Diễn Đàn                 <<< tìm >>>                 BÀI MỚI . muc luc . vào



Vũ Hối: Thi và Thư họa



THƯ HỌA ĐẦY TÌNH NGƯỜI CỦA VŨ HỐI

Biên soạn: Phan Anh Dũng



Bút hiệu: Hồng Khôi.
• Sinh ngày 22-11-1932 tại Quảng Nam.
• Giải Khôi Nguyên Hội Họa Quốc Tế tại Hoa Kỳ, 1963.
• Có tên trong Tự Điển Văn Học thời Việt Nam Cộng Hòa.
• Sáng lập Trường Phái “Luân Vũ Họa” (Paintings in Motion) và Thư Họa (Handwriting Painting).
• Trong Vẻ Vang Dân Việt II (The Pride of The Vietnamese Edition II).
• Trong International Biographical Dictionary, London, Anh Quốc, ấn hành năm 1998.
• Được vinh danh về Sáng Tạo Nghệ Thuật trong Đại Hội Mỹ Thuật Thế Giới ở Atlanta, Hoa Kỳ (5-11-1994)
• Được Tổng Thống Tiệp Khắc Vacla Havel tiếp kiến và nhận tranh “The Dream of Peace” tại Dinh Tổng Thống (5-9-1995)
• Có tên trong Tự Điển Thi Ca Anh Việt Mỹ do Đại Học Đông Nam xuất bản năm 1998.

ĐÃ XUẤT BẢN:

Mùa Giao Cảm (1958)
Vần Thơ Mầu Trắng (La Poésie de Couleur Blanche), phiên dịch ra Pháp, Anh Văn.
Chiêm Bao Trở Giấc - Thơ (1997)
Nghìn Thương Đất Mẹ - Thơ & Thư Họa (1999)
Truyện Kiều Nguyễn Du Thư Họa (2003)


************************************
Mời nghe Trường Kỳ giới thiệu Vũ Hối - Thi và Thư họa:

Vũ Hối: Thi và Thư họa :

http://www.voanews.com/vietnamese/archive/2005-07/2005-07-28-voa17.cfm



trả lời


Vũ Hối: Thi và Thư họa


--------------------------------------------------------------------------------



Bài Nói Chuyện Của Giáo Sư ĐÀM TRUNG PHÁP
Trong Dạ Tiệc Mừng
Nửa Thế Kỷ Văn Học Và Nghệ Thuật Vũ Hối
Tại Westin Galleria Hotel, Dallas, Ngày 27-5-2007


* * *

Từ khi được gặp danh họa quốc tế Vũ Hối lần đầu trong Ngày Văn Hóa Quảng Đà tại Dallas vào mùa xuân 2003, lòng mến mộ của tôi dành cho Vũ quân mỗi ngày một thêm đậm đà. Các cụ ngày xưa thường nói “vô tri bất mộ” là thế, và nếu nói theo kiểu người Mỹ ngày nay thì “to know him is to love him.” Tôi ngưỡng mộ tài năng của Vũ quân bao nhiêu thì tôi cũng trân quý nhân cách và tấm lòng Vũ quân bấy nhiêu.

Quả thực, những điều dễ thương nhất về nhân sinh đều có thể tìm thấy được trong phong cách sống của Vũ quân. “Tứ hải giai huynh đệ” có lẽ nổi bật nhất. Vũ quân có nhiều bạn thân thiết như thể anh em ruột thịt trong nhà ở khắp mọi nơi, nhất là ở thành phố Dallas này. Sự hiện diện đông đảo của quan khách hôm nay chứng minh điều đó. Có nhiều anh em trong bốn bể thì cung “thiên di” trong tử vi của Vũ quân phải năng động lắm. Vài bạn trẻ đã giải thích với tôi một cách trìu mến trong vui đùa rằng: “Chú Vũ Hối ít đi du lịch lắm. Mỗi năm chỉ đi có hai lần thôi, và mỗi lần đi thì đi luôn sáu tháng!” Vũ quân đông anh em mọi nơi vì Vũ quân đôn hậu, khiêm cung, và nhất là vì chữ “tâm” viết bằng đại tự trong nhân cách Vũ quân.

Vũ quân đôn hậu và khiêm cung thực sự. Hai lần tôi được Vũ quân tặng sách, và trên trang đầu mỗi cuốn sách lộng lẫy làm quà văn nghệ đều được Vũ quân viết những lời đề tặng khả ái qua nét chữ rồng bay phượng múa. Tôi ngỏ lời tri ân thì Vũ quân chỉ khiêm cung từ chối và thì thầm “có gì đâu mà ơn với huệ, hả anh?” Nhà danh họa này cũng có quà tặng thư họa cho vô số bạn bè mà tôi quen biết, tất cả những món quà đó đều kèm theo những lời khen tặng chân thành từ trái tim hiền hòa như Phật của ông. Bản chất đôn hậu của Vũ quân cũng hiện lên trong các họa phẩm, cho nên các khuôn mặt phụ nữ trong các bức tranh “Ngây Thơ”, “Tình Mẫu Tử”, và “Thiếu Nữ và Bồ Câu Trắng” qua nét cọ của Vũ quân đều vừa đẹp vừa hiền một cách lạ kỳ!

Nhưng con người có trái tim Phật ấy cũng là một con người “uy vũ bất năng khuất” khi cần thiết. Trong trại tù cải tạo, vì nhất quyết không chịu khai báo, Vũ quân đã bị công an cộng sản tàn bạo tra tấn hỏng một con mắt. Lẽ thường, theo lời nhà văn William Butler Yeats (giải Nobel văn chương 1923) thì “Hy sinh lâu quá có thể biến trái tim thành đá” (“Too long a sacrifice can make a stone of the heart”). Nhưng trái tim Vũ Hối, dù đã hy sinh lâu ngày trong lao tù cộng sản, không hề biến thành chai đá và cũng không hề mang chút cay đắng nào. Thi nhân họ Vũ, nếu có buồn về đại họa nước mất nhà tan, thì cũng chỉ trách móc chung chung mà thôi, như đoạn sau đây trong bài “Bức Tranh Sông Núi”:

Trách ai tình nước như vôi
Thù nhà nợ nước buông trôi giữa dòng
Bỏ bao chiến hữu long đong
Bỏ hình chữ S đường cong quê mình

Hôm nay, trong buổi vinh danh một nhân tài đất nước, tôi xin nói đôi chút về chữ “tâm” trong thơ của Vũ Hối. Tôi lựa thơ để hầu chuyện quý vị vì tôi tin rằng trong thơ, tài năng và tâm can của thi nhân bộc lộ chân thành với nhiều sáng tạo hơn ở các thể loại văn chương khác, và cũng vì tôi tin rằng làm thơ và đọc thơ có thể thăng hoa đời sống tinh thần và đạo đức chúng ta.

Sau những đầy đọa nơi quê nhà, Vũ quân đã lấy lại được bình an tâm hồn tại xứ người và làm thơ tưởng nhớ cố hương. Nhiều câu lục bát ngọt ngào chứa chan tình tự dân tộc của ông khiến tôi nghĩ đến Tản Đà, một thi bá nặng tình non nước. Hai câu đầu và hai câu cuối trong bài thơ “Thề Non Nước” của Tản Đà thực tuyệt diệu:

Nước non nặng một lời thề,
Nước đi đi mãi không về cùng non
……….

Nghìn năm giao ước kết đôi,
Non non nước nước chưa nguôi lời thề

Ý nguyện giao ước muôn đời ấy cũng được Vũ Hối trang trọng viết lên để mở đầu cho bài “Bức Tranh Sông Núi”:

Núi sông còn mãi bên nhau,
Phải chăng núi thích lao xao vỗ về
Hay là sông núi muốn kề,
Để cho sông khỏi bốn bề quạnh hiu

Trong số những bài thơ đậm nét chữ “tâm” của Vũ quân, tôi chuộng nhất bài “Vòng Hoa Biển Mẹ” đã được đăng trong tạp chí Viên Giác số tháng 8 năm 1997 của Trung Tâm Văn Hóa Xã Hội Phật Giáo Việt Nam tại Đức Quốc. Đây là một bi khúc (elegy) có thể làm đứt ruột người nghe. Bi khúc này đã được người bạn văn nghệ đa tài Phan Đình Minh của tôi phổ nhạc, và lát nữa đây người bạn đời khả ái của Minh là ca sĩ Ánh Chi sẽ hát bản nhạc đó cho chúng ta cùng thưởng lãm.

Biển cả là một bối cảnh hùng vĩ và hiểm nguy trong văn chương nhân loại, như chúng ta đã thấy trong tiểu thuyết “The Old Man and the Sea” (“Ngư Ông và Biển Cả”) của Ernest Hemingway (giải Nobel văn chương 1954). Bi khúc lẫy lừng danh tiếng “Oceano Nox” (“Đêm Đại Dương”) do thi hào Victor Hugo viết năm 1840 có nội dung rất gần với bài thơ của Vũ quân, với sự khác biệt là những nạn nhân trong cuộc. Với Victor Hugo, đó là những “thủy thủ và thuyền trưởng” (“marins et capitaines”) trong các cuộc hải hành hạnh phúc nhưng bị mạng vong để lại bao sầu bi cho thân nhân, nhưng với Vũ quân đó là những “boat people” Việt Nam đau khổ, bắt buộc phải rời bỏ quê nhà, lênh đênh trên biển cả hiểm nguy trên đường đi tìm tự do. Đoạn đầu bài thơ bất hủ bằng tiếng Pháp ấy đã được dịch giả Đặng Trần Niết chuyển sang thơ Việt rất chỉnh như sau:

Ôi! Biết bao trưởng thuyền, thủy thủ,
Cuộc viễn hành vui thú ra khơi,
Xa xa buồn thảm chân trời
Tiêu tan thân thế thiệt đời nam nhi!
Ác nghiệt thay, khốn vì bạc phước
Biết bao người đáy nước mạng vong
Màn đen bao phủ mịt mùng
Thân vùi biển cả nghìn trùng đêm thâu.

Mới đây hơn, dùng Biển Đông như một biểu tượng cho “thủy mộ” của hàng vạn thuyền nhân Việt Nam xấu số, Viên Linh trong “Thủy Mộ Quan” xuất bản năm 1982 đã viết:

Đời sau vét biển Thái Bình Dương
Thợ lặn tìm ra vạn cốt xương
Hậu thế áng chừng ta động đất
Nền văn minh cổ cũng điêu tàn

Nhà thơ Vũ Hối của chúng ta đã đi xa hơn những lời thương xót trong các bài thơ vừa kể, vì trong “Vòng Hoa Biển Mẹ” Vũ quân đã cho thêm một hành động tuyệt luân vào – đó là khi nhà thơ “ngụp mặt vào biển mặn” mà “khóc người thương, vùi thây Biển Mẹ”! Độc giả sẽ thấy hiện lên trong bài thơ một hình ảnh cực kỳ xúc động của một nghệ sĩ cô đơn ra biển ba lần vào buổi chiều để chiêu niệm những vong hồn thuyền nhân mà thân xác chìm sâu đáy biển. Lần thứ nhất, chàng viết một bài thơ trên cát để rồi sóng biển xóa đi. Lần thứ hai chàng vẽ một vòng hoa trên cát để rồi sóng biển cũng xóa đi – luật “vô thường” là thế. Rồi lần thứ ba, người nghệ sĩ có trái tim Phật ấy ra biển để thực hiện một lễ nghi tôn giáo ngập tràn nước mắt. Chàng “ngụp mặt vào biển mặn” để hòa mình vào thủy mộ của các nạn nhân và nhờ hồn thiêng của biển cả chuyển dùm đi “lệ cho Người, lệ đổ khóc quê hương”.

Bài chiêu hồn ca đẫm lệ ấy của Vũ quân ngoài bố cục chặt chẽ và nhiều biểu tượng như vừa tả còn có sự sử dụng ngôn ngữ trong sáng, yếu tố tương phản (“biển đông người” tương phản với “sao tôi thấy quá lạc loài”), yếu tố nhân cách hóa từ bi khiến sóng nước lạnh lùng bỗng trở thành “Biển Mẹ” bao che, sự kiểm soát nhịp điệu cũng như chiều dài các câu trong bài thơ sao cho phù hợp với mức độ xúc cảm trong tim thi sĩ. Các câu ngắn nhất Vũ quân dành cho những tiếng nấc nghẹn ngào trong đoạn kết bài thơ:

Ôi! Đại dương hỡi!
Có linh thiêng xin gởi
Lệ cho Người
Lệ đổ khóc quê hương!

Như tôi đã nói bên trên, những điều dễ thương nhất về nhân sinh đều có thể tìm thấy được trong phong cách sống của Vũ quân. Để kết luận bài nói chuyện đêm nay, tôi xin thêm hai câu thơ trong phần cuối của Truyện Kiều dưới đây, vì tôi thấy chúng đúng là phương châm cuộc sống của Vũ quân:

Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài!

Thấm thía thay, vị đệ nhất thiên tài dân tộc Nguyễn Du mà còn đánh giá chữ “tâm” gấp bội chữ “tài”! Vũ quân ơi, có lẽ thi thánh Nguyễn Du từ nơi cửu tuyền đang mỉm cười với Vũ quân đấy!

(Trích từ Khoahoc.net)



trả lời


Vũ Hối: Thi và Thư họa




trả lời


Vũ Hối: Thi và Thư họa


Vũ Hối 50 Năm Văn Học & Nghệ Thuật






‘Vũ Hối 50 Năm Văn Học & Nghệ Thuật’



TUYẾT MAI . Việt Báo Thứ Năm, 8/6/2009, 12:00:00 AM




Virginia - Một nhóm thân hữu vùng Hoa Thịnh Đốn đã tưng bừng tổ chức Chương trình Thơ Nhạc kỷ niệm “Vũ Hối 50 năm Văn Học &Nghệ Thuật” vào lúc 1 giờ trưa ngày 2 Tháng 8, 2009 tại Nhà Hàng Harvest Moon, Falls Church, VA.
Mặc dầu Virginia là quê huơng thứ hai của Thư Thi Họa sĩ Vũ Hối kể từ khi ông đến định cư tại Hoa Kỳ, nhưng nhiều thành phố lớn như New York, NY; Houston, Texas; San Jose, CA và Dallas, Texas đã trang trọng tổ chức “Ngày Vũ Hối” để vinh danh ông, được đông đảo đồng hương thương mến đến tham dự. Bây giờ mới đến lượt Virginia. Thường những sinh hoạt văn học tổ chức vào trưa Hè cuối tuần rất vắng vẻ vì có nhiều ngừơi đi nghĩ Hè, đi biển hay đi picnic, nhưng thật là một ngạc nhiên thích thú, Chương trình Thơ Nhạc kỷ niệm 50 năm Văn Học - Nghệ Thuật của Ông Vũ Hối đã thu hút khoảng bốn trăm thân hữu xa gần đến chung vui, chúc mừng ông. Đặc biệt trong số thân hữu có Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh và hầu hết các văn nhân thi hữu nỗi tiếng trong vùng HTĐ và nhiều nơi ở Hoa Kỳ.
Mở đầu Anh Phan Anh Dũng có lời chào mừng quan khách và nói qua ý nghĩa buổi họp mặt là để vinh danh Thư Thi Họa sĩ Vũ Hối đã đóng góp rất nhiều cho nền Văn Học- Nghệ Thuật VN. Bà Lê Tống Mộng Hoa người cùng quê Quảng Nam với Ông Vũ Hối, đại diện cho BTC có lời tri ân quan khách đến tham dự. Bà nhắc lại lời Nhà báo Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh đã ca ngợi Thư Thi Họa sĩ Vũ Hối là “ một sự phối hợp hiếm có, một thiên tài”, vì ông có khả năng sáng tạo văn, thơ, thư họa và tranh vẽ.
Bà Mộng Hoa cũng ca ngợi Thư Thi Họa sĩ Vũ Hối ở đức tính khiêm cung. Ngoài biệt tài vẽ đẹp, làm thơ truyền cảm, viết thư họa thần tình đã đưa ông lên đến tuyệt đỉnh thành công, ông còn có một cá tính rất cao quý, đó là khiêm tốn. Ông nhún nhường đến độ có vẽ như là một bà mẹ quê mùa xứ Quảng. Bên cạnh đức tính đó Thư Thi Họa sĩ Vũ Hối lúc nào cũng ôn tồn, điềm đạm, vui vẽ, hòa đồng với mọi người. Đức tính thứ ba mà Bà Mộng Hoa muốn trang trọng giới thiệu là chí khí kiên cường của kẻ sĩ. Thư Thi Họa sĩ Vũ Hối luôn theo đuổi lý tưởng tranh đấu cho Nhân Quyền và Tự Do, Ông đã bị CS tra tấn đến mù một con mắt và bị cùm nên liệt một chân vì ông không chịu khai tên những người “cùng chí hướng”.



Kế đến Nhà Văn Hải Bằng Hoàng Dân Bình, đến từ Arizona giới thiệu sơ qua về thân thế và sự nghiệp Văn Học- Nghệ Thuật của Thư Thi Họa sĩ Vũ Hối. Ông Vũ Hối sinh năm 1932 tại Tam Kỳ, Quảng Nam. Xuất thân là Giáo sư Hội Họa (Trường Thủ Đô, Hậu Giang). Ông là một thi sĩ, có bút hiệu là Hồng Khôi, là hội viên Hội Văn Bút VN và Hội Nhà Văn VN. Ông cũng là một họa sĩ và là nhà thư họa nổi tiếng trên thế giới.
Sau năm 1975 Ông Vũ Hối bị CS bắt và bị giam tại nhà tù Phan Đăng Lưu và Nhà tù Chí Hòa. Ông bị tra tấn đến hư một con mắt và bị liệt một chân. Năm 1989 nhờ Cựu Thượng Nghị Sĩ Bob Dole và Đại Tá Fred Hunt can thiệp với Chính Quyền CS, Ông Vũ Hối được ra khỏi tù và sang Hoa Kỳ năm 1992.
Nói về sự nghiệp Văn Học của Thư Thi Họa sĩ Vũ Hối, với tác phẩm “Mộng Hòa Bình.” Ông đoạt Giải Khôi Nguyên Hội Họa Quốc Tế, đựơc tổ chức tại HK năm 1963 , trong đó có 32 quốc gia tham dự. Họa sĩ Vũ Hồi cũng dùng nét vẽ tài hoa họa chân dung Tổng Thống Kennedy và Đại Tướng Creighton W. Abrams. Ông triển lãm tranh vẽ tại Hoa Kỳ, Pháp, Ý, Anh, Đại Hàn, Phi và Đức.
Năm 1963 Trung Tâm Vô Tuyến Truyền Hình Columbia mời ông diễn thuyết về Hội Họa và Thi Ca. Tên Ông được ghi trong Văn Học Tự Điển VNCH, trong Vẻ Vang Dân Tộc II, trong Tự Điển Danh Nhân Thế Giới ấn hành tại Anh Quốc năm 1997, trong cuốn 5000 Personalities of the World của American Biographical Institute 2000, trong Tuyển Tập L’Ar d’Ecriture, Paris, 1993, và Tuyển Tập Thư Đạo của Nhật Bản năm 2006.
Thư Thi Họa sĩ Vũ Hối được vinh danh về “Tính sáng tạo trong Nghệ Thuật” tại Atlanta, 5/11/1994. Ông cũng được Quốc Hội HK vinh danh là Chiến sĩ Văn Hóa và Chiến Sĩ Nhân Quyền, Nghị Quyết 322, năm 2007.
Những tác phẩm của ông đã được xuất bản:
Mùa Giao Cảm (Thơ , 1958), Vần Thơ Màu Trắng (Thơ, 1959), Những Dấu Chân Đi (Truyện ngắn, 1960, 1963), Chiêm Bao Trở Giấc (Thơ, 1997), Nghìn Thương Đất Mẹ (Thơ và thư họa, 1999), Thơ Nhạc Trong Tranh (CD, 2000), Mây Ngàn (Thơ, Thư Họa, Norway, 2003), Nghệ Thuật Thư Họa (2007). Thư Họa Chuyện Kiều, Nguyễn Du ( 2003). Sẽ xuất bản “Tác Giả và Tác Phẩm”.
Nhà văn Hải Bằng Hoàng Dân Bình giới thiệu, Ông Vũ Hối đã dùng ngòi bút để phục vụ cho đại chúng thay vì tự giam mình trong cái “tháp ngà” của cái tôi. Ông rất tâm đắc với hai câu “Văn dĩ tải Đạo”, và "Nghệ Thuật vị nhân sinh”. Đây chính là quan điểm cao quý của những nhà tư tưởng cổ, kim, đông , tây từng đề cập đến.
Với những ý niệm thăng hoa và bằng những nét vẽ không mang tính quy ước, mô phỏng, hay bắt chước, tranh của ông đã biểu lộ tinh thần sáng tạo, đột phá và mới lạ. Họa sĩ Vũ Hối vẽ bức tranh “Mộng Hòa Bình” với ba chim bồ câu trắng và một thiếu nữ Việt mặc áo dài trắng. Với bức tranh đó Họa sĩ Vũ Hối đã chiếm Giải Khôi Nguyên Hội Họa Quốc Tế Hoa Kỳ, 1963. Bức tranh đó được chiếm giải không những chỉ vì nét họa tài tình mà đặc biệt còn nói lên nội dung ước vọng tha thiết nhất của thời đại - uớc vọng của mọi người cho một nền hòa bình chân chính, không phải chỉ ngưng tiếng súng mà còn phải chấm dứt cả hận thù, đàn áp và khủng bố.
Ngoài hội họa và thư họa, Thi sĩ Vũ Hối còn là một nhà thơ yêu nước và có tâm đạo, ông thường đề cao chữ “Tâm”. Nhà văn Hoàng dân Bình kết luận, thơ và tranh của Thư Thi Họa Vũ Hối mang những màu sắc triết lý sâu xa và phản ảnh đậm đà những nét tình tự ngàn năm của dân tộcViệt .
Tiếp theo chương trình là phần tặng hoa. Hoa Hậu Christina Mai Nguyễn đã trao tặng Nhà Thư Thi Họa Vũ Hối một bó hoa tuyệt đẹp, tượng trưng cho tình cảm quý mến của đồng hương vùng HTĐ và tri ân những đóng góp quý giá của ông cho nền Văn học Nghệ thuật VN. Kế đến Ông Hà Bỉnh Trung, đại diện cho Hội Văn Học Nghệ Thuật vùng HTĐ, Ông Lê Hữu Em, Hội Trưởng Hội Quảng Đà, mỗi người nhân danh hội trao tặng Ông Vũ Hối một đóa hoa.
Bằng một giọng đầy xúc động Thư Thi Họa sĩ Vũ Hối đã cảm ơn quan khách. Ông nói, cảm động nhất là hôm nay ông được gặp lại nhiều chiến hữu xa gần, trước đây cùng chiến tuyến chống Cộng, đã đồng lao cộng khổ với ông trong các trại tù ác nghiệt của CS. Ông cám ơn các diễn giả với những lời phát biểu thật ân cần. Niềm vui tha hương ngộ cố tri là bức tranh đẹp, ông sẽ giữ mãi trong tâm khảm. Trong suốt chiều dài làm nghệ thuật ông không thể tả hết những thiện cảm đồng hương đã dành cho ông. Ông tin rằng ngày tàn của CS sẽ không xa, chúng ta sẽ ngồi lại với nhau trong không khí ấm cúng, nồng nàn như thế này giữa lòng quê hương sạch bóng Cộng thù, giữa Hà Nội, Huế, Saigon và trong sự toàn vẹn lãnh thổ với Thác Bảng Dồc, với Hoàng Sa, Trường Sa, với Bình Long anh hùng, An Lộc kiêu dũng, với đất nước thanh bình, nhân quyền, dân chủ… ngày mai tất thắng.
Trong dịp này Khoa Học Gia được mời lên phát biểu một vài cảm nghĩ. Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh nói về cảm nghĩ khi xem bức tranh “Xóm Nghèo” treo trên tường ở nhà Họa sĩ Vũ Hối. Nét vẽ trên bức tranh giúp cô nghĩ ra, thấy được những nét đẹp của cuộc sống, và đó là nhờ tài năng lỗi lạc của Thư Thi Họa sĩ Vũ Hối. Cô nói, cô đến đây trứơc là để xin đựơc kính chúc Thư Thi Họa sĩ đã thành công rực rỡ trong bước đường phụng sự nghệ thuật và sẽ tiếp tục thành công, và Cô cũng đến để tri ân những thành công rực rỡ của Ông. Cô nói Thư Thi Họa giaVũ Hối chính là niềm hãnh diện của ngưòi Việt qua những giải thưởng quốc tế mà Ông đã đạt được. Với tư cách là một ngưòi Việt Nam Cô bày tỏ sự hân hạnh,sự hãnh diện truớc những thành công rực rỡ của Ông Vũ Hối và thật là một vinh dự cho Cô đựơc quen biết Ông.
Chương trình được tiếp nối với phần văn nghệ rất phong phú, mở đầu là họp ca “Saigon Gần, Xa, (Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh phổ nhạc, thơ của Vũ Hối), Lá Cờ Thiêng của Hoàng Tường do chính tác giả trình bày, rất sinh động, truyền cảm. Về Đây Nghe Em qua giọng ca Thái Hà, Chênh vênh Cầu Khỉ với Mỹ Lan, Cha Mãi mãi Trong Con do Tâm Hảo trình bày. Thúy Vân ngâm thơ, thơ của Nhà Thơ Phan Khâm tặng Vũ Hối. Đặc biệt là Bé Trần Thiện Anh Chí đã khuấy động không khí với liên khúc nhạc lính do Trần Thiện Thanh sáng tác “Chiều Trên Phá Tam Giang, Hoa Biển và Tuyết Trắng”. Với kỹ thuật trình diễn sôi động, nhảy nhót theo điệu nhạc kích động thật dễ thương, đẹp mắt, Trần thiện Anh Chí, bảy tuổi, đã lôi cuốn cả hội trường lắng nghe, thưởng thức một cách say mê, thích thú. Nhiều khán giả lên sân khấu lì xì tiền cho cậu bé.
Chương trình chấm dứt vào lúc 4 giờ chiều, mọi ngừoi ra về mang theo trong tâm một cảm nghĩ thật vui đẹp về Nhà Thư Thi Họa sĩ Vũ Hối. Ông là một trong những nghệ sĩ tài hoa hiếm có trong Thế kỷ 20. Vói ngòi bút thần tình về thư họa, Ông đã làm rạng danh dân tộc Việt khắp năm Châu.



trả lời


lên trên