm chữ Hán 南天第一 (Nam thiên đệ nhất động) khắc năm 1770, là bút tích của Tĩnh Đô Vương - Trịnh Sâm (1767-1782).

Vào trong động vẻ đẹp lạ thường của những nhũ đá tưởng như những công trình điêu khắc tuyệt tác của thiên nhiên. Nhũ đá ở đây có khối to, có khối nhỏ, có cái đẹp ở toàn khối, có cái đẹp ở dáng dấp tinh vi, có cái rủ từ trên trần xuống, có cái mọc từ dưới đất lên. Tất cả đều tùy theo hình dáng mà được đặt những cái tên rất trần thế, biểu hiện những mơ ước của con người. Trước hết là Đụn Gạo đồ sộ, bước vào cửa động đã trông thấy. Gạo là cái quan trọng hàng đầu nên Đụn Gạo trong động nhà Phật cũng ở vào vị trí hàng đầu. Dưới chân Đụn Gạo có một hõm đá nhỏ xíu gọi là Cối Giã. Gần Đụn Gạo là Núi Cô và Núi Cậu. Núi Cô nhỏ hơn Núi Cậu nhưng giống nhau ở chỗ có những hình em bé nằm nghiêng, nằm sấp hoặc đang bò lổm ngổm, đầu nhẵn thín. Núi Cậu ngang tầm với Sữa Mẹ quanh năm suốt tháng rỏ xuống không ngừng.

Cùng một hàng dọc với Núi Cô, Núi Cậu và lui vào phía trong là Cây Bạc, Cây Vàng ngồn ngộn chất chứa những hình tròn như những đồng tiền vàng bạc lấp lánh. Vào trong góc động gần tận cùng sẽ thấy Chuồng Lợn, Ao Bèo, Nong Tằm, Né Kén... Toàn là những hình ảnh bằng nhũ đá. Trên trần động thạch nhũ còn nhô ra thành hình chín đầu rồng sinh động gọi là tòa Cửu Long.

Giá trị nhất về mặt nghệ thuật điêu khắc, không những trong chùa Hương mà kể cả trong toàn bộ hệ thống chùa chiền ở Hương Sơn là pho tượng Phật Quan Âm bằng đá xanh tạc vào thời Tây Sơn. Pho tượng bằng đá, có dáng người thon thon, mặt trái xoan, nét thanh tú, đầu đội mũ Tì Lư (tức là mũ Bồ Tát) nhưng lại có búi tóc và tóc mai, sau lưng có hai món tóc buông xuống. Tượng ngồi ở tư thế đặc biệt, tay phải cầm viên ngọc minh châu, chân trái duỗi, đặt trên một bông sen nở, chân phải co, dưới chân cũng có một bông sen. Theo bài ký khắc trên đá năm 1806 thì pho tượng này được tạc năm 1793.

Trong động Hương Tích còn có quả chuông đồng cao 1,24 m, đường kính đáy 0,63 m đúc năm Thịnh Đức thứ 3 (1655).

Chùa Hương là thắng cảnh có doanh thu lớn trong ngành du lịch ở Hà Tây cũ.


Chùa Hương và văn học

Chùa Hương là nguồn gợi hứng cho nhiều tác phẩm thi ca Việt Nam, trong số đó nổi tiếng nhất có lẽ là bài hát nói "Hương Sơn phong cảnh ca" của Chu Mạnh Trinh, làm từ thế kỷ 19, xưa nay rất được ca ngợi:

Bầu trời cảnh bụt
Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay
Kìa non non, nước nước, mây mây
"Đệ nhất động" hỏi rằng đây có phải!
Thỏ thẻ rừng mai chim cùng trái
Lững lờ khe Yến cá nghe kinh
...
Nhác trông lên ai khéo họa hình
Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt
Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt
Gập ghềnh mấy lối uốn thang mây?...
và bài "Chùa hương" của Nguyễn Nhược Pháp, làm vào thế kỷ 20. Bài này đã được ít nhất 2 nhạc sĩ phổ nhạc là Trần Văn Khê và Trung Đức :

Hôm qua đi chùa hương
Hoa cỏ mờ hơi sương
Cùng thầy me em dậy
Em vấn đầu soi gương
...
Trong bài này ngoài những câu thơ nhí nhảnh như trên, còn có nhiều câu tả cảnh Hương sơn rất sinh động: Réo rắt suối đưa quanh/Ven bờ ngọn núi xanh/Nhịp cầu xa nho nhỏ/Cảnh đẹp gần như tranh/Sau núi oản -gà-xôi/Bao nhiêu là khỉ ngồi/Đến núi con voi phục/Thấy đủ cả đầu đuôi/Chùa lấp sau rừng cây/(Thuyền ta đi một ngày)/Lên cửa chùa em thấy/Hơn một trăm ăn mày...

Tản Đà rất mến cảnh chùa Hương, ông làm nhiều câu thơ rất đặc sắc về cảnh và tình ở đây:

Chùa Hương trời điểm lại trời tô
Một bức tranh tình trải mấy Thu
Xuân lại xuân đi không dấu vết
Ai về ai nhớ vẫn thơm tho.
Ông còn có 1 bài thơ nổi tiếng về món đặc sản ở chùa Hương:

Muốn ăn rau sắng chùa Hương
Tiền đò ngại tốn, con đường ngại xa
Mình đi, ta ở lại nhà
Cái dưa thì khú cái cà thì thâm.
Về văn xuôi, có bút ký Trẩy hội Chùa Hương của Phạm Quỳnh...

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương tương truyền là tác giả bài thơ vịnh động Hương Tích như sau[1]:

Bày đặt kìa ai khéo khéo phòm
Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom
Người quen cõi Phật quen chân xọc
Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm
Gọt nước hữu tình rơi thánh thót
Con thuyền vô trạo cúi lom khom
Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại
Rõ khéo Trời già đến dở dom.



http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%B9a_H%C6%B0%C6%A1ng



trả lời


Mùa Xuân và Hoa










trả lời


Mùa Xuân và Hoa




trả lời


Mùa Xuân và Hoa


Hội Hoa Xuân ở Tao Đàn

Các tác phẩm bonsai, lan, sứ, đá, gỗ ... của các nghệ nhân.

Nắng chiều ôm dáng bonsai
Tướng thô kệch cỡm mà say lòng người





Thế Long Giáng Whoa
whoa Rồng đáp xuống với đầy đủ đuôi đầu, mây vây quanh . Đầu có đủ hai râu . Uốn thân rất mềm mại . Ngắm sẽ thấy được vẽ hùng mạnh của con rồng và uyển chuyển khi nó đáp xuống . Cây được trưng ở sân trước, hoặc trong phòng khách . TUYỆT ĐẸP
Chú thích : Mạc Thủy



trả lời


Mùa Xuân và Hoa


Thế Hạc Lập
Thế này uốn theo hình con chim hạc đang xếp cánh đứng ngẩng đầu . Hai cánh và đuôi không xòe , cành ôm vào thân cây, ngọn vươn cao, thân hạc dài . Thế này biểu hiện lòng tự tin, khiêm tốn, và bền chí .
Chú thích : Mạc Thủy



Thế Nghinh Phong
Gốc nhô khỏi đất như bị gió lốc, thân uốn cong như long thân và hồi đầu . Biểu hiện cam đảm không sợ khó khăn .
Chú thích : Mạc Thủy



Thế Trực Quân Tử Liên Chi
kết hợp với đặc sắc của bonsai VN (cảnh rừng/ làng xóm) -- Hy vọng cây sẽ được giải nhất về sự kết hợp hài hòa của loại cây, tạo dáng và tạo cảnh . Cây chính mọc thẳng và lớn tượng trưng cho mẹ. Tàn và nhánh của cây mẹ vươn ra che chở cho cây con .Cây con lại đủ tàn lá và độc lập nhưng lại quây quần xung quanh cây mẹ như một gia đình . Biểu hiện cho tình yêu và gia đình .
Chậu cảnh này có hai cây chính tượng trưng cho cha mẹ và những cây con xung quanh, to nhỏ như một đại gia đình với đông đủ cháu chắt . Loại cây là mai chiếu thủy có mùi thơm nồng nàn, thanh thoát, hoa trắng nở quanh năm làm cho đậm ý nghĩa của yêu thương gia đình . Perfect . A+++++
Chú thích : Mạc Thủy



trả lời


lên trên