1, 2  >                 Diễn Đàn                 <<< tìm >>>                 BÀI MỚI . muc luc . vào



Ngẫm


REFRESH

Thanh Nhã




Trong thuật ngữ máy tính có từ Refresh. Dịch ra tiếng Việt là gì nhỉ. Làm tươi lại ? làm mới? Một máy tính đang vận hành có thể được refresh nhiều lần. Còn nàng ? Chẳng phải nàng cũng là một chiếc máy đã hoạt động trong suốt một thời gian quá dài đó sao? Vậy mà chưa một lần nàng được " làm tươi lại " như chiếc computer kia. Ý tưởng này đọng trong đầu nàng nhiều ngày tháng trước đây, khi đang làm việc ở công ty, lang thang trên đường đi, về, khi đang làm bếp, dọn dẹp nhà cửa , lúc giặt giũ, khi đi siêu thị mua sắm, v v…, trong lúc ăn và cả trong giấc ngủ. Tự refresh lại mình? tại sao không? Nhưng sẽ bắt đầu từ đâu và bằng cách nào?

Ngắm nhìn mình trong gương, nàng bỗng nhận ra nhiều nếp chân chim đã xuất hiện ở khoé mắt, đó là những lớp bụi bặm trần gian đang phủ lên " chiếc cửa sổ tâm hồn " nàng , là vết tích của những vất vả, khó nhọc trong cuộc mưu sinh, những muộn phiền, một đôi lúc, trong cuộc sống gia đình, những bất như ý từ bao nhiễu nhương ngoài xã hội v v… Nàng nhận ra rằng không phải là thời gian, như người ta thường quan niệm, mà chính là những điều này, đã tác động , làm thay đổi đôi mắt, ánh nhìn của nàng. Thời gian chỉ là khái niệm, nó không có thực mà chỉ tồn tại trong nhận thức của con người. Sẽ là vô ích nếu con người muốn mình cứ mãi " tươi " bằng phương cách " níu thời gian ". Vậy mà đã có không ít những người mất công đi tìm thuốc trường sanh bất tử hay cải lão hoàn đồng . Thực hão huyền. Nàng mỉm cười với ý nghĩ đó và chợt nhận ra nụ cười mình héo hắt và tàn phai quá.

Khi bấm nút Delete trong máy tính, nàng có thể dễ dàng xoá đi những gì bị lỗi, những hình ảnh không đẹp, những file không cần thiết nữa , v v… Nhưng thực khó lòng để xoá được những tổn thương mà người thân mang lại cho nàng, những ý nghĩ không đẹp về một người, một việc, một tình cảm không trọn vẹn, những kỷ niệm đau buồn v v… .Nàng thường gọi đó là " lưu cảm ". Và ray rứt triền miên về những điều này. Tại sao nàng không có được một cách nhìn đời, nhìn người trong sáng và ấm áp như chị K. Bất cứ một bài thơ, văn nào của chị cũng đầy ắp một tình cảm nhẹ nhàng với thiên nhiên và con người. Sao nàng không có được một cái nhìn nhân hậu như chị O. Dẫu ở xa cả nửa quả địa cầu chị vẫn luôn quan tâm đến từng hoàn cảnh khốn khó, từng niềm vui, nỗi buồn của những em học sinh nghèo chưa từng biết mặt, Những dòng thư chị chăm chút động viên từng em, hơn cả những người thân của chúng. Còn nàng, hình như nàng luôn ở tâm trạng đối phó với chính mình và mọi người. Luôn bất bao dung với mình và khó tha thứ người. Vất vả trong mưu sinh, chẳng qua vì nàng còn kém cỏi, thiếu năng lực. Dễ cảm thấy bị tổn thương, vì nàng nghĩ về mình nhiều quá, xem mình quan trọng quá. Nàng đã không nhìn thấy những điều tốt đẹp mà chỉ chăm chăm hướng về những tiêu cực của xã hội. " Lưu cảm " mà nàng thường quan niệm khác nào những con virus trong máy tính, nàng không nhìn thấy nó nhưng sức công phá của nó thì vô chừng . Nàng phải học cách để loại bỏ nó ra khỏi tâm hồn mình, dễ dàng như khi nàng bấm nút delete. Nàng nhận ra rằng hãy khoan dung hơn với chính mình. Hãy tha thứ cho người. Lâu nay nàng đã " chấp " quá nhiều mà không tự biết.Nàng sẽ học cách thoát ra khỏi những dính mắc đeo bám nhận thức trong cuộc sống, vốn dĩ đã vô thường này.

Thì ra có một mối quan hệ giữa việc " xoá đi ", delete và "làm tươi lại " , refresh, không phải trong computer mà chính trong nàng. Chỉ tự nàng mới có thể "làm tươi lại " chính mình. Đó là lúc nàng biết delete tất cả những hệ luỵ mang đến sự đau khổ cho nàng.

Rất lâu sau đó, có một hôm nàng soi mình trong gương. Nhìn qua khung " cửa sổ ", nàng thấy lớp bụi bặm , mà bây giờ nàng mới hiểu ra rằng, do chính nàng mà không là ai khác, tự phủ lên tâm hồn mình , dường như đang lặng lẽ rơi.

Thanh Nhã



trả lời


Ngẫm


Thèm một nụ hôn

Cô gái đứng phía bên trong cửa sổ chống cằm nhìn ra ngoài cửa nghĩ ngợi. Hầu như suốt đêm qua cô không chợp mắt được phút nào. Cô cứ đi ra đi vào, một chút lại mở máy đọc thư anh. Có mấy cái thư mà cô đọc hoài gần cả chục lần vẫn không biết chán.

Những ngày xa xưa của cô buồn lắm, khi cô nhận biết mình không còn là một người bình thường sau khi bị tai nạn, từ đó cuộc đời cô đã buông một dấu chấm hết. Cô đã khóc hết năm này rồi năm nọ, trách ông trời bất công, trách những người chung quanh bỏ rơi cô. Cô không biết làm sao để cười, đôi môi cô lúc nào cũng chực chờ muốn khóc, còn cặp mắt thì trỉu nặng nỗi bi ai. Không một ai đến gần và khuyên lơn cô được điều gì. Cô chua chát cho mọi người biết cô không cần bất cứ một sự thương hại nào và cũng không muốn nghe những lời nói mà cô cho rằng người ta đang cố công thể hiện một thứ đạo đức giả hiệu để trêu chọc cô. Cô tự mình bước vào bóng tối, im lặng nhất định không thở than nữa.

Có một lần chẳng biết làm gì, cô mày mò vào net, bấm qua bấm lại bỗng đi lạc vào một nơi có người ta nói chuyện bằng cách viết tiếng Việt cho nhau. Cô như bị cuốn hút vào đấy. Những bài văn, bài thơ như vừa sáng tác mới tinh khôi, không trau chuốt nhưng sao đọc cảm thấy dễ thương vô cùng. Ngày nào cô cũng vào đấy đọc, ai viết gì cũng đọc và rồi tự dưng cô cũng muốn viết. Cô nghĩ ừ sao không thử viiết gì cho người khác đọc, thử xem, thử xem... như có một động lực mạnh mẽ nào đó cứ thôi thúc cô. Cô bắt đầu viết và ý thức việc mình làm cũng tạo được một niềm vui nho nhỏ cho riêng cô. Cô say sưa sáng tác và bỗng quên mình là ai. Chữ nghĩa đã làm cô thay đổi tính tình, cô đã tìm lại được nụ cười mà ngày nào có một biến cố đau thương đã giựt mất đi của cô. Cô thật sự quên mình bởi vì có lúc cô thể hiện vai trò của một cô gái được cưng chiều hay nũng nịu dễ thương, Có lúc cô là một bà lão hơn bảy mươi tuổi, khó tánh chẳng ai dám đến gần, cô còn cả gan biến thành bà tiên nữa chứ. Càng viết càng thich càng mê, cô còn được cái quyền cho nhân vật của mình sống hoặc chết, ghét thì cho chết sớm, chết thê thảm, thích cho sống dai hơn một chút. Cô tung hoành múa may với từng con chữ bất kể sớm trưa chiều tối...

Rồi một ngày mùa đông rét mướt với những cơn gió bấc hắt hiu, cô nhận được những dòng tin nhắn, anh bảo đọc bài cô viết thấy thương cô quá, viết chi mà buồn mà bi quan. Cuộc sống này muôn màu muôn vẻ sao không hướng tới những điều tốt đẹp để nghĩ suy. Cô chợt chạnh lòng vì còn có một người đã nghĩ đến mình nhưng bản tính bướng bỉnh cố hữu không cho phép cô nhận sự chia sẻ đó. Cô bắt đầu tranh luận với anh, cô nói cái lạc quan của anh có thể đi gieo rắc vào tâm hồn của người khác nhưng không bao giờ anh biến đổi được những suy nghĩ, những quan niệm của cô, Cuộc đời này đã không công bằng đối với cô nhưng cô cũng chưa cay cú trách hờn. Cô muốn sống cho riêng cô mặc cho những gì xảy ra chung quanh. Anh nói cô chỉ là phần tử của cái tổng thể trong trời đất này thì làm sao mà tách rời cho được. Cô nói được, anh bảo để coi!

Thế rồi, anh không đặt lại vấn đề ấy nữa, hầu như ngày nào cũng vậy anh vừa làm việc vừa làm thơ cùng cô, cô viết buồn anh viết vui, cô viết chết anh viết phải sống... Nhiều khi tức nhưng cô không biết phải làm sao? Chẳng lẽ đi gây sự vì người ta viết không đúng ý mình. Thời gian cứ nhẹ nhàng trôi qua, chẳng biết tự bao giờ cô bị tiêm nhiểm bản tính hài hước yêu đời của anh.Từng bước một những bài viết của cô đã mở ra một cánh cửa khác. Cánh cửa của mùa xuân với tiếng chim buổi sáng, cùng đôi bướm trắng nhởn nhơ bay lượn giữa những bông hoa ngạt ngào hương sắc.

Khi tâm hồn cô trở lại như một dòng sông nhẹ trôi êm đềm trong một vùng quê yên bình thời thơ ấu, cô bỗng cảm thấy như mình thiếu thốn một thứ gì đó, một thứ rất cần thiết phải chăng là một tình yêu? Nhưng rồi cô lại buồn, cúi nhìn lại mình và mặc cảm như một tiếng gọi đã chim sâu vào dĩ vãng bây giờ vang vội cả bốn phía vây bủa lấy cô. Cô lặng lẽ đứng nép vào bên lề của con đường tình ái. Con đường đó rất thơ mông, có những chiếc lá mùa thu vàng rực đang theo gió bay bay, có bóng dáng anh và một người con gái khác đang sánh vai nhau nhẹ bước. Cô thẫn thờ nhủ với lòng phải xa anh nhưng nghĩ lại thấy mình thật vô lý, anh đâu là gì của cô mà đòi xa đòi gần!?

Cô chui vào trong vỏ ốc để lẩn trốn cả thế giới ảo và thật, cả hai thế giới này hình như cũng không chấp nhận cô, thế giới thật luôn có những cặp mắt soi mói, cô sợ nhìn cái hạnh phúc mà người khác đang có, cô sợ nhìn những nụ cười hả hê mãn nguyên. Thế giới ảo cô phải đối diện bằng chính những cảm giác của mình để hình dung ra một con người cùng với tính cách của họ nhưng tại sao cô lại mang một tình cảm rất thật đối với anh? Giữa lúc cô cảm thấy chới với trong những nỗi buồn đang đè nặng lên tâm tư thì nhận được email của anh, anh bảo những ngày qua anh cứ mong ngóng tin cô, anh cảm thấy nhớ cô, nhớ lắm. Hãy viết gì đó cho anh đọc, hình như anh đã có thói quen đọc bài của cô mỗi ngày rồi. Dòng nước mắt rơi đầy xuống bàn phiếm, tay cô run run gõ từng con chữ trả lời thư anh, chữ nhớ chữ thương không ngại ngùng tuôn đổ. Anh nói anh hiểu nhiều hơn cô nghĩ, không chỉ một thời gian ngắn mà có thể buộc cô thay đổi quan niệm sống của mình. Ngày qua ngày, tình cảm cô dành cho anh đã chất cao như ngọn núi cho đến một hôm anh ngỏ ý muốn gặp cô. Dù yêu anh đến bao nhiêu đi nữa cô vẫn không muốn anh nhìn thấy con người cô, môi bỗng khô, miệng đắng chát cô trả lời cô không muốn gặp anh. Cô nghĩ chẳng thà để anh chán nản xa cô ngay bây giờ còn hơn nhìn thấy cô rồi anh thất vọng bỏ đi.

Đã hơn bốn năm anh vẫn đều đặn viết thư cho cô, anh bảo cô hãy viết cho anh dù một câu ngắn ngủi mỗi ngày để anh biết rằng cô vẫn còn hiện diện ở một nơi nào đó. Hơn bốn năm cô mơ có một vòng tay ôm ấm áp, hơn bốn năm cô thèm một nụ hôn nồng nàn nhưng vẫn không đủ can đảm để tìm về bên anh!



Yên Hà



trả lời


Ngẫm


Lời Chúc Tình Yêu


"Dù khoa học có phát triển đến đâu, tình yêu vẫn mãi là nghệ thuật; dù thiên thần có lên cao đến đâu, tình yêu vẫn luôn luôn có đôi cánh mạnh mẽ hơn đôi cánh của thiên thần. Dù tiền bạc và công danh có làm cho con người hạnh phúc đến đâu thì niềm vui lớn nhất của cuộc đời vẫn mãi mãi là niềm vui do tình yêu mang lại" – Paolo Mantegazza viết về tình yêu như thế đấy!
Chúng ta hãy cạn chén để chúc cho những điều kỳ diệu của tình yêu!


***
Thi sĩ Boris Pasternak có những câu thơ thần kỳ:

Yêu người khác – cây thập ác nặng nề
Em tuyệt vời, không quanh co khúc khuỷu
Và điều bí ẩn của vẻ đẹp kia
Lời giải đáp tìm ra, anh xin chịu!

Anh cố gắng tìm ra lời giải đáp “điều bí ẩn của vẻ đẹp kia” nhưng chỉ hoài công. Và bởi thế anh chỉ biết nói rằng: anh yêu em!

***
Nhà thơ Xuân Diệu viết:

Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất
Anh cho em cùng với một lá thư
Em không lấy, và tình anh đã mất
Tình đã cho không lấy lại bao giờ!

Tình đã cho, tất nhiên, không bao giờ lấy lại, bởi như lời Đức Chúa Giê-su đã dạy: "Cái nhận về là cái mất đi, còn cái đem cho đi sẽ còn lại mãi".
Ta hãy uống chúc cho tình thứ nhất!


***
Đôi trai gái yêu nhau ghé vào một nhà hàng để ăn trưa. Họ quên gọi món ăn mà chỉ ngồi nhìn nhau đắm đuối một hồi lâu. Cuối cùng, chàng trai nói:
– Em ngọt ngào quá, anh nhìn em đã no rồi!
– Em cũng vậy!
Người nhân viên phục vụ nãy giờ đứng trơ như tượng đá bên bàn bèn hắng giọng và hỏi:
– Hai anh chị uống gì ạ?
Ta nâng cốc chúc cho ta luôn có cái để mà ăn, còn uống thì ta sẽ tự tìm lấy!


***
Trong lá thư thứ nhất của Thánh Giăng có đoạn:

Trong tình yêu không có sợ hãi, nhưng
Tình trọn vẹn sẽ xua đi nỗi sợ
Bởi vì sợ hãi chính là đau khổ
Kẻ nhát gan không trọn vẹn trong tình.

Ta hãy nâng cốc chúc mừng cho những kẻ nhát gan và chúc cho tình trọn vẹn!


***
Nhà thơ Hồ Dzếnh có câu thơ:

Đời mất vui khi đã vẹn câu thề
Tình chỉ đẹp khi hãy còn dang dở.

Ta hãy nâng cốc chúc cho tình vẫn đẹp không chỉ có lúc dở dang và chúc cho đời vẫn vui dù cả khi câu thề đã vẹn! Chúc tình yêu!


***
Ở một thành phố xa lạ, có người hỏi một đôi trai gái:
– Bằng ngôn ngữ của các bạn, lời "anh yêu em" sẽ nói như thế nào?
Chàng trai ôm cô gái vào lòng, đằm thắm hôn cô gái và sau đó, trả lời:
– Người ta nói về tình yêu bằng cách như vậy theo ngôn ngữ của chúng tôi.
Chúng ta nâng cốc chúc tình yêu không cần lời nói!

***
Nhà văn Paolo Mantegazza viết: “Trên bước đường nghiên cứu ta tìm ra một qui luật của tình yêu, qui luật này điều khiển quá trình nhân giống, hay như người ta thường gọi, là tình yêu thể xác. Tôi nghĩ rằng tình yêu có một chức năng duy nhất, mà để cho dễ hiểu, không nên đem chia ra từng bộ phận rồi một phần gửi đến phòng thí nghiệm của nhà nhân chủng học, còn phần kia để lại phòng làm việc của nhà triết học.
Tình yêu sinh ra từ bản năng của động vật cho đến những lĩnh vực của siêu nhiên. Có thể không có bộ phận nào của tâm lý học có sự phân cấp rộng như vậy giữa hai luồng vừa xa cách, vừa đối lập với nhau. Hãy so sánh tình yêu của một người đàn ông Australia dùng gậy đánh người phụ nữ nào gặp đầu tiên để chiếm đoạt người này và tình yêu mãnh liệt của người phụ nữ mọi rợ ở Bắc Mỹ đã mời bốn mươi chinh phu làm chồng mình trong một đêm; tình yêu của người mục phu vùng Apennines yêu một con dê cái và Heinrich Heine trước khi chết đã yêu cầu đưa ông đến bảo tàng Louvre để lần cuối cùng được ngắm nhìn tượng nữ thần tình yêu và sắc đẹp La Venus de Milo, – và các bạn sẽ chỉ có một khái niệm mơ hồ về những giới hạn của sự say mê cuồng nhiệt, say mê mãnh liệt, say mê ám ảnh và bám riết được gọi là tình yêu".
Chúng ta hãy nâng cốc chúc mừng tình yêu!

***
Nhà thơ Innokenty Annensky có mấy câu thơ:

... Em đến đây với giọng nói đượm buồn
Bởi vì em dịu dàng trong sáng quá
Bởi vì trao em cho anh từng hứa
Ánh trăng vàng và tím tử đinh hương...

Mỗi khi bên bè bạn quây quần anh lại nhớ về giọng nói đượm buồn của người yêu dấu! ..
Ta hãy uống mừng cho thơ ca của tình yêu!


***
Ta nâng cốc chúc tình yêu! Vì
Thiếu tình, có vẻ ta hờn giận
Nhưng thiếu rượu mới là tai nạn
Tình đến, tình đi…
Nhưng uống rượu lúc nào cũng muốn.


***
Để cho hồn tĩnh lặng
Rượu hãy rót cho đầy
Hãy uống rượu nồng say
Chúc tình, chúc phụ nữ!
Tình như căn bệnh dữ
Ai càng sợ bệnh này
Càng bị nó vồ ngay!
Ta chúc cho trong suốt cuộc đời ta luôn có những trận dịch đuổi theo và chỉ dịch tình yêu!


***
Một nhà báo đi xuống xã viết bài nhìn thấy trước cửa ủy ban có ba ông già đang ngồi trầm ngâm suy nghĩ.
– Các cụ đang nghĩ điều gì thế ạ? – nhà báo hỏi.
– Khi một đứa bé ra đời thì Ngọc Hoàng đi xuống trần gian. Nếu Ngài hôn đứa bé vào trán thì sau này nó trở thành nhà bác học, nếu hôn vào môi – trở thành ca sĩ, nếu hôn tay – thành họa sĩ, nếu hôn bàn chân – thành người khiêu vũ. Còn chúng tôi cứ ngồi nghĩ ngợi không biết Ngọc Hoàng hôn ông chủ tịch của chúng tôi vào chỗ nào?
Ta hãy nâng cốc chúc cho những nụ hôn của trai gái hôn nhau làm tình yêu nảy nở!

***
Một chàng trai quyết định hỏi ý kiến bố về chuyện cưới vợ. Ông bố lúc này đang ngồi trầm ngâm suy nghĩ dưới gốc cây cổ thụ và dùng cành cây vẽ vật gì đó trên cát. Chàng trai bước đến và nói:
– Bố ơi, con cần lời khuyên của bố. Con làm quen với một cô gái rất xinh đẹp và thùy mị, con muốn cưới cô ấy làm vợ.
Ông bố không dứt khỏi những ý nghĩ của mình, lấy cành cây vẽ lên trên cát một con số không.
– Bố ơi con nghĩ rằng cô ấy sẽ là con dâu hiếu thảo.
Ông bố vẫn không từ bỏ những ý nghĩ, rồi vẽ thêm một con số không.
– Bố ơi, con nghĩ cô ấy là một người vợ rất đảm đang.
Vẫn không thèm để ý, ông bố vòng thêm một con số không nữa.
Cuối cùng chàng trai thất vọng kêu lên:
– Nhưng mà chúng con yêu nhau bố ạ…
Khi đó, người tộc trưởng – bố của chàng – ngước lên nhìn con trai và lấy cành cây vẽ vào trước ba số không kia một con số 1.
Chúng ta cùng nâng cốc chúc cho tình yêu biết cách nhân lên những ưu điểm một nghìn lần!


***
Ta hãy nâng cốc chúc cho những người mà ta đã yêu và những người đã yêu ta! Vì thực ra, tình yêu không chết mà tình ở mãi cùng ta, biến ta thành những người giàu có hơn, dịu dàng hơn và mạnh mẽ hơn… Chúc tình yêu!


***
Nhà văn Paolo Mantegazza viết: “Bầu trời nước Ý sau những ngày u ám không trở nên vẩn đục hơn hay bớt đi vẻ hùng tráng hơn, còn ở những quốc gia bầu trời muôn thuở âm u, ở đó không có gió, không có mặt trời để làm nên màu thanh thiên và sạch sẽ. Với tình yêu thì cũng thế. Nếu đó là tình yêu chân chính thì tình sẽ chữa lành tất cả mọi vết thương, đốt lên ngọn lửa từ đống tro tàn, sưởi ấm cả những tảng băng. Tình có thể một trăm lần ngủ yên và một trăm lần tỉnh giấc, một trăm lần chết và bấy nhiêu lần như thế hồi sinh. Còn nếu như tình không có khả năng làm nên những điều kỳ diệu như thế thì đấy chỉ là tình bạn, là ham mê sắc dục chứ không phải tình yêu".
Chúng ta hãy nâng cốc chúc tình yêu với những khả năng kỳ diệu!


***
Nhà ngữ văn Wilhelm Humboldt viết rằng: "Tình yêu mãi mãi nhiều hơn lòng tin vào nó. Một câu nói thường xuyên: "Giá mà em biết được rằng anh yêu em nhường ấy!" – mang trong mình một chân lý sâu sắc và vô tận"
Ta hãy thường xuyên nói với người ta yêu những lời này! Chúc tình yêu!

***
Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp viết: “Bạn trẻ, bạn hãy yêu đi! Nó sẽ làm cho bạn hóa rồ hóa dại, nó sẽ làm cho bạn tốt lên hoặc xấu đi thì tôi cũng chẳng biết nữa nhưng tôi biết chắc chắn đó là một điều tuyệt vời nhất trên đời, đó là thứ giá trị nhất trong mọi giá trị mà Thượng Đế ban cho con người… Tình yêu dạy cho ta bước đi của hổ, của báo, cho ta sức mạnh của mãnh thú. Nó dạy ta sự giảo hoạt của cáo, của rắn độc. Nó khiến ta nhân đạo hơn hoặc độc ác hơn…”
Chúng ta hãy nâng cốc chúc tình yêu!


***
Nhà thơ Rasul Gamzatov có bài thơ:

Anh học đi để đi đến với em
Anh học bay để tìm em bay đến
Anh học nói cả trăm ngàn thứ tiếng
Để bằng ngôn ngữ nào anh cũng nói "yêu em".

Ta chúc cho tình yêu có khả năng làm nên những điều kì diệu!


***
Nhà thơ Garcia Lorca viết:

Anh sợ đánh mất điều kì diệu trắng trong
Đôi mắt ướt của em chỉ còn im lặng
Anh sợ, trong cái đêm này anh đã chẳng
Áp mặt vào hơi thở của hoa hồng.


Anh sợ rằng đống lá chết từ lâu
Lên bờ bến bí huyền kia sẽ trải
Anh không muốn mang theo mình cây trái
Nơi giấu mình đau đớn những loài sâu.


Nếu kho báu của anh em đã mang theo
Nếu em là nỗi đau của anh, thì đừng thương xót nhé
Nếu, thậm chí anh không còn đáng gọi là gì cả.


Thì bông lúa của mất mát cuối cùng em đừng cắt bỏ
Và hãy để trên dòng sông em rắc những chiếc lá vàng
Rụng xuống từ mùa thu đã đi qua của anh.

Chúng ta nâng cốc chúc cho những đôi mắt ướt kia nếu chỉ còn im lặng thì hãy cứ để cho mùa thu sẽ rắc lên những chiếc lá vàng!


***
"Hãy yêu anh, em phải yêu anh!…" Lời van xin khổ sở như thế của một chàng trai nói với cô gái đã bỏ đi, còn các cô gái thì nói những lời này thường xuyên hơn nữa, nhưng lời van xin này hầu như bất lực. Đòi hỏi ở tình yêu là sự điên rồ tột bậc, cũng giống như đòi hỏi điều vô nghĩa ở thơ tình, cũng giống như đi tìm mùi hương hoa hồng hay cái vỏ chanh giữa những tảng băng của hai vùng cực. Tuy nhiên, tất cả những người đang yêu có quyền kêu lên buồn bã: "Anh không có quyền lừa dối em như thế!" Thà dùng bàn tay đập vỡ chén tình cũng còn hơn đem chất độc của sự dối lừa, cay đắng của sự hững hờ rót xuống” – nhà văn Paolo Mantegazza khuyên những người đang yêu như vậy.
Chúng ta nâng cốc chúc lời khuyên bổ ích này!


***
Một nhà thơ nữ của Việt Nam nào đó viết:

Tình yêu gần quá mà sóng thì xô dạt
Chia tay rồi mới biết đấy thực tình yêu.

Nữ thi sĩ Mỹ Emily Dickinson cũng có bài thơ với một tình cảm tương tự:

Yêu nước – những ai trong cơn khát
Quí đất – người đang giữa đại dương
Vui sướng, hân hoan – chỉ biết đến khi buồn
Ai đang chiến đấu – kẻ yêu hòa bình nhất.
Còn ta yêu – là khi tình đã mất
Khi tuyết trắng trời ta lại nhớ về chim.

Ta hãy nâng cốc chúc cho ta yêu không chỉ khi tình đã mất và nhớ về chim không chỉ khi tuyết đã trắng trời!


***
Nhà thơ Nicolai Nekrasov viết:

Con tim đáng thương, tội nghiệp của ta
Ta sợ đến một ngày mi mệt lử.
Mi không thể tha thứ cho người ta
Nhưng không yêu người ta mi không thể.

Chúng ta hãy nâng cốc chúc cho trong cuộc đời ta sẽ không có những tình huống không lối thoát như vậy!


***
Johann Wolfgang von Goethe nói rằng: "Bằng một vài ngụm nhỏ từ chén tình chan chứa, thiên nhiên đã bù lại tất cả những khó nhọc của đời”.
Chúng ta nâng cốc chúc thứ tình cảm tuyệt vời – tình yêu!


***
"Tình yêu – đó là kẻ làm bạc giả diệu huyền. Tình không chỉ thường xuyên biến những đồng xu thành vàng tấm mà còn thỉnh thoảng biến vàng tấm thành những đồng xu”. – Honore de Balzac từng cảnh báo như vậy. Mà Balzac là người rất sành sỏi trong chuyện này.
Chúng ta hãy nâng cốc chúc cho vàng của ta không bao giờ bị đem đổi thành những đồng xu nhỏ nhặt!


***
Đức Chúa Giê-su Christ dạy: "Hãy yêu kẻ thù của mình, làm ơn cho kẻ ghét mình, chúc phước cho kẻ rủa mình và cầu nguyện cho kẻ sỉ nhục mình…" Nhà cải cách tôn giáo Martin Luther cũng nói: "Bóng tối không thể xua được bóng tối – chỉ ánh sáng có thể. Hận thù không đuổi được hận thù – chỉ tình yêu có thể".
Chúng ta hãy nâng cốc chúc tình yêu!


***
Chúng tôi xin nâng cốc chúc tình yêu cho bạn. Bạn hãy cứ vung phí tình yêu bằng cả hai tay. Tình yêu là kho báu duy nhất ở cõi đời này càng lấy đi thì kho báu này càng lớn. Tình yêu là thứ quà tặng mà bạn càng được nhận về nếu bạn đem trao. Tình yêu là số vốn ban đầu mà càng chi tiêu càng thấy lớn.
Bạn hãy trao tặng, hãy xài hoang, hãy vung tình yêu lên bốn ngọn gió hồng, hãy dốc cho túi cạn, hãy rót cho đầy chén, và ngày mai bạn sẽ có nhiều hơn!


***
Nhà thơ Igor Severianin viết:

Gặp gỡ để rồi chia xa
Yêu để mà không yêu nữa.
Ta muốn cười lên hề hề
Ta muốn khóc lên nức nở!

Thề thốt để nuốt lời thề
Ước mơ để rồi nguyền rủa...
Thật khổ cho người hiểu ra
Tất cả những trò vô bổ.
Ở quê muốn lên thành phố
Ở phố muốn về quê chơi
Đâu đâu cũng gương mặt người
Mà sao lòng lang dạ thú...
Sắc đẹp thường hay quái gở
Quái hình có vẻ đẹp xinh
Thường có cao thượng đê hèn
Vô tội cả điều ác dữ.
Làm sao không khóc nức nở
Làm sao không cười hề hề
Khi nào có thể chia xa
Khi nào thì không yêu nữa?

Chúng ta hãy nâng cốc chúc cho những trò vô bổ trong cuộc đời, mặc dù, thiếu thì cũng chẳng ai sống được!


***
"Bản chất đích thực của tình yêu là chối bỏ nhận thức chính mình, quên mình trong cái "tôi" khác, tuy vậy, trong sự để mất và lãng quên này tình tìm ra chính bản thân mình như vốn có". – Nhà triết học Hegel từng viết như vậy. Điều này có nghĩa là, thiếu tình yêu thì ta không phải là ta.
Tôi xin nâng cốc chúc mọi người luôn có được chính bản thân mình như vốn có!


***
Nhà văn Lev Tolstoy chia tình yêu làm ba loại: tình yêu đẹp, tình yêu quên mình và tình yêu hành động. “Những người thích tình yêu đẹp – nhà văn viết – rất ít quan tâm đến sự đền đáp cũng như hoàn cảnh vì không có chút ảnh hưởng nào đến sắc đẹp hay sự thích thú của tình cảm. Những người này thường thay đổi đối tượng của tình yêu. Loại tình yêu thứ hai – là tình yêu quên mình, đó là sự hy sinh vì người mình yêu mà không cần biết người yêu tốt lên hay xấu đi vì sự hy sinh ấy. Loại tình yêu thứ ba là tình yêu hành động. Đó là sự khát khao thỏa mãn tất cả những mong muốn, những nhu cầu, những thói đỏng đảnh, thậm chí cả những tật xấu của người mình yêu".
Tôi đề nghị chúng ta nâng cốc chúc cho cả ba loại tình yêu nhưng không cần những điểm xấu của nó. Chúc cho loại tình yêu thứ nhất – cùng với sự đáp lại. Chúc cho loại thứ hai – cùng với sự chú ý đến người mình yêu. Chúc cho loại thứ ba – không nên dung túng cho những tật xấu của người mình yêu!


***
Trong một bài hát của Viktor Tsoy có những câu thế này:

Mà "cuộc sống"- chỉ là ngôn từ
Chỉ có tình yêu và cái chết
Cái chết đáng giá để mà sống được
Còn tình yêu đáng giá, để đợi chờ...

Chúng ta nâng cốc chúc những gì ta cho là đáng giá ở cuộc đời này!


***
Một chàng trai khổ sở thuyết phục bố của người yêu:
– Bác ơi, cháu muốn nói với bác điều này: cháu yêu con gái bác đã 5 năm rồi.
– Thì sao? Anh muốn gì? Lương hưu chắc?
Chúng ta hãy nâng cốc chúc tình yêu không bao giờ nghĩ đến chuyện về hưu!


***
"Khi người ta yêu sẽ cảm thấy mình vô cùng giàu có, bao nhiêu là âu yếm, dịu dàng, thậm chí không thể tin được rằng mình biết yêu đến vậy”. – Anton Chekhov thời đang yêu đã viết như thế đấy.
Chúng ta hãy nâng cốc chúc những ai biết mở ra kho báu cho mình!


***
"Tình yêu về mặt thể xác cũng như tâm hồn – là một sức mạnh vĩ đại. Ai đi nói xấu tình yêu sau khi đã yêu – đó là người lầm lỗi. Tiếng nấc cuối của niềm hoan lạc đã chết phải trở thành lời cảm tạ đối với cuộc đời… Ai đã từng yêu hoặc được yêu dù chỉ một ngày thôi, người đó không có quyền đem cuộc đời chửi bới” – Paolo Mantegazza viết như thế.
Chúng ta hãy nâng cốc chúc mừng những ai không có quyền này!


***
Nhà thơ Sextus Propertius nói rằng: "Không có sự thù hận nào dữ dội bằng thù hận sinh ra bởi tình yêu". Nhà văn Erich Maria Remarque cũng viết: “Không có ai trở thành người xa lạ hơn cái người mà bạn đã từng yêu trong quá khứ". Còn người Việt nam chúng ta cũng thường nói: "Yêu nhau lắm cắn nhau đau”.
Chúng ta hãy cạn chén sầu vì tình yêu nghiệt ngã!


***
Nhà văn Stephen King viết: “Tình yêu có răng và tình yêu biết cắn. Tình gây ra những vết thương mà không lành lại bao giờ, và cũng chẳng có lời nào có thể làm cho nó lên da. Trong sự mâu thuẫn này có một điều chân lý – khi vết thương của tình yêu lên da thì đó là khi tình đã chết".
Vậy thì chúng ta hãy cạn chén chúc vết thương của tình yêu không lành lại bao giờ! Chúc tình yêu!


***
Shakespeare vĩ đại từng viết rằng: “Yêu là mù quáng". Và ngạn ngữ Ấn cũng có câu: "Cú vọ mù ban ngày; quạ khoang mù ban đêm, còn những tình nhân cả ngày lẫn đêm đều mù quáng".
Chúng ta nâng cốc chúc những tình nhân!


***
Nữ thi sĩ Marina Tsvetaeva viết:

Em hiểu ra, anh không phải nói nhiều
Đã không là tình nhân - mắt lại sáng
Ở nơi mà đã từ bỏ Tình yêu
Thì Cái chết - người coi vườn tiếp quản.

Chúng ta nâng cốc chúc mừng những người mắt đã sáng lại!


***
Nhà đạo đức học La Bruyere viết: “Buồn nhớ về người mình yêu dễ chịu hơn rất nhiều là sống với người mình ghét". Và nữ thi sĩ T. T. Kh. Cũng viết:

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi
Mà từng thu chết, từng thu chết
Vẫn giấu trong tim bóng một người.

Chúng ta nâng cốc chúc những hoài niệm của tình yêu!


***
Nhà phân tâm học Erich Fromm viết: "Nếu một người có khả năng yêu một cách đầy đủ thì người này yêu bản thân mình; nếu một người chỉ có khả năng yêu người khác thì người này nói chung là không thể yêu". Và nữ nhà văn M-me de Stael cũng viết: “Ta hết yêu bản thân mình khi người khác không còn yêu ta nữa".
Tôi xin nâng cốc chúc tất cả mọi người không bao giờ hết yêu bản thân mình!


***
Nhà văn Charles Dickens từng viết rằng: “Tình yêu là điều thú vị nhất và là điều dễ tha thứ nhất trong tất cả những yếu điểm của con người”.
Ta hãy luôn tha thứ cho mình và cho người khác vì cái điểm yếu này! Chúc tình yêu!


***
"Tình nhân là gì? Đó là người phụ nữ mà khi ngồi bên ta quên hết tất cả những gì đã thuộc làu từ trước". Nhà viết kịch Sebastien Chamfort đã từng nói như vậy.
Ta hãy nâng cốc chúc những tình nhân!


***
Nữ nhà văn Laura Day viết: “Nhu cầu trong quan hệ luyến ái với người khác là nhu cầu lớn nhất của ta. Ta đang yêu, hoặc đang đi tìm tình yêu, ngay cả khi ta phủ nhận rằng ta cần tình yêu, ngay cả khi ta để mất niềm hy vọng hoặc đang đấu tranh với sự tuyệt vọng, bởi vì đã để mất tình yêu hay bởi vì tình yêu chưa đủ đầy trong cuộc sống. Dù tình yêu của bạn đang ở trong tình trạng nào đi nữa thì thời điểm hiện tại bạn vẫn đang tập trung hết cho tình".
Chúng ta nâng cốc chúc cho nhau luôn có nhu cầu này!


***
Nhà văn Samuel Johson viết: “Hôn nhân chỉ có hai loại: vì tình yêu hoặc là theo sự tính toán. Nếu bạn lấy nhau vì tình thì bạn sẽ có nhiều những ngày hạnh phúc và, chắc là, có không ít hơn những ngày khó nhọc. Còn nếu bạn lấy nhau theo sự tính toán – sẽ không có những ngày hạnh phúc, và những ngày khó nhọc, chắc là, cũng sẽ không còn".
Tất cả đúng như vậy. Chúng ta nâng cốc chúc mọi người lấy nhau theo cách mình chọn lựa. Với một ai đó – thà chịu khó nhọc cũng còn hơn là không hạnh phúc, với một ai kia – thà không hạnh phúc nhưng không hề khó nhọc!


***
Một phụ nữ theo đạo đến than thở với một linh mục rằng cuộc sống vợ chồng cô rất tẻ nhạt, thường xuyên cãi nhau và đôi khi chồng phụ bạc. Linh mục hỏi người phụ nữ:
– Con có yêu hoa không?
– Vâng ạ!
– Thế con sẽ làm gì nếu thấy chậu hoa trong nhà bắt đầu có dấu hiệu tàn phai?
– Con sẽ tưới nước thường xuyên, nửa năm thay đất một lần, thường xuyên chăm bón và đặt ở nơi có ánh mặt trời.
– Cuộc sống vợ chồng của con thì cũng thế: chậu hoa này cũng cần sự chăm sóc, cần sự dịu dàng, cần sự quan tâm, cần những nụ hôn và những lời dịu ngọt. Mà phụ nữ thì hãy nhớ rằng đàn ông yêu bằng mắt, con cần biết cách ăn mặc đẹp, cần sự quyến rũ, cần đầu tóc gọn gàng và áo quần tề chỉnh…
Chúng ta hãy nâng cốc chúc những người vợ khôn ngoan, biết củng cố chứ không phá bỏ cuộc sống gia đình!


***
"Khi bạn đã đi gần hết cuộc đời mình, có một thứ duy nhất có ý nghĩa – đó là tình yêu mà bạn đã đem cho và được nhận về. Trong cuộc hành trình về thế giới bên kia, có một thứ duy nhất mà bạn có thể mang theo – đó là tình yêu. Thứ quý giá duy nhất mà bạn để lại cho cuộc đời này – đó là tình yêu. Ngoài ra chẳng còn gì cả. Tôi biết nhiều người dễ dàng vượt qua những khó khăn trong cuộc đời để hạnh phúc, nhưng chưa hề gặp một ai có thể sống thiếu tình yêu. Điều này giải thích tại vì sao tình yêu là món quà lớn nhất của cuộc sống. Tình yêu mang lại ý nghĩa cho cuộc đời. Chính nhờ tình yêu mà ta đáng sống”. – Nhà tâm lý học Adam Jackson viết như vậy.
Chúng ta hãy nâng cốc chúc mừng tình yêu!



Nguyễn Viết Thắng biên soạn



trả lời


Ngẫm


CHÓ VÀ NGƯỜI

Trần thị Diệu Tâm


Không hiểu tại sao người ta gọi con vật ấy là chó. Cái tên này không gây nên một ấn tượng đẹp theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, nhất là đối với tôi, một người không mấy ưa loài động vật này. Lý do, có lẽ từ một kỷ niệm thuở mới lớn.

Hôm ấy tôi mặc chiếc áo dài mới may. Chiếc áo màu xanh ngọc bích, thứ hàng mới có trên cửa hàng tơ lụa, mẹ tôi nói với tôi, mua cho nó để may mặc Tết. Nhưng chờ đến Tết thì lâu quá, (với thời gian chờ đợi dài gấp mấy lần thời gian bình thường) tôi phụng phịu đi may liền mặc liền, cũng chiều nó thôi. Chiếc áo ấy mãi đến ngày hôm nay, ngồi viết những dòng chữ này, tôi vẫn còn nhớ rõ như đang nhìn thấy trước mắt, chiếc áo hiện ra cùng với cảm giác được mượt mà. Màu xanh tuyệt đẹp, tưởng chừng đó là màu xanh của một khối ngọc non vừa được mang ra ánh sáng từ một hang động nào trên cõi thiên tiên. Khi tôi ướm thử vào người, chiếc quần trắng mới, chiếc áo lót mới làm nổi bật màu xanh vời vợi. Mẹ tôi, nhìn tôi sững sờ ngạc nhiên thấy tôi bỗng lớn hẳn lên. Đã nói, nó dậy thì trông xinh ra. Mẹ ngờ ngợ nhìn vào ngực tôi, đôi vú nhỏ bắt đầu nhú lên như hai quả cau non. Mẹ nói nhỏ với dì, chắc vài bữa cũng phải mua cho nó cái xú chiên, áo lót mỏng không đủ che nổi. Mẹ lại bảo, khi nào đi chơi mới được mặc áo này, áo đắt tiền không phải lúc nào cũng mặc được. Dạo ấy, mẹ bắt đầu mua bán làm ăn phát tài, cái gì đẹp mẹ cũng mua cho con gái đầu.

Tối ấy, tôi xếp bộ áo quần mới, chiếc áo dài mới đặt dưới gối ngủ cho êm, cho thấy ấm áp, và được mơ giấc mơ có hoa có bướm, có bà tiên đến dẫn đi chơi.

Không biết có phải với sự xúc động với áo dài đẹp, hay vì một lý do sinh lý của cơ thể, sáng hôm sau, tôi thấy máu thấm ướt cả quần, chảy ra chiếu. Hoảng sợ, ngẫm nghĩ không biết nguyên nhân nào. Không ngờ sau khi mình may mắn có áo đẹp, lại phải chịu một cực hình như thế. Ông Trời khó khăn chi lạ. Thấy tôi nằm dài mãi trên giường, hỏi tại sao không dậy đi học, tôi nói, cháu bị thương nặng lắm. Bị khi nào ? Hồi đêm đó dì, máu chảy nhiều quá, chắc cháu phải vô nhà thương. Dì tôi à lên một tiếng, mi lớn rồi đó, không phải bị thương. Dì mau mắn đưa một miếng vải trắng mỏng xếp nhiều lớp (bấy giờ làm gì có các loại bông băng) nai nịt gọn gàng cho tôi, nói tôi nằm nghỉ, bữa nay khỏi phải đi học, dì đến trường xin phép cho. Đầu óc tôi rối bời loạn xạ, tôi đưa tay ấn vào bụng, hình như có cục gì trong đó đang vỡ ra, bụng căng, hai quả cau cũng căng. Đi không dám đi, ngồi không dám ngồi, nên chỉ có việc nằm là đỡ sợ đỡ lo. Vì khi bước đi, máu lại ra nhiều hơn. Nếu chảy mãi như thế này, có lẻ tôi sẽ chết mất, áo dài đẹp thế kia chưa có dịp mặc. Nước mắt tôi ứa ra.

Mẹ tôi nói, nó có sớm quá, mới mười ba, thường thì mười lăm, có sớm thì khổ sớm. Câu này cứ ám ảnh tôi mãi về sau. Tại sao mình khổ sớm. Sau này tôi diễn nghĩa thêm, như là biết sớm thì khổ sớm, yêu sớm thì khổ sớm, hay biết nhiều khổ nhiều. Những ngày bị bệnh, trời mưa dai dẳng, buồn muốn chết. Tôi nghỉ học cả một tuần lễ, chờ hết. Mẹ dặn dò, không được ăn me chua, không được ăn ổi xanh, không được ăn chùm ruột chấm muối ớt. Chao ơi, nhớ mà thèm, nhưng khoái lắm, vì biết mình bệnh thật, không cần giả bộ đau bụng như những lần trước trốn học.

Sáng hôm ấy, tôi nhớ trời đẹp lắm, gần Tết rồi. Khi thấy cây mai trước sân nở ra những chùm hoa vàng đầu tiên, tôi đánh liều quyết định mặc áo dài xanh mới. Giữa sự hiện diện của chùm hoa mới nở và sự mộng mơ tuổi mới lớn, hình như có ai thúc đẩy mình hành động quyết định một điều mà lý trí không thể kiểm soát được. Vì nếu không liều lĩnh quyết định, e rằng mình không thể lớn lên làm người.

Tôi nói bữa nay con phải đến trường ăn tất niên. Tiệc tất niên cũng như tiệc Tết, nên cần phải mặc áo quần mới, đó là lẽ đương nhiên. Tắm rửa sạch sẽ xong, tôi mặc nguyên bộ đồ mới. Nhìn thấy mình trong gương tươi tắn, bỗng nhiên nhớ chuyện máu chảy, thấy ớn lạnh quá. Dì nói máu sẽ ra một tháng một lần, may chưa tới một tháng, mau mau mặc đẹp đi chơi, kẻo rồi lại khổ sớm.

Hôm ấy, tôi không đạp xe đạp, vì mặc áo quần đẹp thế kia phải đi bộ thong thả cho ra dáng thiếu nữ con nhà khuê các. Chẳng thế mà mấy người đẹp lừng danh xứ này đều luôn luôn đi bộ đến trường, đi qua cầu Trường Tiền gió bay tà áo thì phải biết, đẹp mê hồn đi chứ. Tôi ghé qua nhà Tố.

Vừa vào đến cổng nhà, con chó lớn bỗng dưng hôm nay nó nhào ra, ngoạm ngay vạt áo dài bích ngọc của tôi, kéo rách toạc. Tố chạy ra ôm con chó đuổi nó ra sau nhà. Tôi hoảng sợ nhìn vạt áo, nghẹn ngào.

Tố phân bua, hôm nay bạn mặc áo đẹp quá nên nó tưởng người lạ đó, mọi lần nó đâu có dữ tợn như vậy. Nói xong Tố lấy chiếc kim băng ghim tà áo phía bên hông. Tôi không nói được nên lời, im lặng, không thèm nhìn Tố, trở về nhà không đến trường nữa. Để nguyên bộ áo quần mới, tôi nằm dài ra giường tấm tức khóc. Tôi thề từ nay không thèm đến nhà nó, thề không chơi với nó và không nhìn mặt nó. Con Tố, chủ của con chó hung dữ độc ác kia. Tố có nhiều tính không được bạn bè ưa cũng phải, con nhà giàu kín cổng cao tường. Mẹ nó thường cho lối xóm vay nợ ăn lời cắt cổ, tiền của nhiều nên phải nuôi chó dữ. Nó còn hay mượn bài vở của mình chép lại. Tố bỗng hiện nguyên hình một cô bạn nhiều nét xấu. Làm sao nói với mẹ, với dì. Thế nào họ cũng nói con ni lanh chanh như hành không muối, vào nhà ấy làm chi.

Sở dĩ tôi ghé qua nhà Tố vì nó căn dặn, khi nào đi bộ ghé qua rủ mình đi với nghe. Nó có chiếc răng khểnh duyên dáng, và hơn thế nữa, ngôi nhà của nó đẹp lắm, đẹp nhất xóm, tọa lạc giữa một khu vườn cây xanh mát, hai bên lối đi có trồng cả hoa hồng. Đi vào một ngôi nhà sang như thế mình cũng thấy dễ chịu, nhất là khi mặc chiếc áo dài mới như thế này. Người ta thường nói, chọn bạn mà chơi. Bạn sang thì mình cũng sang theo, bạn đẹp thì mình cũng đẹp theo. Các chị lớn mấy lớp trên thường chơi với đám bạn đẹp nên nổi tiếng, nên lừng danh. Sau khi bị chó cắn, tôi hứa từ nay chừa cái tật chọn bạn như vậy. Con Hường gần nhà, thích lân la với tôi nhưng nào tôi có màng để ý. Nhà nó vách gỗ vách ván, chẳng vườn tược hoa trái, buồn chết. Nhưng nó không hề có chó dữ, khi mẹ nó nấu chè đậu ván, nó mời tôi sang ăn, nhưng tôi lắc đầu bận học bài. Tôi đâm ra ân hận đủ thứ.

Nhìn chiếc áo mới, ôm vào lòng, như ôm một nỗi ngậm ngùi khôn nguôi. Tôi nhanh chóng nghĩ ra được cách che dấu, ngày Tết chắc chắn sẽ lạnh, tôi có dịp mặc áo len bên ngoài áo dài mới, chẳng ai thấy được đường rách, mẹ không biết.

Nhưng chiếc áo rách rồi, tay ai tài giỏi vá lành lại đây, buồn không tả. Rách, không thể lành, không thể hàn gắn như xưa. Cái áo mới sẽ được khâu vá lại, nếu khéo che đậy, có khi không ai thấy, nhưng thực chất nó đă trở thành một chiếc áo cũ rách. Tôi bần thần ngẩn ngơ về những điều lạ lùng xảy ra. Tuổi mười ba, cùng với một sinh lực chớm nở dậy thì đầy mộng mơ, tôi đã biết ngậm ngùi thất vọng một điều không may xảy đến cho mình. Vừa mới hân hoan hãnh diện mặc tấm áo dài mới, bỗng chốc con chó dữ xé toang vạt áo. Tôi choáng váng suốt cả mấy ngày liên tiếp vì biến cố này. Đúng như mẹ nói, có sớm khổ sớm. Tôi thấy khổ vì biết cảm nhận cái vô lý, cái không bình thường vừa xảy ra.

Từ dạo ấy, con chó gây nên một ấn tượng không mấy đẹp với tôi. Nhà ai có nuôi chó, tôi tránh xa, quen biết mấy tôi cũng không muốn vào.

* * *
Lúc qua ở bên Tây, thỉnh thoảng về thăm mẹ ở tỉnh xa. Mẹ nuôi chó. Thấy mẹ cưng quỷ chó, tôi cũng phải nể nang nó ra mặt. Tôi mạnh dạn đưa tay vuốt ve đầu nó nói vài ba câu xã giao cho ra vẻ có tính (để làm vui lòng mẹ). Nhưng tôi nói tiếng Việt nó chẳng hiểu gì cứ sủa gâu gâu. Mẹ bảo phải nói tiếng Tây. Tôi chột dạ, lỡ nói không đúng văn phạm, chắc nó chẳng hiểu.

Trong phòng khách, con chó được ngồi một vị trí ưu tiên nhất, đó là chiếc ghế bọc nệm gần mẹ tôi. Trong phòng ăn, nó cũng chiếm một vị trí gần bà chủ nhà. Thức ăn của nó được nấu riêng, không phải là thứ dư thừa. Mẹ tôi gọi nó là Bu (viết theo chữ Pháp là Bou). Cái tên dễ gọi không lôi thôi như Jean Louis David, hay Jonathan.

Tối ngủ, mẹ nói Bu qua ngủ với mẹ, còn phòng nó để dành cho tôi. Đó một căn phòng có giường rộng dành cho khách, nhưng không có khách thì Bu chiếm ngự. Căn phòng có mùi đặc biệt, dù thay áo gối ra giường khác sạch sẽ tươm tất, tôi vẫn ngửi được cái mùi kỳ lạ từ khi bước vào phòng. Đó chính là mùi của con Bu, nó khác với mùi của con người. Suốt cả một đêm tôi không thể nhắm mắt ngủ vì cái mùi này.

Cuộc đời mẹ, từ những ngày ấu thơ, lớn lên lấy chồng cho đến nay, trải biết bao thăng trầm. Tôi ít dịp được ở gần mẹ, sau năm mười ba tuổi, mẹ đă đi buôn bán xa rồi. Tôi vào học nội trú trường bà sơ, kỷ luật nghiêm nhặt. Cuộc chiến tranh Việt Pháp đă làm rách nát mọi gia đình, trong đó có tôi. Cha tôi đi kháng chiến chống Pháp, mẹ ở nhà buôn bán tần tảo với người Pháp (đôi khi lo tiếp tế cho cha tôi ở mật khu). Nhờ có học tiếng Pháp, mẹ làm ăn phát đạt. Mấy tấm hình của mẹ chụp ngày xưa, thấy mẹ rất đẹp. Có lẽ nhờ ở những ưu điểm ấy mà mẹ tôi sớm chịu những oan trái cuộc đời. Tôi luôn ám ảnh, cho rằng một con người có ưu điểm, hay có may mắn hơn người khác thì phải bị thua thiệt ở mặt nào đó. Tôi nhớ có lần gặp một bác lớn tuổi cho biết rằng mẹ cháu xưa kia đẹp lắm. Tôi thật xúc động, chỉ muốn ôm bác nói vạn lời cám ơn. Tôi là một đứa con như muôn vạn đứa con khác, luôn mong muốn nghĩ rằng mẹ của mình là người đàn bà hơn người. Mẹ đẹp hơn người, giỏi hơn người, thông minh hơn người, nhưng, mẹ khổ hơn người. Nghĩ vô tư thật.

Mỗi khi gặp có tôi bên cạnh, mẹ kể chuyện đời xưa, những chuyện buồn khổ ám ảnh mẹ không nguôi. Tôi an ủi, mẹ ơi đừng nhắc những chuyện buồn nữa, sao mẹ không nhớ những chuyện vui. Mẹ lắc đầu, mẹ chẳng biết cái chi vui mà kể. Thuở nhỏ năm lên mười tôi thuộc thơ TTKH, vì mẹ hay ngâm nga. Mẹ cũng ngâm lại bài thơ của cha tôi làm tặng mẹ khi hai người mới thương nhau, ngâm xong mẹ nói thương vậy mà cũng bỏ đi.

Đang lan man nghĩ ngợi, nửa đêm, con Bu bỗng chạy qua phòng tôi, có lẻ muốn chiếm lại giường ngủ. Nó nhảy phóc lên giường. Tôi khiếp vía ngồi ngay dậy bật đèn sáng. Nó nhả vào cạnh tôi một khúc xương ống trắng hếu, lại gầm gừ nhìn tôi. Con này thật quá quắt, nó muốn đuổi mình đây.

Sáng mai tôi đáp xe lửa về Paris sớm, vì giận con Bu quá. Mẹ tôi hỏi sao không ở lại thêm. Tôi buột miệng ngủ với chó hôi quá chịu không được. Câu trả lời rất đúng sự thật, nhưng làm phẫn nộ mẹ. Mẹ giận dữ nói tao nhờ nó mà sống được đến ngày hôm nay, con cái có đứa nào chịu ở với tao, mi chê nó hôi tức chê tao hôi. Tôi ân hận lỡ lời. Tôi chào mẹ ra về, con Bu thấy thế, vì cũng không mấy ưa tôi, đứng cửa sủa gắt lên. Đáng lẽ ra tôi phải vung tay nói muôn ngàn lời cảm tạ với Bu, rằng em đă thay mặt chị ở với mẹ, yêu thương mẹ, em đã giúp thêm nghị lực cho mẹ sống với đời này, chị biết em là con người hóa kiếp chó, em nhiều tình cảm đối với mẹ, mẹ bảo gì em cũng vâng lời, không hề tỏ ý kiến trái lời mẹ, em là đứa con ngoan ngoãn nên được mẹ thương yêu nhất nhà. Tôi thầm thì nói với Bu khi ngồi trên chuyến xe lửa tốc hành trở về. Ừ! Ừ nhỉ, tôi sẽ viết cho nó bức thư dài tạ lỗi. Nhưng về đến nhà, công việc dồn dập trước mắt, tôi lăn vào cuộc sống mệt mỏi và quên bức thư tha thiết dự tính viết cho Bu.

Mẹ tôi giam giữ quá nhiều cay đắng trong lòng, chỉ cần một vết nứt nhỏ, niềm đau nỗi khổ ấy chợt vỡ ra, tuôn ào ạt. Mẹ viết cho tôi một bức thư dài nói về con chó của mẹ. Mẹ ca tụng nó như một đứa con nuôi hiếu thảo nhiều tình cảm, và kết luận nó là con chó nhưng tốt hơn con người.

Những chuyến về thăm Việt Nam, mẹ đem Bu đi theo, mua cho nó một chỗ ngồi trên máy bay. Mẹ không thể sống xa Bu. Bu là điểm tựa tinh thần, là sự an ủi, là sự ve vuốt cho nỗi cô liêu hoang vắng đời mẹ. Mẹ quyết định về sống lại ở Việt Nam, vì theo mẹ, xứ Tây này ích ỷ quá, sống không nổi.

Năm vừa qua, vào nửa đêm, tôi bị đánh thức dậy vì cú điện thoại gọi từ Sàigòn cho biết mẹ đă chết rồi.
Khi người mẹ của mình chết đi, mình như thế nào nhỉ ? Muôn ngàn mũi kim châm chích vào thịt da mình, muôn ngàn tấn ân hận đè lên trái tim mình. Vé máy bay mua không kịp, tôi về trễ, không kịp giã từ mẹ, không kịp đưa mẹ vào lò thiêu xác. Không kịp gì cả. Nếu tôi suy nghĩ kịp, nếu tôi hành động kịp, cuộc đời tôi bớt tiếc nuối nhiều chuyện.

Hôm tẩm liệm mẹ ở Sàigòn, dì tôi nói con Bu chạy vô chạy ra tru lên thảm thiết, người ta phải cột cho nó vành khăn trắng trên đầu. Nhìn tấm ảnh mẹ để trên quan tài bên cạnh vòng hoa phong lan màu tím, mẹ cười tươi dịu dàng. Mẹ đẹp quá. Mẹ vui lòng được chết trên quê hương mình sau nửa đời xa cách.

Dì tôi nói chị mất thế mà yên. Sống khổ, nên chết là yên, là hạnh phúc. Chỉ có chết, mẹ mới được bình an. Tôi ôm bình tro mẹ trong tay nước mắt chảy dài, tự hỏi tại sao lúc mẹ còn sống, tôi không hề một lần nào ôm mẹ trong tay. Tôi xa cách mẹ và mẹ xa cách tôi. Mới đó mẹ chết rồi. Tôi ngơ ngẩn lảm nhảm. Đất vẫn quay, trời vẫn có ngày có đêm, xe vẫn bóp còi inh ỏi trên đường phố Sàigòn, chỉ có mẹ là chết.

Tôi không bao giờ gặp mẹ trên cuộc đời này nữa.

Hôm tôi về đến nhà Sàigòn, con Bu chạy ra nhìn tôi, đôi mắt đen láy chăm chú nhận diện quen biết, vẫy đuôi mừng rỡ. Cả nhà ngạc nhiên, tôi cũng ngạc nhiên, sao nó còn nhớ tới mình. Bu nhớ chứ, nó nhớ tôi là con của mẹ, người đã sống cùng với nó như hình với bóng. Mẹ tôi bỏ nó ra đi mãi mãi không về. Mấy ngày sau khi mẹ mất, nó bỏ ăn nằm ủ rũ trong góc nhà. Khi tôi về, bỗng dưng nó quấn quít bên cạnh tôi. Tôi ngồi đâu, Bu cũng lẩn quẩn theo ngồi bên cạnh. Ai bảo gì cũng mặc, chỉ có tôi bảo nó mới nghe lời. Các dì bảo con chó khôn thật, vì tôi giống mẹ. Máu huyết tôi là máu huyết mẹ, Bu hiểu điều ấy hơn ai hết, và trong thâm tâm nó, hy vọng rằng tôi sẽ nuôi nấng nó thay mẹ tôi (có thể nó quên chuyện đă từng dọa nạt tôi trong đêm khuya).

Buổi tối, không ngủ được, vào nửa đêm, tôi bật đèn ngồi dậy. Bu nằm dưới chân giường đưa đôi mắt đen buồn thảm nhìn tôi. Đôi mắt nó ướt như vừa mới khóc. Tôi không ngủ, nó cũng không, cả hai chúng tôi đều nhớ mẹ. Tôi đưa tay vuốt đầu Bu, nó dụi đầu vào tay ư ử ra chiều cảm động. Bu thè lưỡi liếm vào chân tôi, cử chỉ Bu thường làm với mẹ, chiếc lưỡi mềm mại của Bu thật trìu mến. Tôi thương mẹ quá, tôi thấu hiểu tại sao Bu chiếm được tình thương của mẹ. Có khi nào tôi ôm chân mẹ như thế chưa. Bu đã hôn lấy bàn chân gầy ốm tật nguyền của mẹ mỗi ngày, mỗi đêm khi mẹ mất ngủ. Tôi đau đớn ân hận.

Tôi bảo nó lên giường nằm bên cạnh. Mẹ nói đúng, Bu xứng đáng hơn tôi. Có lẽ mẹ tôi ở nơi nào đấy, đang mỉm cười với với con gái, biết tôi thương yêu Bu như mẹ đã thương yêu nó. Điều này chắc chắn mẹ vui lòng lắm.

Khi đến tòa lãnh sự Pháp để lo giấy tờ khai tử cho mẹ, tôi bị làm khó dễ ở cổng gác với nhân viên Việt Nam, lý do hôm nay đông khách, để lần khác. Tôi xin trực tiếp nói chuyện với nhân viên sứ quán người Pháp, chẳng đặng đừng, họ cho tôi vào. Trong văn phòng dịch vụ, không thấy có bóng khách nào ngồi chờ. Anh Tây trẻ ra bắt tay chào mời ngồi đàng hoàng. Chị đầm lo giấy tờ, nhanh chóng đưa giấy xin ký tên vào tờ khai. Chị đầm nói, mấy bà lớn luổi về đây ở đều bị chết sớm, không khí ở đây rất độc vì dơ bẩn. Trong cử chỉ nói năng của tây đầm ở tòa lãnh sự, họ xem tôi là người đồng hương. Tôi cũng nhận thấy có điều thân ái giữa họ và tôi, điều này tôi khó tìm ra được ngay, khi tiếp xúc với đồng bào trên cố hương mình. Một cảm giác nhói đau trong trái tim, tôi tự hỏi nơi nào là quê hương thực của mình, Pháp hay Việt Nam ? Tôi nhìn xung quanh tòa nhà lãnh sự, không khí thoáng mát hơn ngày ấy, ngày mà gia đình tôi lo lắng khép nép e dè hồi hộp vào làm giấy tờ xin đi ra khỏi xứ sở này. Ngày ấy, tôi người Việt Nam. Hôm nay, tôi vào đây với thái độ ung dung của một công dân Pháp, được đối xử lịch sự thân tình. Tôi là người gì, Pháp hay Việt ? Lúc ở Tây, tôi sống giữa những kẻ khác chủng tộc. Về Việt Nam, tôi thấy mình không hẳn là người Việt. Đó là sự mâu thuẫn rắc rối khá đau lòng.

Tôi sắp sửa trở về Pháp, thấy tôi lăng xăng dọn dẹp áo quần hình ảnh mẹ vào vali, Bu như cảm thấy một điều gì đó, nó quấn vào chân tôi không rời. Tôi ở nhà bếp nó chạy xuống bếp, tôi lên nhà trên nó chạy lên theo sau bám sát, thỉnh thoảng Bu ngẩn đầu nhìn tôi thắc mắc. Đôi mắt Bu lạ lùng, đôi mắt đen tuyền long lanh và thắm đẫm dịu dàng, đẹp hơn cả mắt người. Mẹ ơi, bây giờ con mới hiểu tại sao mẹ yêu quý Bu đến thế. Tôi lặng người nhìn đôi mắt tha thiết. Ngày mai tôi đi, không thể đem nó theo cùng, tôi không thể cưu mang nó như mẹ tôi. Phải để Bu lại đây thôi. Càng đến giờ ra đi, tôi càng lưu luyến nó, thứ tình cảm ủy mị này tôi chưa hề trải qua với người, nhưng với con động vật này, tôi biết mình cũng yếu đuối quá. Tôi tránh những cử chỉ vuốt ve, sợ làm nặng thêm cho nó, cho tôi, nỗi chia lìa. Bu là tình thương của mẹ, tôi thương nó chính là thương mẹ. Điều này tôi mới vừa nhận biết, tôi trả hiếu mẹ tôi quá muộn màng. Không kịp.

Tôi và dì đang bàn tính chuyện nuôi nấng Bu. Dì tôi năm nay cũng già yếu, trí óc lẩn thẩn quên trước quên sau. Dì nói con Bu quen ăn sướng rồi, ở với dì ăn cực không biết nó có chịu được không. Mẹ sáng nào cũng cho nó bánh mì quết bơ, bơ nhiều ăn, bơ ít chê, nó thích ăn thịt bò chứ không ăn thịt heo, phải đi mua xương phở cho nó nhai. Tôi nói tập cho quen có gì ăn nấy, mẹ mất rồi, phải biết thân biết phận chứ. Tuy nói vậy, tôi không tránh khỏi xót xa.

Buổi sáng lên phi trường, để tránh sự đau lòng của Bu, tôi nhờ người nhà đem hành lý ra xe trước, trong lúc Bu ăn điểm tâm sau bếp, tôi lẹ làng lén ra xe. Khi xe rồ máy, tôi nghe thấy tiếng sủa inh ỏi trong nhà, tiếng sủa tru lên gào thét. Xé lòng.

Xe ngang qua ngôi nhà thờ có tro tàn của mẹ, nước mắt tôi chảy dài. Có một sinh linh bị hai lần tuyệt vọng, con Bu, một lần mẹ bỏ nó, một lần nữa tôi bỏ nó. Mẹ ra đi không bao giờ trở lại, còn tôi biết bao giờ trở lại xứ sở này, và lúc bấy giờ Bu còn sống chăng.

Mẹ tôi, một người đàn bà cưu mang tất cả sự khốn cùng rách nát của chiến tranh, cưu mang gánh nặng nỗi nhục nhằn của một kiếp người. Nỗi cô đơn lạnh lẽo xứ người làm mẹ xác xơ, co quắp trước một thói đời ích kỷ, mẹ mất hết hy vọng. Mẹ hoang phế trong đời sống này. Mất quá khứ, mất hiện tại, vô vọng với người thân. Mẹ xa lánh mọi người, chỉ trừ nó, con chó.

Trần Thị Diệu Tâm


Nguồn: VNThuquan.net



trả lời


Ngẫm


Ba hạt minh châu





Ông bạn tôi yêu hoa phượng tới độ lên hẳn một kế hoạch qua mặt luật pháp Mỹ. Ông về Việt Nam thăm gia đình nhưng chọn đúng dịp hè chỉ để nhặt vài hạt phượng rơi ở sân trường cũ như nhặt lại mối tình học trò ấp ủ bao năm. Sau đó, gỉa bộ vô tình quên chung với mớ bạc cắc trong cái túi phụ của cái xách tay, thế mà ông qua được sự kiểm soát tinh vi ở phi trường Los Angeles lúc ông trở lại Mỹ.

Về tới nhà ở Dallas, ông trân qúy ba hạt phượng như bảo vật. Ông bỏ vào hũ miểng, bỏ thêm mấy túi chống ẩm lấy lại từ những hũ thuốc tây đã hết. Từ đó, ông ngắm nhìn ba hạt minh châu (cụm từ của vợ ông) trong hũ miểng như ngắm lại một thời đã qua.

Bao nhiêu tâm tình với dĩ vãng đã xa thì chắc chỉ ông với Trịnh Nam Sơn biết! “Người ơi! dĩ vãng đã xa…” Ông khoe bạn bè khi có ai nhắc lại thời đi học. Ông nói về hoa phượng, mùa hè và tuổi nhỏ thao thao bất tuyệt như cố chứng minh rằng: Tôi ít nói vì chưa đúng chủ đề đó thôi! Nhưng khi mọi người không còn muốn nghe về chủ đề cũ rích thì chả ai để ý đến sự thẫn thờ, đôi mắt buồn vời vợi của ông. Tôi cũng vô tình nhận biết ra điều đó thôi chứ nào giờ tôi đâu phải người tinh tế gì đâu. Tôi khuyên ông nên gieo xuống đất để một ngày nào đó những người yêu hoa phượng nơi đây, bất ngờ thú vị thấy đỏ tươi trước sân nhà một người đồng hương. Báo chí địa phương thể nào chẳng đến chụp vài tấm ảnh, thơ phú tràn lan trên báo chí cho mà xem. Chuyến này tha hồ đọc văn thơ nữ giới vì hoa phượng gắn chặt với những kỷ niệm đầu đời, tuổi thần tiên của họ. Mấy ông mãnh đã gìa không mặn với hoa phượng lắm đâu vì ngày xưa mấy ông hái hoa phượng chỉ để mưu đồ người nhận, đàn ông chỉ yêu hoa biết nói, ít ai yêu hoa kỷ niệm như ông đây…

Ông nghe bùi tai nên quyết định hạ thổ ba hạt minh châu.

Ông đợi sang xuân là gieo hạt xuống chậu đất phân đã chuẩn bị sẵn sàng. Chậu đất đặc biệt tới một anh bạn trẻ gọi là Hoàng Châu Cát Cát bởi loại đất gì vàng vàng, chiếu chiếu cát mịn trong đó để cho tơi, cho xốp. Tôi có thể viết thành sách nếu gom hết những chuyện kể của ông từ khi đặt ba hạt minh châu vào hoàng-sa-thổ. Đại khái là từng ngày đi làm về, ông cầm ly rượu đỏ hay chai bia, đến ngồi bên người tình học trò còn chưa nứt mắt. Ông tưới, ông trông, ông nom… sợ từ cái kiến tới con sâu. Ông nhớ nhiều về thời niên thiếu, thuở quần xanh áo trắng lê la khắp thị thành. Nhớ từng đôi mắt đã hớp hồn ông để thương hoài ngàn năm, nhớ người ơi! dĩ vãng đã xa nào đó bằng thơ như tất cả những người Việt Nam (mỗi người Việt Nam là một nhà thơ). Ông biết tánh tôi ưa cả nể nên ông cho xem chứ đưa cho mấy ông bạn khác thì sợ họ cười. Tôi thích bốn câu trong bài tứ tuyệt, lê thê: “có lần tôi với hơi qúa tay/ bởi người tôi thích thích hoa bay/ qúa đà tôi té trong đôi mắt/ tay cầm hoa phượng tới hôm nay…” đọc rồi tôi tưởng tượng ra thời niên thiếu của ông: ngổ nghịch, phá phách… chắc cũng thuộc loại “làm học trò không sách vở cầm tay/ có tâm sự đi nói cùng cây cỏ*” mỗi năm đến hè nghe được lên lớp thì mừng húm vì những tên linh tinh cỡ đó thì thường ba năm hai lớp. (Kinh nghiệm bản thân tôi như vậy!)

Tôi lại nghĩ lan man: Khi tuổi tác cảm nhận được chỉ có sự yên lặng là tử tế thì người ta trôi về miền qúa khứ nhiều hơn vươn tới tương lai. Ông hên là gặp được bà nhà cũng thuộc tuýp người hiền lành, cam chịu, có lãng mạn hay không thì hạ màn phân giải. Nhưng bởi cuộc sống, công ăn việc làm, gia đình, chồng con, họ hàng bên đây bên kia biển đã đánh cắp từng ngày hết những mộng mơ. Nhìn bà cơ cực trên xác thân, mệt mỏi trong ánh mắt… đâu ai biết được gì ẩn khuất bên trong. Lòng dạ đàn bà bí hiểm như biển Thái bình hiền hoà, bao dung nhưng nổi sóng thì nhận chìm tất cả!

Trong từng đời người không ít thì nhiều những bâng khuâng một thuở khi trao ai cành hoa phượng với tha thiết mong cầu; không ít thì nhiều những bâng khuâng khi nhận hay không nhận một cành hoa để nhiều lần tự trách sao mình không độ lượng. “Rồi ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại, cuộc tình nào đã ra đi khi ta còn ngồi mãi nơi đây…*” Khi tất cả chỉ còn là kỷ niệm thì kẻ chôn chặt trong lòng, người mượm thơ văn nói ra những thương mong. Khi đời sống (cơm áo gạo tiền) không còn làm khó được người ta thì người ta làm khó nhau! Hai người đồng hành đi qua gian lao cuộc sống để cùng hưởng an nhàn, thành qủa sau năm tháng cực nhọc chứ đâu phải để hết trách nhiệm với nhau. Tình cảm không thăng hoa thì đừng để nguội lạnh theo đà cấm khẩu của nguyên lý: chỉ có sự im lặng là tử tế.

Ông tâm sự với tôi như một người hiểu biết nhưng hành động như một người ích kỷ. Từ ngày hạ thổ ba hạt minh châu, ông trút bầu tâm sự với người tình học trò chỉ còn là dư ảo thì nhà ông không còn tiếng cãi nhau loạn xị. Ví như trước đây, về đến nhà là ông la toáng lên chuyện giày dép vợ con để không đúng quy cách như ông quy định, ai uống ly nước đá mà không có miếng napkin hay cái dĩa con phía dưới, làm hơi lạnh in dấu lên bàn kiếng, hay nước tươm ra làm hư mặt bàn gỗ bóng loáng mà ông lau chùi mỗi cuối tuần. (Những linh tinh, lẩm cẩm khác nữa… nhưng chớ có ai dại bảo ông gìa sinh tật khó khăn là khốn đấy!) Ông rầy la không để cho ai sợ, ông cũng không theo đạo thờ vật chất mà chỉ cốt ý giáo dục ý thức trách nhiệm trong đời sống cộng sinh, nề nếp vệ sinh trong cuộc sống chung với hy vọng con cái ông sau này đi đâu, sống ở đâu cũng được người khác không coi thường chứ cũng chả cần kính trọng. Nhưng thường là ông bị bà cự nự khó khăn, khắt khe qúa đáng! Thế là ỏm tỏi trong nhà.

Nhưng từ hôm ông gieo ba hạt minh châu vô chậu đất thì về đến nhà, ông không quát nữa! Có gì chướng mắt ông, ông tự tay dọn dẹp để khỏi la, khỏi cãi thì mới còn thời giờ tâm sự với ba hạt minh châu. Ông ngồi sắp lại những đôi giày dép lung tung, bà gọi con gái ra nói nhỏ. Con gái ông lặng lẽ đến sau lưng bố: “Con xin lỗi bố. Bố để đó con.” Hôm sau ông về, giày dép ngăn nắp đúng như ông muốn. Thế ra la lối om xòm bao nhiêu năm là vô ích?!

Ông hài lòng về cô con gái còn ở nhà với cha mẹ chứ anh chị nó thì đi không muốn về, đã rõ. Ông chợt nhớ ngoài những đứa con, ông hình như có vợ nữa?! Bà vẫn hiện diện qua từng bữa ăn, món ăn mà ông ưa thích. Ông tính công sơ sơ để trả công bà nhưng tiền nào trả nổi mấy mươi năm, từ ngày da trắng tóc xanh đã da nhăn mắt xếp. Ông hối hận nhiều đêm nên tự dọn bàn sau khi ăn, xắn tay áo rửa chén thì bà không cho. Thế là bà rửa ông úp, tình ơi là mùi nhưng mùi chuột chết. Bởi xong chuyện, ông đi đọc báo, xem tivi thì bà xắp lại cái máy rửa chén vì ly ông úp với nồi, dao kéo cứ nghểng lưỡi lên trời như chờ tay ai sọc vô máy rửa chén là đổ máu. Ông gài bẫy bà đấy chăng? Chén ông úp lên cái phin pha cà phê, rồi sáng mai ông lại la lối om xòm: “Cái phin pha cà phê của tôi đâu rồi?” ông không bao gìơ tìm được vật gì ngay trong nhà ông nên ông giải quyết bằng cách la toáng lên thì bà sẽ tìm cho ông. Ông kết luận nhẹ hều: “Thì ra cả đời. Tôi chỉ tìm được mỗi món qùa thượng đế giành cho tôi là tìm được vợ tôi.”

Ông nói ra câu nào nghe cũng phải nhưng đừng nghe những gì đàn ông nói mà hãy nhìn kỹ những gì đàn ông làm! Toàn ngược. Đàn ông thương vợ khi đã để trong hòm chứ lúc còn sống thì thương bồ cũ nhiều hơn (lại kinh nghiệm bản thân…). Lúc này thơ phú nhặng cả lên vì ngày nào cũng đi mây về gió với ba hạt minh châu. Chẳng nghe ông nói tới những than phiền, càm ràm của bà nữa và cũng không nghe ông kể công bà giáo dục con cái. Dạy con là chuyện của mẹ, con hư tại mẹ cháu hư tại bà nhưng con ngoan là đức của bố. Khoe con mình là việc của đàn ông, đàn bà biết gì mà khoe, không khéo lại thiếu điểm của con ông.

Đứa con còn lại trong nhà lúc này cũng ít ở miết trong phòng hơn. Nó lượn tới lượn lui nói cười rôm rả làm ông vui theo. Hóa ra đàn bà con gái thích nói! Bà cũng bớt im ỉm như người tù khổ sai chung thân. Từ những lời lẽ đã nói ban đầu về ba hạt minh châu của ông: “… tào lao”; “… làm chuyện không đâu”; “… dư tiền thì cứu đói nạn nhân bão lụt mà để đức cho con cháu, tiền đâu dư mà tốn hai ba chục bạc đi mua đất tốt nhất để ươm trồng phượng vĩ ngày xưa”; “Gìa rửng mỡ…”; “…gìa sinh tật”… Nếu bà nhà còn nhớ những gì mình đã nói thì bà không tự tay bưng chậu phượng ươm ra phơi nắng cho có nắng để ông hú hồn hú vía! Đi làm về không thấy chậu phượng ươm của ông đâu. Ông lo rồi điên tiết quát ầm lên như vỡ chợ. Sau đó hối hận, lại lo bệnh la tái phát rồi hứa với mình đừng la lối om xòm nữa nha, ta.

Tôi không tài nào kể hết chuyện gia đình ông bạn vì chuyện dài như Chương trình gia đình bác Tám trên đài truyền hình Sàigòn trước ’75. Chỉ biết từ đó. Sân sau nhà họ có đôi ghế tình nhân với cái đôn dã chiến là khúc cây nhà kia cưa cây, đốn cây. Ông khệ nệ nhặt về để cho chậu phượng ươm của ông ngự tọa. Ông ngồi một mình không hề chán chỉ thấy cô đơn trong những buổi chiều tàn. Giữa ngổn ngang những ký ức đã xa đến rò rỉ dư lệ thì người chia sẻ duy nhất với tâm tư ông cũng chỉ có bà. Ông không nhớ tự bao giờ đã không ngồi bên nhau một cách ôn hòa như hiện tại. Ông bị cô con gái nháy lén tấm ảnh ông đưa tay vuốt mấy cọng tóc mai đã bạc của bà. Mặt mày ông trơ trẽn, chẳng xứng với nụ cười trong héo ngoài tươi chút xíu nào. Ông nói rồi không biết phải mình nói hay không? “Em vào rót cho anh ly rượu”. Bà không quang quác như con qụa gìa, như mọi khi mà đi đỏng đảnh như hồi con gái, bưng ra nửa ly hồng hồng: “… đủ rồi đó nha! Chiều nay ly rưỡi rồi đấy!” ông không nổi khùng với kỳ phùng địch thủ như hôm qua mà ông lại nhớ đã bao lâu ông không hề hỏi… nên ông hỏi: “em uống gì không?” rồi ông đi lấy.

Mặt trời mọc rồi lặn để lại mọc, nhưng đây là lần đầu ông thấy chói qua con tim mình chân lý phượng yêu. Phượng ươm chưa hé mầm nảy đọt mà hoa đã nở trên môi cười. Những bông hoa biết nói trong nhà ông lúc này ưa tủm tỉm. Cô con gái ù lì dù chưa từng bệnh hoạn nan y nhưng không khéo: con này á khẩu vì chẳng nghe nó nói bao giờ! Biếng cười như biếng ăn, biếng ngủ. Bây giờ nó ưa luyên thuyên, kể lể đủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Bao lâu rồi nó mới đứng sau lưng bố, quàng tay ra trước ngực ông mà hôn lên gò má nắng mưa chai xạm của người cha lạnh nhạt. Ông mừng, con ông đã biết nói dù hơi muộn. Tới tuổi đi Đại học nó mới biết nói câu: “mời bố mẹ vô xơi cơm, con đợi.” Ông ăn bữa cơm ngon nhất trong đời từ khi sinh ra con bé èo uột này.

***

Ba hạt phượng buồn trong chậu đất tốt nhất trên nước Mỹ mà vẫn không sao hé mầm nảy đọt. “Qúa khứ đã xa không trở lại bao giờ! Qúa khứ chỉ còn là kỷ niệm cho lòng trân qúy nếu mình trân qúy. Không thể nào bắt qúa khứ sống lại như hiện tại dù tốt hay xấu hơn cũng là hiện tại hiện hữu một lần thôi như hạnh phúc đang có là tiếng cười, nước mắt của hôm nay. Một lần té trong mắt người để tay cầm hoa phượng tới hôm nay chỉ nên giữ gìn như kỷ niệm. Đừng tìm kiếm trong vô vọng mà quên những hiện tại đang từng ngày hóa thành kỷ niệm. Hãy làm cho hiện tại vui lên để sau này kỷ niệm vui”. Tôi đã trả lời cho ông câu hỏi: “Ba hạt minh châu của tôi có bị trụng nước sôi hay không mà không hé mầm?” Tôi biết đó là câu hỏi của lòng người từng trải! Tôi chỉ còn biết cầu nguyện cho gia đạo ông bình an!

Rồi bỗng dưng tôi được mời đến nhà họ uống ly rượu ba mươi năm “nắng vàng bị nhốt trong mây”. Hai đứa con lớn tự về tổ chức tiệc mừng Anniversary cho cha mẹ, chuẩn bị cho cô em út đi Đại học trong năm học tới. Một không khí gia đình bừng tỉnh sau tháng năm dài âm u. Bà giải thích cho tôi hiểu câu thơ mà ông đã giết chết tim bà. Ông để trong lòng đã mấy mươi năm hình bóng người chị họ của bà. Người ta học hơn ông hai lớp, lại học hành đàng hoàng nên ngày người ta gĩa biệt sân trường trung học để đi Đại học, ông thất-tình-câm nghiêm trọng mà viết ra: “có lần tôi với hơi qúa tay”, tức là yêu người lớn hơn mình chứ chẳng phải tự ái đỉa đeo chân hạc gì ráo. Chàng lớp 10 nhìn theo bóng liền chị khuất dạng sân trường mà mình thì đã té trong đôi mắt ấy nên tay cầm hoa phượng tới hôm nay - sống một đời ngáp ngáp.

Còn bà, cũng năm lớp 10 lại đi xin hoa phượng của chàng 12, đâu biết người ta hái hoa phượng rồi ngồi dưới gốc cây là tưởng nhớ hai cái ao thu lạnh lẽo nước trong veo đã dông mất biệt, hai cái hồ thu mà chàng thi sĩ đã té ngập hồn trong đó. Bà tội nghiệp người hái hoa mà không có ai để tặng nên bà xin-làm phước. Bà đâu biết chung huyết thống nên bà cũng có hai cái ao thu lạnh lẽo nước trong veo như liền chị. Vậy là hắn té thêm lần nữa, lần này chết chìm luôn trong đôi mắt.

Ba mươi năm dài lặn hụp miễn phí trong bể oan cừu mà tay cứ khư khư cầm cành hoa phượng cũ. Bà không ghen, thậm chí thương cảm ông ở tính thủy chung nhưng giận ông đã làm cho bà chị họ chẳng dám bén mảng đến nhà bà từ khi biết ra mối tình câm của ông em rể họ.

Tôi hỏi ông: “Sao ông lì qúa vậy?” ông trả lời thật hết ruột gan thì phải: Ông không ngờ có người giống người đến vậy! Thoạt đầu, ông mượn hình nhớ bóng. Rồi thân thằng chỏng chết trôi trong bể oan cừu thì cho gì lấy nấy! Bóng trong hình, hình trong bóng, bóng hình trù quến đến thánh cũng không phân biệt được, đến ngày thành hôn mới biết hình là em đôi con dì với bóng, té ra tình chị duyên em. Ông nói đến đây thì tôi cắt lời: “Bia 33 với bia Sàigòn chung hãng sản xuất. Ông được uống bia Việt Nam là phước lắm rồi còn phân biệt gì nữa đây?” ông trả lời có lẽ vừa lòng bà và các con sau cuộc hành trình đăng đẳng: “Tôi xin lỗi về câu hỏi mà tôi đã hỏi anh. Thật không ngờ mình cứ tưởng mình đại trượng phu nhưng rốt ráo thì tiểu nhân hơn mình nghĩ về mình nhiều lắm!

… Lòng dạ hẹp hòi nên nghĩ ai cũng gian manh, nhà tôi ra tay chăm bón cho ba hạt minh châu của tôi hoàn toàn bằng lòng thương mà tôi đâu biết! Bà ấy muốn chứng minh với tôi hoa có nở thì cũng không phải là hoa của ngày tháng cũ. Tôi ngộ ra rồi anh ạ! Ba hạt minh châu không nở ra hoa trông thấy được nhưng hoa lòng đã nở. Con cái tìm về là một hạt đã nở, từ nay không nghi kỵ người phối ngẫu là hạt thứ hai đã nở. Hạt thứ ba là nụ cười trong héo ngoài tươi của nhà tôi đã trong tươi ngoài héo do thời gian và ích kỷ của tôi. Tôi cám ơn vợ con, gia đình và bạn bè”. Ông xúc động.

Tôi ra về, hít gió tháng 5 vào hạ. Bông cỏ bay ngập trời chiều làm men bia trong tôi cũng ngất ngây với màu hoa phượng nhớ. Qúa khứ trong mỗi chàng thư sinh thể nào không có màu hoa phượng đi kèm với một hình bóng mờ nhạt nhưng quyền uy tối thượng, bắt nhớ là nhớ, bắt thương là thương mà thường là bắt hồn thư sinh khi tháng 5 về. Dù thơ lai láng trong tôi nhưng không dám viết ra từ khi ông cụ Tầm Xuân ở quê tôi (Dallas) đã hạ chiếu: “thời bây giờ có qúa nhiều người làm thơ nhưng lại qúa ít nhà thơ.” Tôi đành viết lại mớ văn xuôi cho màu phượng vĩ trong trái tim khô của thế hệ sinh ra trên quê hương điêu linh nhưng sống lình bình như… trôi sông trên khắp qủa địc cầu. Tháng 5 vào hạ với phượng hồng dĩ vãng đã xa.

Phan



trả lời


Ngẫm



Hoa và Quả



Hoa cho quả và quả trở thành hoa là một vòng quay luân hồi nhân quả

Gieo Gió Gặt Bảo Hay Gieo Nhân Hưởng Quả Là Thế Nào ?

Định luật nhân quả tất yếu không thể nào sai chạy đi đâu được là trồng cây ắt phải có trái, điều mà xưa nay ai cũng hiểu được như thế.

Gieo gió gặt bảo có nghĩa là nhân và quả đồng thời có cúng một lúc như ta đánh người một tát tay thì sẽ bị đánh lại ngay. Việc dễ hiểu hơn là hai võ sĩ cùng đấu trên võ đài. Hiệp đầu anh A thắng, nhưng vì mặc cảm trước đám đông khán giả, anh B cố tìm cách hạ thủ cho được anh A trong hiệp nhì cũng là điều dễ hiểu. Nhưng còn câu : "Gieo nhân hưởng quả" lại có một nghĩa hơi khác và có phần sâu sắc hơn nhiều. Trong trường hợp ta gieo hạt giống tốt hay trồng cây bụ bẫm, nhưng chưa hẳn được hưởng quả lành ngay, vì mầm cây lớn lên được là nhờ ở thời tiết như mưa thuận gió hòa và nhờ sự gia công tưới nước, làm cỏ, bón phân của người trồng cây thì mới có được trái tốt. Ở đời phần nhiều hễ gieo nhân lành là được quả tốt, như trong vụ làm mùa trồng lúa chẳng hạn. Nhưng về khía cạnh tinh thần, người làm phúc chưa chắc đã được hưởng quả ngay trong đời nầy, vì nó còn phải tùy thuộc vào nhiều yếu tố liên hệ khác. Câu ca dao sau đây nói lên được ý nầy :

Người trồng cây hạnh người chơi,

Ta trồng cây phúc để đời mai sau.

Và đều có ý nghĩa nhân và quả liên tục, kéo dài.

Muốn tránh gây nhân xấu cho người khác, ta phải biết sửa đổi từ trong hành vi, tư tưởng, không làm bất cứ một việc ác nhỏ nào, cũng như không từ chối bất cứ một điều thiện nhỏ nào.

Mỗi người đều nghĩ và làm được như vậy mới mong xây dựng được một xã hột tốt đẹp và xem kẻ khác, đồng trong tình huynh đệ tương thân.


KIẾN THỨC
CĂN BẢN PHẬT GIÁO
TT.Thích Bảo Lạc

Sưu tầm



trả lời


Ngẫm


...May thay trong cuộc đời này vừa có t́nh yêu vừa có t́nh bạn. T́nh bạn thường có một khuôn mặt thật hơn t́nh yêu. Sự bội bạc trong t́nh bạn cũng có nhưng không nhiều. Tôi thấy t́nh bạn quí hơn t́nh yêu v́ t́nh bạn có khả năng làm hồi sinh một cơn hôn mê và làm phục sinh một cuộc đời tưởng rằng không tái tạo được nữa

Trịnh Công Sơn
trích từ Cafe' gallery



trả lời


Ngẫm


Ngày xưa,

Có người cứ hay tự làm khổ mình bằng cách sống rất trung thành với quá khứ, mà đôi khi quá khứ lại được tô điểm thêm bằng những ấn tượng đầy mầu sắc. Nhiều lần sự tưởng về quá khứ lãng đãng đi vào những giấc mơ, ngày cũng như đêm. Sống mà không thực sống. Cứ tưởng trong mộng là đời sống thực của mình.

Rồi bỗng một hôm. Như người đang ngủ vùi bỗng vươn mình thức dậy. Những quá khứ rơi rớt như những vỏ cây sồi. Ngạc nhiên. Sao từ xưa giờ mình cứ sống theo một bóng ma đã đi biệt tự bao giờ... Hốt nhiên, nhận ra rằng: "Mỗi thứ đều có những thời gian tính của nó".
Tùy duyên diệt, tùy duyên sanh...


Chiêu Hoàng lụm được chuyện "ngày xưa" này trên con đường lái xe đến sở. Trong đống suy tư ngổn ngang ở một ngăn kéo mơ hồ nào đó. Thấy hay hay, bèn đem cất vào túi áo. Lấy kim băng cài lại để nó đừng bay mất. Thỉnh thoảng, thấy mình hay những ai mắc bệnh "ngày xưa" thì đem ra đọc ê a. Ngộ được thì thoát khổ, không ngộ được thì cứ việc lơ mơ đi tìm mảnh quá khứ của mình đã mất.

Khổ ghê. Cuộc đời cứ ưa "chơi khăm" thiên hạ.
:)

Chiêu Hoàng



trả lời


Ngẫm


Đọc lời văn thơ Chiêu Hoàng mà ngẫm Chiêu Hoàng là một thiền gia, mong được đọc thêm những ý hay.

Kính

Phương Đoàn



trả lời


Ngẫm


Ê a chữ ngộ
Thoát khổ vô bờ
À a nở rộ
Tình hoa ban sơ

PhươngĐoàn



trả lời


Ngẫm


ÂM THANH CỦA TĨNH LẶNG The Sound of Silence
Sa mạc Arizona, USA.

Tâm tình sâu thẳm nhất luôn hiển lộ trong lặng tĩnh.
The deepest feeling always shows itself in silence.


Ở thành phố lâu năm, ai mà chẳng cảm thấy thấm mệt với cái ngột ngạt đầy nghẹt và ứ đọng của cuộc sống thường ngày.

Thời giờ thì đầy nghẹt bề bộn từ sáng đến tối khó mà tìm được phút thanh thản cho chính mình; đường xá đầy nghẹt xe cộ xếp hàng mà nhích từng bước một; đầu óc luôn đầy nghẹt các vấn đề suy nghĩ mỗi ngày một chồng chất; nhà cửa đầy nghẹt đồ đạc máy móc chẳng còn chỗ len chân; tủ quần áo đầy nghẹt thời trang mới sắm không còn chỗ nhét, vậy mà vẫn còn thấy chưa đủ; ngay cả cái bụng mang hơi hám Mỹ cũng đầy nghẹt phì mỡ phát triển không đều một cách thảm hại...

Và như vậy, đầy nghẹt đã trở thành nét tiêu biểu của thời nay, qua câu truyện kể về một đệ tử muốn tìm môn sư để học đạo sống.

Khi đến gặp Thầy, đệ tử đặt rất nhiều thắc mắc đòi Thầy phải giải đáp. Thay vì trả lời những câu hỏi của học trò mới, Thầy lấy ra một ly nước đầy để trên bàn, rồi lấy một ấm trà vừa lắng nghe vừa tiếp tục rót vào ly nước, khiến cho nước trà chảy tràn ra ngoài ướt đẫm chung quanh. Lấy làm lạ, anh học trò mới nhắc Thầy vì tưởng Thầy đãng trí, nhưng Thầy làm như không nghe thấy mà cứ tiếp tục rót. Một lúc sau khi trò ngưng hỏi thì Thầy cũng ngưng rót, rồi Thầy trầm trầm bảo người trẻ mới tới:

"Lòng anh đã quá đầy như ly nước trà này. Thầy có rót gì thêm cũng tràn ra vô ích mà còn làm ướt át chung quanh. Anh hãy về đi, lúc nào lòng anh có khoảng trống thì trở lại!"

CÕI TRỐNG VỜI VỢI

Muốn dành cho mình một khoảng trống và thử đi tìm cảm nghiệm cõi trống vời vợi "chân không diệu hữu" như đã từng được nghe trong nhiều truyền thống tôn giáo, đặc biệt trong Đạo Chúa, tháng 3 năm 2000 tôi đã trở lại sa mạc Arizona tức sa mạc Sonora lần thứ ba. Lần này tôi dành cả một tháng trời để tập sống trong một trung tâm tịnh niệm ngay trong vùng cây xương rồng loại cao lớn saguaro.

Trung tâm tịnh niệm này có nhiều lều nhỏ (hermitage) rải rác cách biệt cho mỗi người giống như kiểu "tu rừng". Ban đầu cái gì cũng làm cho mình khó chịu hết. Ăn uống thật khem khổ như kiểu ăn chay hằng ngày, không bia, không rượu, chủ yếu là bánh, rau và nước lạnh, họa huần mới có một chút thịt. Mỗi ngày đi lấy một khay nhỏ đồ ăn về lều ăn riêng như kiểu khất thực, may mà không đói quá để phải tìm ăn "châu chấu và mật ong rừng." Và suốt ngày mọi người đều giữ thinh lặng không nói chuyện với ai. Lều không có Tivi, không có báo chí tin tức gì, không thư từ liên lạc với ai, không có dây điện thoại, nên cũng không có e-mail hay internet gì hết. Và cũng không có xe. Từ phi trường Tucson được xe loại "stagecoach" chở tới địa điểm sa mạc này rồi chôn chân luôn.

Khí hậu sa mạc thật khắc nghiệt: ban trưa nóng kiểu mùa hè và ban đêm độ nhảy xuống đột ngột đúng cái lạnh của mùa đông. Vậy mà lều tôi ở không có máy lạnh và máy sưởi thì hư. Gió lộng lên rất bất thường, đập rầm rầm đe dọa làm rợn cả người. Không khí rất khô làm cong cả giấy, làm nứt và bong da, cả người như bị dị ứng sẩn cả lên. Sau hơn nửa tháng tôi mới thấy cơn mưa đầu tiên chẳng được mấy hạt nước mà gió giật đùng đùng muốn lật cả lều và vần vũ mù mịt cả sa mạc. Và chỉ nửa giờ sau gió nổi lên, nhiệt độ liền nhảy xuống thành mùa đông lạnh cóng.

Chung quanh chỉ có đất đá khô cằn với những cây xương rồng saguaro to lớn oai vệ có những cánh tay vươn cao trong tư thế cầu nguyện bất kể đêm hay ngày, nóng hay lạnh. Ở đây không có bọ cạp hay rắn lửa như sa mạc người Do Thái, nhưng có ít nhất là bẩy loại xương rồng khác nhau. Đáng sợ nhất lại là loại nhỏ nhất, mọc len lỏi lẩn trong những chùm cây thấp, vô ý là cả một tảng gai li ti bám chặt vào quần áo và xỉa thẳng vào da.

Nhưng trong bầu khí sa mạc mở trống bao la này tâm hồn thật thảnh thơi. Những buổi sớm mặt trời lên từ rặng núi xa hay những buổi chiều mặt trời xuống tỏa ánh sáng huyền ảo tô màu cho những cây xương rồng saguaro trở nên thật sinh động và hút hồn như cả một rừng người đang đứng vươn cao tay hướng lên trời với những ống sáo thẳng tắp trổi lên những điệu nhạc rất thầm lặng nhưng mang một âm hưởng kỳ bí lạ lùng.

Vào sa mạc là trở thành lòng trúc trống, tự nhiên phải buông bỏ mọi tiện nghi và sở thích. Cảnh trí khô khan đều đều đến nhàm chán chứ không hùng vĩ hay thơ mộng gì cả như vùng Grand Canyon, Sedona, Yosemite... Không có gì mới mẻ gây thích thú hào hứng lúc đầu cả. Không có "áo quần lả lướt hay cây sậy phất phơ trước gió" kiểu "gió đưa cành trúc la đà" nên thơ cả!

ĐIỆU MÚA CỦA TRIỆU SAO

Nhưng chỉ sau một tuần là mình quen dần với những cái xem ra tầm thường nhàm chán. Những cây xương rồng khô cằn bỗng mang nét đặc sắc riêng, không theo tiêu chuẩn ở phố. Được cái lợi là chả cần tiền bạc mua bán gì; quần áo thì mặc sao cũng được, thậm chí mặc đẹp một chút là thấy lạc lõng và mắc cở với những cây saguaro chả có gì mà sang trọng oai vệ quá sức kia. Cái bụng phì mỡ của mình được san đẽo bớt gồ ghề đi; chỉ sau mười ngày là phải thắt đai lưng hẹp lại một nấc, rồi hai nấc. Điệu này ở lâu chắc cũng bị khoét thành ống sáo mất thôi!

Và mình bắt đầu biết mê sa mạc. Đưa đi một đống sách mà mình hết muốn đọc. Cả sa mạc mở rộng đang là một cuốn sách kỳ bí cho mình bước chân vào. Kìa, hai con nai và mấy con thỏ rừng bỗng xuất hiện ngay bên, thản nhiên thong thả bước đi như chẳng có gì phải sợ hãi đề phòng ai, rồi ba bốn con vật thật lạ đen đen như một loại heo mò đến gần lều kiếm đồ ăn. Thú nhất là nghe chim hót. Ở đây có nhiều loại chim rất lạ, thích đứng mãi trên đỉnh chòm gai cây saguaro mà hót rất dài mà thanh thản sảng khoái cùng độ, một tuyệt phẩm vừa sáng tác tại chỗ mà không cần đăng ký giữ bản quyền, ai có tai thì mặc sức mà nghe khỏi trả tiền. Đây đúng là một loại "thornbird" chứ gì. Ông van Beethoven xưa chỉ được mấy con chim ở bờ suối Heiligenstadt gợi hứng mà sáng tác được bản hòa tấu Pastorale để đời, nhưng chắc là thua xa bản hòa tấu của loại chim này.

Bầu trời ở đây cao và rộng hơn ở thành phố nhiều. Mình bỗng cảm nghiệm bầu trời này chính là một ngôi nhà thờ vĩ đại nhất, ngôi nhà vòm bao la lồng lộng với biết bao trang điểm kỳ ảo nhất. Chỗ này được xếp bằng một chùm sao hình chữ T, chỗ kia đặt những rặng cây saguaro lớp lang thứ tự, lại đẩy từng luồng gió đến phe phẩy mơn man lòng người. Mình thường dâng lễ riêng một mình ở lều, đôi khi đưa bàn nhỏ ra giữa sa mạc mà dâng lễ hòa nhập với muôn ngàn bài ca vang vọng giữa không trung vời vợi.

Mấy đêm nay trăng mọc rất sớm, mới chiều chiều đã ló lên vui vẻ chào thiên hạ rồi. Và ban đêm thì vằng vặc rải ánh sáng huyền ảo vào không trung bất tận. Mình vào lều pha một tách trà nóng ra đứng nhìn trăng và triệu triệu ngôi sao lấp lánh diệu ảo kia. Ở phố vẫn có trăng sao như thế này chứ, vậy mà có bao giờ mình được hưởng phút giây thần tiên như lúc này. Mình đứng đến khuya lắm mà chẳng muốn đi ngủ, làm như ngủ giữa lúc trăng sao đang ca hát nhảy múa thế kia thì có vẻ phí phạm quá. Mấy tối liền mình bỗng bốc cơn mơ mộng, đứng mãi mỏi cổ thì vác mền quấn kỹ ra nằm thật lâu giữa sa mạc trời lạnh mà nhìn lên học chiêm ngưỡng sao trời. Kìa, ngôi sao Bắc Đẩu đang nháy mắt cười đưa duyên. Chỉ cần nhìn hai chân của chiếc ghế trong chòm sao Gấu Lớn gạch một đường thẳng về tay trái là tới. Sao Bắc Đẩu chính là ngôi sao cuối cùng ở cái đuôi của chòm sao Con Gấu Nhỏ. Cả triệu triệu tỉ tỉ ngôi sao đang cùng ca vũ nhịp nhàng. Mặt trời của mình cũng chỉ là một ngôi sao li ti trong vũ trụ giữa muôn vàn ngôi sao. Trái đất chưa phải là một ngôi sao, mà chỉ là một chấm đen nhỏ xíu phản chiếu lờ mờ từ ánh sáng mặt trời. Sao Antares còn sáng hơn mặt trời 400 lần. Mặt trời tưởng rằng đứng một chỗ, nhưng thực ra đang cùng cả thái dương hệ chạy về hướng chòm sao Hercules với một tốc độ khủng khiếp là 12 dặm mỗi giây, tức trên 43 ngàn dặm một giờ.

Sa mạc ban ngày đã trống bao la mà ban đêm mới thực sự là một cõi trống huyền nhiệm, chỉ còn lại một bầu trời mở rộng thăm thẳm. Lúc này mình không còn là người ngoài nhìn ngắm bầu trời nữa mà muốn tan biến hòa nhập vào cõi trống vô biên này. Trời đã về khuya, mọi vật chung quanh trở thành một màn đen sịt, không còn màu sắc kích thước như thường thấy; những gì mình cho là to lớn cao giá sáng chói mọi khi sao bây giờ tự nhiên bị đổi tầm mức và giá trị, trở thành nhỏ bé đến tội nghiệp.

TIN VUI GỬI CÂY TRÚC TẦM THƯỜNG

Nhà tâm lý nổi tiếng nhất của thời đại là Carl Jung đã chứng minh và áp dụng công thức tâm lý trị liệu làm cho con người hồi phục toàn mãn bằng việc xả trống. Ông gọi qui trình này là Individuation, với bước khởi đầu là Unveiling the Persona, tức là buông xả con người giả tạo của mình đi. Chẳng lạ gì kịch nghệ Á Đông thường hay đeo hay vẽ mặt nạ, có ý diễn tả rằng trong cuộc sống người ta ít khi hành xử bằng con người thật của mình, mà thường bằng những ước vọng và đánh giá của xã hội. Nên mình cứ phải luôn nghe theo một thứ lệnh vô hình, cứ phải gồng mình mà phồng lên cho hợp tiêu chuẩn. Nghĩa là con người ít khi được sống tự do để thực sự là mình. Vậy là càng tìm mình thì càng mất chính mình, càng đầy thì càng vơi.

Nhưng con người đâu dễ tự xả trống làm vơi mình được! Kinh Thánh nói rõ, trước khi bắt đầu công cuộc rao giảng Tin Vui, Chúa Giêsu đã được dẫn vào sa mạc để ăn chay, để cho lòng mở trống như một cây trúc cho Thần Khí làm việc, cũng là lúc nhận diện và chế ngự được những bóng đen vốn mai phục sai khiến điều khiển con người, khiến con người luôn bị hành hạ bởi lòng ham hố chất đầy vật chất, tham vọng, thành công... mà chẳng bao giờ thỏa. Và trong suốt mấy năm hoạt động, Chúa Giêsu vẫn thường luyện thần lực trong những nơi thanh vắng, vẫn tìm được cảm nghiệm sa mạc tĩnh lặng trong cuộc sống thường ngày..

Những chuyện đau buồn trong cuộc sống tưởng là những hòn đá làm mình vấp ngã, không ngờ lại chính là những nhát dao của nhà nghệ sĩ đại tài là Thần Khí đục khoét cho thân trúc tầm thường trở thành ống sáo. Thần Khí đã dẫn mỗi người vào sa mạc cuộc đời như đã dẫn tiên tri Hosea vào nơi thanh vắng mà thì thầm tâm sự, đồng thời cũng là lúc thanh luyện để có khoảng trống cho gió trời thổi vi vu mà rung lên Khúc Sáo Ân Tình, để Người mang qua lũng qua đồi, rung lên khúc sáo một trời yêu đương.

CÂY SÁO MỌC CÁNH

Bước vào cái bầu khí đất trời bao la vô hạn sa mạc là tự nhiên thấy lòng mình sao nhỏ nhen chi lạ, không còn đủ can đảm kéo ghì cái thành quách kiên cố bao phủ con người mình bấy lâu nữa. Cõi trống sa mạc đang là một ống sáo mọc cánh thật thênh thang vút cao. Mình cũng muốn hòa nhập vào cõi trống huyền diệu này, hòa nhập vào một sức sống bao la hơn, hòa nhập vào một nhịp sống của đất trời mở rộng mà trở thành một ống sáo lâng lâng bay bổng.
Trong cõi trống bao la này, con người không cần phải suy niệm về Đấng Huyền Nhiệm nữa, mà chứng nghiệm được Người thật sinh động, chạm đến tay Người đang lướt trên những lỗ sáo đời mình. Và như một mâu thuẫn không giải thích nổi, là trong cái tĩnh lặng và trống rỗng hầu như tuyệt đối này, một cảm nghiệm toàn mãn đầy tròn bao phủ. Thật lạ. Và con mắt cũng được mở ra để bước vào cuộc sống với một nhãn quan mới:

Bài hát tôi đã rũ sạch điểm tô lòe loẹt,
không còn kiểu cách huênh hoang.
Đồ trang sức sẽ ngăn cách Người với tôi, làm giảm đi thân tình,
làm động đạc át cả tiếng thì thầm nhè nhẹ.
Trước mặt Người lòng hợm hĩnh thơ văn nơi tôi chết trong thẹn thùng.
Này tôn sư đời tôi, tôi xin đến ngồi dưới chân Người!
Xin biến đời tôi thành bình dị, thẳng ngay,
như cây sáo trúc Người phả đầy âm nhạc vào trong.
(Tagore, Lời Dâng #7)

Lm. Trần Cao Tường

Sưu Tầm nguồn vietlyso.com



trả lời


Ngẫm


Phạm Thị Hoài

VĂN VÀ SỐ



Nghề văn và nghề tử vi có những tương ứng kỳ lạ. Mới vào thì hăng hái say mê như không thể dứt. Cái say của kẻ tin rằng số phận là thứ có thể lĩnh hội, văn nghiệp là thứ có thể thủ đắc. Vậy hãy khao khát băng tới đích, hãy tràn trề tham vọng, hãy ham muốn đạt được một cái gì.

Tất nhiên có một số đông trong văn giới bẩm sinh là những vị tuẫn nạn, say mê của họ thuần là khổ hạnh vì chữ nghĩa; một số đông nữa là những bậc thánh đã rửa hết tục, lòng sạch còn lại chỉ dành cho cái vĩnh cửu của văn chương mà thôi; và một số đông khủng khiếp nữa là những văn nhân luôn luôn thuộc về phe bại và đã giải hoà với số phận đen đủi của mình từ lâu, họ là tổng hoà thành công của những vị tuẫn nạn và những bậc thánh. Nhưng số đông ấy đáng kính tới mức không có gì để bàn đến nữa. Ta hãy xem cái say mê tầm thường, hạn hẹp, người ngợm hơn của thiểu số còn lại, trong đó hình như có mình, biến đổi theo thâm niên nghề nghiệp như thế nào.

Ta vào nghề viết với lòng khấp khởi, rằng văn chương là một pháo đài có thể chinh phục. Chính ta chứ không phải gã hàng xóm có cái diễm phúc làm một vị hoàng đế, một nguyên soái, một đại tướng, mèng thì làm một tay cắm cờ hay thổi kèn gõ trống, tệ nhất cũng làm chân xung phong. Chưa hẳn hiếu danh, nhưng ta thành thực hiếu thắng. Dĩ nhiên không mấy ai ưa vỗ ngực khoe mình hiếu thắng. Nếu phải lý giải, ta sẽ tìm rất giỏi những nguyên cớ phần lớn là cực sâu xa, cao thượng, phức tạp, quyết định cái hành vi đơn giản, là viết. Những nguyên cớ đó nếu không thực có trong bản thân ta cũng không hề gì, chúng là những thứ có thể vay dễ dàng ở mọi nơi. Ai dùng cũng thế. Vậy là ta đã đầy nguyên cớ. Nhưng gã hàng xóm cũng hoàn toàn có quyền đầy nguyên cớ như thế, ngoài ra gã cũng chăm đọc văn lắm, cũng tu dưỡng tư duy nghệ thuật, cũng ôm ấp những lý tưởng, cũng cho Truyện Kiều là bất hủ, cũng kính chữ như kính trời ... Vì sao gã không viết? Chẳng phải lòng tin vào thành quả, niềm hy vọng ở tài năng mình và ham muốn được kẻ khác thừa nhận, nếu không muốn nói thêm là cả lòng ham đua tài đọ sức, đã đẩy ta, chứ gã thì không, qua cái cổng dẫn vào làng văn đấy ư? Không ai lỡ sẩy chân sa vào rồi đành mắc kẹt ở đó. Không ai, nhất là những kẻ một mực tuyên bố rằng mình chỉ thuần túy rong chơi trong nghệ thuật, và những kẻ than phiền rất khổ sở rằng mình bất đắc dĩ mà dụng văn, không ai bước vào đó mà không giắt sẵn trong những khe ngách kín đáo nhất của tâm hồn mình một chút hy vọng và khao khát thành công. Không thành công thì cũng thành nhân, nghe khiêm tốn lắm. Vậy sao chẳng thành người ở chỗ khác? Nghệ thuật nào phải chỗ dễ thở nhất trong nhân gian. Nhưng thành công trong văn chương còn lắm vẻ hơn thành công trong cuộc đời. Sớm thì ngay lập tức. Muộn thì ba trăm năm sau. Một lời khen của bạn vàng có khi đủ, một chỗ đứng trong lịch sử có khi chưa thoả lòng.... Tôi không muốn phải bàn về nỗi ngây ngất khi ta đuổi theo một dấu phảy như cái đuôi tuyệt mỹ của con chồn tinh quái. Một cuộc săn bền bỉ và hùng tráng. Dấu phảy ơi, hãy đợi đấy! Hoặc phải bàn về lòng hân hoan của kẻ đang nối mạch cuối cùng ở quả bom nghệ thuật sẽ nổ vào rạng sáng ngày mai, khiến bầu trời văn chương quá tròn còn thiêm thiếp ngủ của chúng ta rạn nứt và méo theo chương trình thẩm mỹ đầy sửng sốt của hình bát giác.... Vậy chỉ xin bàn về cái triển vọng khiến ta hoa mắt ở đầu đời văn:

rằng ta đã bước qua đúng cánh cửa phải bước, đã nhằm đúng hướng. Ta nhất định làm nên một cái gì. Còn lại chỉ là sức lao động và thời gian. Nói cách khác, ta đã vững tin ở thành quả văn chương của mình tới mức có thể rộng rãi tuyên bố về hai yếu tố không mấy quan trọng còn lại:

"nghệ thuật là một phần trăm tài năng cộng chín mươi chín phần trăm lao động" và "thời gian sẽ phán xử". Thật là một sự rộng rãi khinh suất và tai hại, nhưng vào thời điểm này, đầy lòng tin, ta còn hào phóng tuyên bố vô số chân lý bất diệt hơn nhiều.

Người mới nhập môn tử vi cũng sốt sắng tin tưởng như vậy. Y xoè bàn tay trái ra, thoăn thoắt dùng đầu ngón cái lướt trên mười hai ô viền bốn ngón còn lại để an sao lập số. Chỉ cần xong vòng Tử Vi và vòng Thiên Phủ là y đã hình dung ra đại cương của một số phận. Đã vẽ được chút tính tình và diện mạo của đương số. Cứ đà này, đủ 110 vì sao, thì chân tơ kẽ tóc của số ấy nằm trong tay y. Văn chương thông qua hình tượng nghệ thuật mà miêu tả, tái hiện, bình luận và tân tạo cuộc sống thì tử vi thông qua hình tượng tinh tú mà miêu tả, tái hiện, bình luận và tân tạo cuộc đời. Nhưng có khi chưa cần thông qua một hình tượng nào hết, mới lập xong lá số lắm người đã thấy mình là thày tử vi. Ở cái thuở toàn dân còn mải học chữ to trên bảng, có lẽ những người chép được chữ nhỏ lên giấy đã nghiễm nhiên thành văn sĩ.

Lập một lá số cần những công thức nhất định. Đôi khi người ta cãi nhau về cách an vòng Tràng Sinh, bộ Kình Đà và bộ Hoả Linh trong trường hợp âm nam dương nữ. Với Lưu Hà, Khôi Việt, La Võng và cả Tứ Hoá cũng không hoàn toàn thống nhất. Bộ sao Giải phần lớn chỉ ghi nhận Giải Thần và Thiên Giải. Thêm vào đó Địa Giải là tăng toàn lá số thành 111 vì sao. Nhưng Kim Thánh Thán chẳng bình rằng "Thuỷ Hử truyện tả nhất bách bát cá nhân tính cách, chân thị nhất bách bát dạng", khiến ta truyền tụng về Thi Nại Am dựng 108 nhân vật theo 108 tinh tú trong lá tử vi đó sao? Vậy lượng sao trời quyết định số phận ta cũng co giãn lắm. 108, 110, 111, hay thêm 9 vị sao lưu là thành 120? Song các môn đệ của tử vi biết rõ, đường đến nghệ thuật lớn phải gian truân, những hòn sỏi len vặt vào giày chưa làm ai nản chí.

Chép chữ lên giấy nào có khác. 29 chữ cái trong tiếng Việt có luật của chúng. Ta cũng cãi nhau về việc cho CH, GH, GI, KH, NG, NH, PH, QU, TH và TR quyền tự quyết, tiếng Việt vậy có thể giàu thêm 10 chữ cái. Thỉnh thoảng ta giật mình vì gặp Z, như một ngôi sao lạc (Địa Giải chăng?), rất có thể là chữ cái thứ 40. (Không có chữ ấy không có nhà thơ Hồ Dzếnh). Cách dùng I với Y mãi không thống nhất nổi, các giải pháp xung quanh bộ ĐGI-R, bộ C-K-QU, bộ X-S, thậm chí cả bộ CH-TR cũng đành để ngỏ, chưa kể mấy loại quy tắc đánh dấu khác nhau, mấy quan điểm ngữ pháp, mấy quy định viết hoa và dùng gạch nối, mấy phép phiên âm/không phiên âm tiếng ngoại quốc.... Vô số biến thể của các phương ngữ làm nốt cái nhiệm vụ là khiến ta từ bỏ mọi ý định tìm kiếm một quy tắc hợp lý. Tài trí xuất chúng và đảm lược phi thường như cố Alexandre de Rhodes mà còn bị các phương ngữ Việt thao túng, vậy nhã độ của ta là đầu hàng. Miền Bắc đương nhiên biết vợ lẽ khác vợ lẻ, miền Nam cũng chắc rằng la ve chứ không la de. Nhưng phải viết thầy hay thày, y chang hay y trang, xí xoá hay xúy xoá, trần sì hay trần xì, giông bão hay dông bão, hổ lốn hay hẩu lốn, vứt bỏ hay vất bỏ, cà rỡn hay cà giỡn hay cà trớn, layơn hay laydơn hay dơn hay glaieul hay Gladiole hay gladiolus, rút cục, rốt cuộc, rút cuộc hay rốt cục, của đáng tội hay quả đáng tội, riêng tư hay riêng tây, đằng nào hay đàng nào, dấn thân hay dẫn thân, manh mối hay mành mối, trụ sở uỷ ban hay trú sở uỷ ban, khuyến mại hay khuyến mãi, lai căng hay lai cẳn.... Tưởng ăn hoa hồng là phải, hoá ra ăn hoả hồng cũng là phải, tưởng miệng còn hoi sữa, nhưng miệng còn hôi sữa và miệng còn hơi sữa cũng xong. Rởm đúng rồi, nhưng dỏm cũng đúng lắm. Phải viết bất thình lình hay thình lình, gây sức ép lên ai đó hay gây sức ép với ai đó, trong giấy hay trên giấy... Tra tiếng Việt cần lắm mưu mẹo và cảnh giác cao độ. Chẳng hạn cuốn Từ Điển Tiếng Việt của Trung Tâm Từ Điển Học do Hoàng Phê chủ biên, in lần thứ sáu năm 1998, không ghi nhận những từ như chuyển giao công nghệ, công ty trách nhiệm hữu hạn, vốn pháp định, khuyến mại/mãi, tiếp thị, Việt kiều, thuyền nhân, trại cải tạo, toàn trị, quốc xã, đa đảng, kẻ sĩ, phân tâm học, tâm thức, thiện nguyện, chống cộng, đĩa bay, đường cao tốc, kẹo cao su, karaôkê, thăm nuôi, đánh quả, trúng mánh, ôsin, gái cave, cửu vạn, xe ôm, chợ đuổi, cơm bụi... Bù vào đó, từ điển này chính thức cho tiếng Việt thêm bốn mục chữ cái là F, J, W và Z. Còn ai dùng cuốn Từ Điển Chính Tả Tiếng Việt của Nguyễn Trọng Báu do nhà xuất bản Giáo Dục cho in năm 1997 lại không biết viết những từ như à, ách, am, anh, ánh, áp, âu, ầu, ấu, bạch, bám, banh, bành, bánh, bạnh.... cà, cá, cam, cám.... Ít nhất hàng trăm từ thông dụng đều vắng mặt không xin phép như vậy. Lẽ nào trong tiếng Việt đã xảy ra một exodus, một cuộc đào thoát? Bệnh vọng ngoại của tôi thường phát mạnh ở những chỗ thật khó hiểu, chẳng hạn cứ khi nào bế tắc trong từ điển Việt của người Việt tôi lại mò vào quyển Annamite-Francais của J.F.M. Génibrel. Năm nay ta đã chê Britannica năm trước là cũ. Quyển Génibrel xuất bản cách đây 101 năm. Thày tử vi ta cãi nhau có thể lôi sách Tàu ra dựa. Sách Tàu nhiều như muối biển, bảo quyển này đúng, quyển kia sai, là quyền ở thàỵ Nhà văn ta cãi nhau không dựa vào đâu được, nhưng bảo chữ này đúng, chữ kia sai, cũng là quyền ở mình.

Vậy mà chưa ai non gan đến mức buông bút vì phép chép chữ. Các nhà thơ có thể nhổ vào phép tắc. Thơ hay là thơ nằm ngoài ngôn từ, mới bập bẹ xếp vần ta đã nghe dạy thế. Vậy ngôn từ sai cả cũng không ảnh hưởng. Sai tới mức không biết hiểu thế nào cho phải là có thể thành sấm truyền. Tiểu thuyết hơi khác, hỏng vài trăm chữ cũng còn mấy chục vạn đáng đọc, vả lại những tác phẩm vĩ đại thường không hoàn toàn. Truyện ngắn ở vào thế bất lợi hơn cả, sai một li đi một dặm. Nhưng nhà văn Việt vốn ưa thử thách, thường nhè việc khó nhất mà đảm đương. Như thày số hăng nghề gí mắt vào lá số, trước hết là lá số của chính mình, ta cũng nôn nóng chúi mũi vào trang văn, trước hết là văn mình. Hấp dẫn biết bao! Kỳ diệu biết bao! Chẳng lá số nào giống lá số nào. Văn chương muôn nhà muôn cách. Vậy số ta thế nào và văn cách ta thế nào?

Bất luận thế nào, đằng sau một lá số phải là một số phận sinh động, đằng sau trang văn là cuộc đời thực, ta thuộc lắm cái nguyên tắc chán ngắt đó. Giá nhanh chân hơn, được đầu thai vào thuở các văn nhân nước Việt nhiệt đới còn được phép sáng tạo những mùa đông có cây tùng đội tuyết và tự do so những mĩ nữ không thể có trong hiện thực với những loài hoa chưa ai từng biết.... , giá được như vậy thì thoải mái biết bao. Nhưng lịch sử không thể quay ngược. Đã từ lâu, trước khi các nhà văn Việt Nam biết phục tùng hiện thực trong những căn nhà gương do thuyết phản ánh của mĩ học Mác-Lê thiết kế, ta đã dọn sẵn mình để sống dưới quyền năng của hiện thực. Nhưng nó có gì đáng sợ đâu. Dù ai mang cả bộ Hồng Lâu Mộng ra dạy rằng văn chương cổ điển phương Đông từng theo sát cái bản lai diện mục của cuộc đời như thế nào, dù ai lấy thêm bộ Đi Tìm Thời Gian Đã Mất ra doạ rằng hiện thực cũng ngồn ngộn trong văn chương hiện đại phương Tây, dù ai khuân toàn tập Kim Dung ra chứng minh rằng bỏ qua những đoạn phi thân độn thổ thì mọi thứ trong đó đều như thật, đều theo phép tả chân cả, và cuối cùng, dù ai đem ngàn trang Chiến Tranh và Hoà Bình ra đòi cho được một tác phẩm tầm cỡ tương tự xứng đáng với thực tế chiến tranh và cách mạng vĩ đại của dân tộc Việt Nam, vâng, dù lẽ phải hiển nhiên đứng về phe những kiệt tác như thế của văn chương nhân loại, tôi dám đoán rằng ngày nay không một nhà văn nào vào nghề bằng cách nghĩ nhiều hơn một phút về hiện thực. Ta bận tâm đến đủ mọi sự, trừ một sự đương nhiên:

đương nhiên văn chương xuất phát từ cuộc đời, dù đấy là một cuộc đời nhạt nhẽo và bé tí. Chẳng lẽ còn một điểm xuất phát nào khác nữa? Ở tác phẩm đầu tay, đời sống hay chí ít cái ta cho là đời sống lại thường có vẻ thừa thãi tung toé trên giấy. Lắm người tiếc của trời, đúng hơn phải gọi là của đời, nhặt những mảnh vãi mà làm tiếp, cũng thành một tác phẩm thứ hai.. Tôi hiểu ra rất chậm, rằng văn chương không đương nhiên có cái bổn phận quái quỷ là xuất phát từ cuộc đời như vậy. Câu hỏi về hiện thực không hẳn là vô cớ, nhất là khi những đòi hỏi của chủ nghĩa hiện thực không hề là điều kiện nguyên uỷ của văn chương. Song vô nghĩa chủ yếu là những câu trả lời. Đời sống và nghệ thuật biết những cách ràng buộc nhau thông qua vô vàn tầng môi giới mù mịt, được một tầng minh bạch đã là nhiều. Trăm giọt sữa rỏ từ vú đời xuống giấy mà giấy vẫn trơ màu giấy, đến giọt nào giấy bỗng chuyển thành màu văn? Có thứ văn ngẫu nhiên từ đời mà ra. Có thứ văn tuyệt nhiên cứ dầm chân tại chỗ trong đời. Có thứ văn hiển nhiên cho đời với mình là một. Có thứ văn siêu nhiên, hẳn xuất phát từ siêu đời. Có thứ văn thuần túy từ văn mà ra. Lại có thứ văn rõ ràng không sinh ra từ đâu cả.... Một mô hình giữ không nổi mà bỏ cũng không nổi như mô hình Chân Thiện Mĩ rút cuộc cũng dùng được vào một việc:

để xác định ba vấn đề căn bản, một là cơ sở, điểm xuất phát của văn chương; hai là mục đích, điểm đến; và ba là bản thân sự vận động của nghệ thuật ở khoảng giữa. Ta đã thấy cơ sở của văn chương, đi liền với cái Chân, chẳng có gì là đương nhiên và chắc chắn cả. Cái Thực và cái Thật không đồng nhất đã đành, mà khi lấy Chân đối với Hư là lịch sử văn học thành ngay một mớ bòng bong. Các nhà lãnh đạo nghệ thuật xưa nay không gỡ rối. Họ chỉ chặt phăng tất cả những gì không nên lọt vào các đề cương và tuyên ngôn luôn hết sức ngay ngắn gọn gàng của họ. Xung quanh hai vấn đề còn lại, đi liền với Thiện và Mĩ, tình trạng không sáng sủa gì hơn. Nhưng trước khi thày tử vi ngờ rằng số phận là nguyên mẫu của lá số hay lá số mới thật là nguyên mẫu của số phận, trước khi thày hoảng hốt thấy mỗi lúc một trùng điệp những yếu tố trung gian che mờ mọi tương quan giữa một nhúm ký hiệu lập trên bàn tay trái hay trên màn hình máy tính với một đời sống nào đó, trước khi thày chán nản quẳng túi càn khôn với 108, 110, 111 hay 120 tinh đẩu vào một xó bụi, trước khi như vậy thì khoa tử vi còn đầy vẫy gọi. Mấy ngàn câu tử vi phú và tử vi diễn ca chẳng lẽ vô dụng cả sao? Bao nhiêu kinh nghiệm chung đúc, bao nhiêu chỉ dẫn và nhắc nhở của những người đi trước, bao nhiêu công thức, bao nhiêu bí quyết.... Tất cả đều hứa hẹn và khích lệ đừng bỏ cuộc.

Bao nhiêu phương châm và lời chỉ giáo ta cũng từng tuân thủ, để viết? Bao nhiêu điều kiện và những phẩm chất ta đã buộc phải có, bao nhiêu lý tưởng phải noi theo, bao nhiêu lý thuyết rồi lại bao nhiêu chủ trương, đề cương, tuyên ngôn, phong trào, trường phái? Chắc không ai đếm nổi. Những bí quyết thành công của cái nghề văn càng ngày càng khó thành đạt này chắc chắn nhiều hơn của cả nghề luyện đan và thuật giả kim gộp lại. Ta có thể bảo, vì thế mà văn chương thỉnh thoảng đạt đến độ hoàn thiện và bất tử, còn vàng ròng chưa ai chế được, linh đan càng không. Vậy luyện văn theo bí quyết nào?

Ta thử bắt đầu với một bí quyết có vẻ giống thứ thần dược ở chợ phiên:

mọi cuốn sách hướng dẫn viết truyện thành công ngay đều khuyên, hãy để nhân vật chính ở ngôi thứ ba. Điều hết sức đơn giản ấy với các nhà văn Việt lại có vẻ phức tạp không ngờ. Truyện Việt Nam dù nôm hay Tàu, văn xuôi hay văn vần, từ thuở nào đều để mọi nhân vật ở ngôi thứ ba. Đến Hồ Biểu Chánh, Khái Hưng, Nhất Linh.... cũng thường như vậy. Trừ Nguyễn Tuân, đối với các nhà viết truyện Việt Nam thời 1930-1945, "thời đại cái Tôi" theo lời Hoài Thanh, ngôi thứ nhất đảm nhiệm đầy đủ chức năng nhân vật nghệ thuật vẫn là điều không thể, dù Hoàng Ngọc Phách từng đi trước một chút với Tố Tâm, thực tế đã là giọng kể từ ngôi thứ nhất. Phạm Quỳnh trong bài diễn thuyết về văn học nước Pháp tại Hội Trí Tri năm 1921 có tha thiết lưu ý giới thưởng ngoạn Việt Nam đến Montaigne với bộ Cảo Luận (Essais) chỉ thuần nói về mình, kể chuyện mình, lấy mình làm đích. Thời của Montaigne, hơn bốn trăm năm trước, là thời văn chương Việt còn ém mình kĩ lưỡng trong những cách khiếm danh và phiếm xưng. Có lẽ nhà văn nước ta những năm 20 chê Montaigne là quá cũ, hoặc có lẽ ông chủ Nam Phong đã gây đủ ác cảm trong những giới thức giả nhất định, Cảo Luận không tìm được hồi âm. Tùy bút của Nguyễn Tuân chắc chắn có những người cha tinh thần khác. Theo tiết lộ của Nam Cao trong "Đường Vô Nam" (1946), đấy có thể là Paul Morand.

Trở lại với các ngôi nhân vật, độc giả Việt Nam cho đến nay vẫn hâm mộ truyện tiền chiến, cũng do công lao của các nhân vật chính ở ngôi thứ ba chăng? Vậy vì lẽ gì mà nhà văn Việt sau này càng ngày càng xa rời cái bí quyết thành công ấy? Trong văn học Việt đương đại, xu hướng dùng ngôi thứ nhất đã áp đảo tới mức có thể thành một thông lệ. Tác giả mới hầu như chỉ dùng ngôi Tôi. Tác giả lâu năm cũng chuyển ngôi từ lúc nào không rõ. Có những tác giả chưa bao giờ dùng một ngôi nào khác Tôi. Cuộc Tôi hoá tập thể này hẳn có bối cảnh phức tạp và trái khoáy, bản thân tôi đã bao lần thử viết một cuốn truyện kiêng ngôi thứ nhất, lần nào cũng không thành. Chẳng hạn tôi muốn theo cái mốt khả ái là nữ lưu viết truyện trinh thám, chỉ vì không chọn nổi một đại từ nhân xưng cho nhân vật nam chính mà đành bó tay. Chàng chắc chắn là hỏng. Không phải văn chương tiền chiến mà văn chương miền Nam trước 1975 đã thoả mãn vĩnh viễn nhu cầu dùng chàng-nàng trong văn học Việt Nam, cũng như nhu cầu về đồng chí đã cạn kiệt sau văn chương hiện thực xã hội chủ nghĩa. Anh chăng? Tôi không dám hứa với độc giả là nhân vật này đáng gọi là anh như vậy, anh theo nghĩa cụ Trần Trọng Kim dạy trong Việt Nam Văn Phạm không được, anh theo nghĩa anh Kim Đồng, anh Trỗi sau này càng không. Anh ta cũng không ổn, độc giả sẽ lập tức nghi anh ta chính là thủ phạm. Hắn là đại từ ưa thích của các nhà văn, song độc giả chẳng ưa:

không nghi ngờ gì nữa, hắn là thằng tội phạm! Các đại từ nhân xưng đã phá án ngay từ đầu như vậy thì tác giả còn việc gì mà làm? Nhân vật nữ chính ở ngôi thứ ba lại càng rắc rối. Hãy hình dung, chị Dậu của Ngô Tất Tố mà thành cô Dậu thì sự thể ra làm sao! Nam Cao hẳn đã khổ nhiều về niêm luật đại từ nhân xưng, giải pháp thứ nhất của ông là cho phắt cả nam nữ ngôi thứ ba một cách gọi duy nhất:

y. Sinh trong Sống Mòn cũng y, mà vợ y cũng y. Giải pháp thứ hai, nam là hắn, gã, thằng, nữ đơn giản là thị. Chẳng lẽ thị Nở có thể là chị Nở, ả Nở, cô Nở, nàng Nở? Những đại từ ấy dùng cho thế giới nhân vật của Nam Cao, đám người khốn nạn mọi đàng, có vẻ đích đáng lắm. Song không dùng được cho những trai tài gái sắc, Lan và Điệp, Loan và Dũng.... Lẽ nào lại có một thị Kiều và một thị Vân dang tay dạo bước trên đồi thông Đà Lạt, một thị Sứ trong Hòn Đất, một thị Út Tịch? Tiếng Việt tuy dành ra một giải pháp bất ngờ, lấy ngay khái niệm người để chỉ những nhân vật đáng kính. Chỉ có điều từ khi người (viết thường) - chứ không phải ngài - thành Người (viết hoa), cơ hội vốn đã nhỏ của đại từ này hạn chế hẳn ở một vài nhân vật hưởng chế độ ưu tiên, cũng như khi bác thông thường thành một Bác duy nhất. Những sáng kiến táo bạo như vậy không có nhiều và đâu dễ áp dụng trong văn học. Phan Khôi từng đề nghị dùng va cho ngôi thứ ba, song đến thế hệ tôi thì chữ ấy đã xa xôi như nghỉ, chỉ mở Kiều ra mới gặp. Giải pháp tiện hơn cả cho nhà văn Việt là thay đại từ chỉ ngôi thứ ba bằng tên nhân vật. Tên nhân vật lặp đi lặp lại dày đặc:

"Người u già này ở nhà Dung đã lâu lắm, đã nuôi và săn sóc tất cả anh chị Dung từ lúc bé. Nhưng, không biết vì có phải thấy Dung ra đời trong sự lãnh đạm, mà u già đem bụng thương yêu Dung chăng." (Thạch Lam, "Hai Lần Chết"); "Tết năm nay Trâm đẹp lắm, mà Trâm sung sướng quá vì Trâm đã mười sáu tuổị... " (Khái Hưng, "Ngày Xuân Lễ Chùa"); "Chị Thời mến Nhị, khen Nhị hiền lành, ngoan ngoãn, để cho Nhị hoàn toàn tự do." (Mai Thảo, "Những Tấm Hình Của Chị Thời"); "Jean thì chưa được chứng kiến cảnh tượng đó bao giờ. Bố mẹ Jean có thể yêu nhau từ kiếp trước chứ đời Jean thì chỉ thấy bố mẹ chửi nhau." (Lê Đạt, "Con Báo Hoa Xứ Tuyết").... Những tác giả vừa dẫn đều nổi tiếng với một văn cách riêng, song tôi có cảm tưởng rằng, khi họ phải dùng đến cái giải pháp phổ thông nêu trên, họ bỗng cùng nhau hoà vào một giọng. Tôi đành xin lỗi mà gọi giọng ấy là giọng tuổi mơ. Thật khó mà bi tráng, từng trải, gân guốc, dũng mãnh, bạo liệt, dữ dội, cuồng nhiệt, sắc sảo, chua chát, cay đắng, riết róng, siêu thoát, phóng túng, khinh bạc, ngạo nghễ.... , thật khó mà đi tới những giới hạn cuối cùng của mọi cung bậc tình cảm bằng giọng tuổi mơ ấy. Chỉ có thể lãng mạn nhỏ nhẹ, mãi xanh tươi, mãi ngọt ngào, thoang thoảng một chút suy tư đầu đời, man mác những nỗi đau mới lớn.

Văn chương mỗi nước có lúc già lúc trẻ, ấy là lẽ tự nhiên. Văn học của xã hội Việt Nam cổ truyền chưa bao giờ thực sự trẻ. Trong bốn tài năng xuất chúng sinh ra từ đó:

Du, Hương, Khiêm, Quát, chỉ có Cao Bá Quát và Hồ Xuân Hương từ chối giọng đạo mạo muôn thuở và cho phép mình hưởng một chút bồng bột nhất định của tuổi trẻ. Cao Bá Quát không kịp già. Còn Hồ Xuân Hương, thật may là ta không bao giờ biết rõ tuổi bà nữa. Tuổi không hề đóng một vai trò nào trong gần một ngàn năm nước Việt có văn học viết. Lê Ngọc Hân mới ngoài hai mươi, còn Phan Huy Ích đã ngoài bốn mươi khi Nguyễn Huệ mất. Giọng một người vợ trẻ nhất định không giống giọng một ông nho nòi đã chín muồi, vậy mà không thể dựa vào tuổi để xác định bản quyền trong vụ án Ai Tư Vãn. Trần Tế Xương ở lúc giao thời rõ ràng có khuấy đảo cảnh nghiêm trang nề nếp của một thời đại văn học đã xế chiều, song dù mòn mỏi cắp lều chõng đi thi và không thọ quá tứ tuần, ông tú ấy có thể là một ông cụ non và một thày đồ gàn chứ không đời nào là cậu học trò tinh nghịch. Văn học Việt Nam quả thật như thay da đổi thịt với Thơ Mới và văn xuôi lãng mạn tiền chiến, song bất chấp mọi cái non nớt, ấu trĩ, chông chênh, thời đại văn học ấy cũng không hoàn toàn trẻ. Sinh khí mới mẻ của nó trước khi tìm được những cơ thể trẻ trung tương ứng đều ngụ nơi những đại diện chín chắn của nền cựu học ở buổi hoàng hôn. Văn đàn sôi nổi thuở Việt ngữ vừa mới lớn, thời hiện đại vừa mới chớm và thế kỷ vừa bắt đầu ấy phần lớn vẫn giữ giọng mực thước, nghiêm nghị, thận trọng, già cả, của những tiên sinh và phu nhân, những ông những bà những thày chững chạc đến mức khiến ta quên rằng, nhiều vị trong số họ còn chưa đầy tuổi lập thân theo quan niệm truyền thống. Rồi một lúc nào đó, hương tuổi mơ cũng theo những cơn gió lãng mạn của thời đại mà sực dần vào chốn lầu văn thâm nghiêm.Nhưng phải đợi đến cơn bão lãng mạn của Cách mạng Mùa Thu, văn học Việt Nam mới thực sự cải lão hoàn đồng. Như tiền bối của nó không bao giờ trẻ dù có thể xuân sức, nó không bao giờ già dù đã mệt mỏi, đã thôi chí thanh tân, đã hết lửa lòng từ lâu. Thế kỷ đã tàn, Cách mạng đã về hưu, Việt ngữ đã trưởng thành nhiều và thời hiện đại đã đứng bóng, lẽ nào cái văn chương sinh ra từ đó mãi ngây thơ, nhí nhảnh? Mãi tuổi mơ? Mãi học trò? Mãi vị thành niên? Mario Puzo khi đã thành danh cũng kiên quyết mách các đồng nghiệp kém may rằng, hãy viết bằng ngôi thứ ba. Bí quyết ấy có thể dùng với tiếng Anh chăng? Trong tiếng Việt đương đại, ngôi thứ ba chỉ giỏi trói nhà văn vào những thứ tình bất đắc dĩ. Như tình tuổi mơ.

Mọi kinh nghiệm đúc kết trong nghề văn thật ra đều có thể vô ích tương tự, dẫn đầu là lời khuyên điên rồ, rằng hãy lắng nghe và chỉ nghe theo tiếng nói tự đáy lòng mình. Có một chỗ xứng đáng để tin cậy quả nhiên là may mắn hiếm có. Lại là chỗ gần nhất, ngay trong chính mình, thật tiện lợi biết bao. Vả lại khi dư luận cứ nhất định im ắng ghê rợn thì tiếng lòng mình càng vô cùng cần thiết! Bạn văn cũng sẽ đồng ý ngay với tôi rằng, sau bao nhiêu nao núng và thất bại thì cuộc phấn đấu của giống nòi nghệ sĩ chống lại tất cả những áp đặt từ bên ngoài đối với bản thân mỗi cá nhân cuối cùng đã thành tựu. Mọi thế lực từng hoành hoành trên sự thui chột thảm hại của cá tính sáng tạo đã lần lượt bị thanh toán. Ở đâu đó, nơi những trật tự cố hữu nào đó vẫn sót lại, rất có thể còn những thi sĩ phải gọt thơ cho tròn, những tiểu thuyết gia phải đúc nhân vật cho vuông vắn, những nhà phê bình phải mài luận lí cho nhẵn thín, và tình yêu văn chương phải là thứ tình chân chính trong vòng xếp đặt của những bậc trưởng thượng.... Nhưng xu thế chung là sự toàn thắng của một thế giới nghệ thuật tuyệt đối chủ quan. Chỉ còn tiếng lòng của chính mình. Thế giới khách quan dường như cũng đã tận diệt. Ở thời buổi này, lấy bất kỳ một chuẩn mực từng biết nào để định giá tác phẩm sẽ lố bịch biết mấy. Đúng như vậy:

Đừng theo Kinh Thi, đừng dựa vào Kinh Thánh, đừng bói trong Kinh Dịch, đừng nương Kinh Phật, đừng nghe Marx, đừng căn cứ vào nghị quyết của Ban văn hoá và tư tưởng, đừng đặt cược vào chủ nghĩa tự do, đừng lấy Nguyễn Du làm chuẩn, đừng trông vào truyền thống, đừng tin những ông trùm văn chủng và nhân chủng của các đế quốc văn hoá, đừng làm nô lệ cho bon gout, đừng học Trần Dần, đừng ngã vào vòng tay hậu hiện đại, đừng tìm lời đáp trong thiên nhiên, đừng vì trách nhiệm với cộng đồng, đừng để thẩm mĩ toàn cầu mua chuộc, đừng chạy theo khoa học, đừng quan tâm đến các festivals, đừng để giải Nobel lung lạc, đừng chú ý đến các tập đoàn xuất bản khổng lồ, đừng ghé thăm hội chợ sách Frankfurt, đừng gửi tác phẩm mới in cho các nhà phê bình danh tiếng, đừng yên tâm khi được đăng trong The New Yorker, đừng đọc Liber, tất nhiên là đừng theo dõi báo Nhân Dân và báo Văn Nghệ, đừng hài lòng khi ở hải ngoại được trong nước xuất bản và ở trong nước được hải ngoại xuất bản, đừng thất vọng khi kẻ thù bỗng dửng dưng, đừng yếu lòng vì thư độc giả, đừng sờn lòng khi mọi bản thảo gửi đi lại quay về.... Tôi từng dịch thư của R.M. Rilke gửi một nhà thơ trẻ, trong đó có những dòng như sau:

"Không ai có thể khuyên ông và giúp ông, không một ai. Chỉ có một cách duy nhất mà thôi. Ông hãy đi vào chính mình.... - và khi thơ bật lên từ cuộc hướng nội, đắm mình trong thế giới của riêng mình đó, ông sẽ không còn nghĩ đến việc hỏi ai rằng thơ ấy có được không. Ông cũng sẽ không tìm cách bắt các tạp chí phải chú ý đến thơ mình nữạ... " Song không xa đoạn trích ấy là bao, Rilke lại viết:

"Ông đang trông cậy vào bên ngoài, mà đấy chính là điều không nên làm trong lúc này." Không nên làm trong lúc này! Vậy lúc nào nên làm cái việc trông cậy vào bên ngoài. Lúc nào thì cái thế giới tuyệt đối chủ quan của mỗi chúng ta lại cần đến một công cụ ít nhiều khách quan hơn? Lúc nào thì tiếng nói tự đáy lòng ta bỗng mất tăm, chẳng phải vì sự Ồn ào bên ngoài lấn át, mà đúng hơn vì tự huỷ trong một không gian cách âm ngày càng thu nhỏ? Lúc nào ta lại sẵn lòng đánh đổi tất cả những thành quả đắt giá của tự do sáng tạo lấy một chút câu thúc tự bên ngoài. Có cái coócxê nào bó buộc và thít chặt như bộ nịt của luân lý và đạo đức? Cởi ra đã vất vả lắm, xong lại thèm đeo ngay vào. Văn chương đại chúng ở phương Tây, giữa cái thời đại được coi là không còn gì thiêng liêng và ràng buộc này, thời đại của tự do và phá phách, chẳng do dự gì hết khi phải vượt qua những giới hạn nào đó, càng quá càng tốt, miễn sao mê hoặc được lòng người. Nếu cần thì nó dùng luôn những thành tựu của nghệ thuật tiền phong, chẳng quản gì cấm kị. Nhưng rường cột của nó, nguyên tắc sống còn của nó, bí quyết cốt lõi của nó lại là cái sơ đồ luân lý bất di bất dịch về cái Thiện rồi sẽ thắng cái Ác. Thắng. Ở phút cuối cùng. (Tôn giáo cũng chẳng cho cái Thiện thắng ngay từ đầu. Nghệ thuật theo gương ấy là khôn ngoan lắm.) Hãy quẳng người đọc xuống biển, vì hắn thích được ngụp lặn trong kích động như vậy. Hãy lùa đến đó một đàn cá mập, một đội hải tặc, một chiếc tàu ngầm khổng lồ của thằng cha mắc bệnh vĩ cuồng nguy hiểm nhất thế giới, thêm một đám thuỷ quái bầy nhầy phát sinh từ một trận thử bom Mỹ hay bom Nga... Chỉ có điều đừng quên cấp cho người đọc chiếc phao thô sơ nhưng an toàn của cái Thiện để dùng vào phút chót. Khi chăm chỉ nhấn mạnh đến lần thứ bao nhiêu không đếm nổi tính tất yếu ấy của luân lý, khi thắt chặt hơn nữa chiếc coócxê đáng ghét ấy, các phát ngôn viên của văn hoá Việt lấy văn chương bán chạy của phương Tây làm mẫu chăng? Đông đảo độc giả Việt Nam đang chờ để được quẳng xuống biển Đông, với mọi nguy hiểm tương tự và sẵn sàng để cái Thiện bao trọn gói như vậy. Mọi điều kiện cho văn chương bán chạy ở Việt Nam cũng đã chín muồi. Tiêu chuẩn của đám đông ngày nay đối với cá nhân nghệ sĩ có lẽ đã thành thiên mệnh. Chữ Thiện đã đủ tầm vóc siêu thị. Nếu còn muốn theo đuổi nó thì quầy ướp lạnh với những gói luân lí hạng nhất đông cứng là điểm đến của văn chương. Một người như Nguyễn Tuân thuở trẻ, sợ đến cả cái ràng buộc của đồ dùng - khi nền văn minh đồ dùng còn chưa kịp đến, sau một đám tang liền tính chuyện phơi dãi mình ra một chỗ thoáng - khi nền văn hoá hiếu lễ còn chưa kịp đi, người ngang trái khác thường ấy, riêng một mình một cõi, nhất nhất một tinh thần cá nhân thượng đẳng, cũng là người suốt phần đời còn lại chỉ lo tẩy xoá vất vả chính cái cá nhân đó. Đừng trông vào riêng mình, và tốt nhất là đừng trông vào mình, lời khuyên ấy có lẽ thiết thực hơn chăng? Khoa tử vi cũng dạy ta sợ phép biện chứng chẳng kém. Tử Vi đức hạnh đủ đầy ư? Tất nhiên như vậy. Nhưng Đế toạ La Võng hoàn vi phi nghĩa chi nhân, chớ tưởng đế tinh không lâm bại địạ Nhật Nguyệt Sửu Mùi của ông mờ ám xấu xa, của bà muôn phần rực rỡ quý hiển. Song Lộc bó nhau lại không bằng Song Hao chúng thuỷ triều đông. Đắc Không, ngộ Không và kiến Không là ba số Không không chung nhau điều gì.... Sau những bài học chưa đáng tuyệt vọng gì như thế, các môn đệ tử vi may ra mới bắt đầu ngờ rằng mình vừa mất mấy tháng trời để múc một giọt nước giữa đại dương. Biết bao giờ đong đủ? Biết thế nào là đủ? Không phải khoa tử vi chỉ ra quá nhiều cách mà một số phận có thể rơi trúng. Trái lại thì đúng hơn. Nhưng chính số lượng hạn chế của các mẫu lí lịch trữ sẵn trong cái chương trình đã hình thành gọi cho là từ đời Tống của nó mới là đầu mối của mọi sự rắc rối. Mỗi cách buộc phải toả thành nhiều cách nhánh. Đến lượt mình, mỗi nhánh lại phải thâu tóm nhiều nhánh con. Cứ như vậy, cho đến khi mỗi cách số là một bản đồ chằng chịt, lan sang những bản đồ bên cạnh, đè lên, che mờ, cộng hưởng, triệt tiêu, sinh sôi những nẻo mớị... Tinh đẩu trong tử vi vì thế có vẻ thành viên mafia, đều chính thức có chân trong một tổ chức nào đó, một bộ, một nhóm, một gia đình, song hành tung chồng chéo, hoạt động chân rết và liên hệ đa phương của mỗi vị khiến thế giới ngầm ấy mãi mãi là trùng trùng bí ẩn. Rút một dây động cả rừng. Nhưng dây nào đáng rút? Chẳng trách có thày cuối cùng chỉ xem một cung Nô cho là đủ. Có thày chỉ luận thằng Phá Quân. Có thày đặt mọi hy vọng ở Đào-Hồng. Có thày chỉ còn trông vào các sao Hoá. Và rất nhiều thày đã mất lòng tin từ lâu. Lòng tin dường như cũng như lợi nhuận ở thị trường chứng khoán. Có thể được, có thể mất. Nhưng lấy lại thì không thể.

Bản đồ văn học cũng chằng chịt như thế và nỗi sợ của nhà văn cũng dày lên cùng với lòng tin thưa dần. Chẳng trách có nhà cuối cùng chỉ cậy vào cái gọi là Đẹp. Chữ Mĩ trở thành trại tị nạn cho những kẻ trốn chạy khỏi ngõ cụt của vô cùng.

Vào nghề thì văn học không thể thiếu ta. Bỏ nghề chẳng được, hoá ra chính là ta không thể thiếu văn học.

Berlin , 10-1999



trả lời


Ngẫm


Trước, trong và sau một cơn bão, một cuộc tình, một cuộc đời. Vì mình, vì người đều có những lo toan. Như trước, trong và sau khi mở một cánh cửa, biết bao điều để nhìn từ hôm qua, hôm nay và ngày mai. Với mình, với người đều có những băn khoăn. Sự lo toan và băn khoăn nào cũng chịu áp lực của thời gian.

CN



trả lời


Ngẫm


NGÀY XUÂN, BÀN CHUYỆN KIỆN… TRỜI.

Cóc kêu một tiếng thấu trời,
Ếch kêu ộp oạp một đời ai nghe!

Người bình dân Việt Nam vẫn thường nói theo kiểu ví von, so sánh như thế. Phải chăng vì ếch kêu nhiều quá nên tiếng kêu không còn tác dụng, mất linh thiêng. Trong lúc cóc yên lặng nhưng cũng đã có lúc xách gói kiện Trời! Văn hóa phương Đông thiên về tĩnh. Sự yên lặng có khi diễn đạt nhiều hơn lời nói.


Hài tính trong ca dao cũng phản ánh một phần triết lý sống của dân tộc. “Con cóc là cậu ông Trời...” là một biểu tượng nòi giống Việt thầm lặng ở phương Nam cũng có vai vế chẳng kém hèn trước thiên tử Trung Hoa.

Loài người xưa nay khác nhau nhiều chuyện; nhưng thiên hạ Đông Tây kim cổ đều có vẻ như hoàn toàn “nhất trí” với nhau rằng, Trời là một biểu tượng quyền năng đệ nhất. Ông Trời được mặc nhiên công nhận là vị chủ tể càn khôn vũ trụ, mặc dầu xưa nay chưa hề có ai biết hay hình dung một cách cụ thể Trời là ai, Trời là gì, Trời là như thế nào cả. Trong những nền văn hóa phụ hệ, nam quyền như Việt Nam thì Trời được hình dung qua hình ảnh của người đàn ông, nên được gọi là “Ông”… ông Trời! Ông Trời là vua của cõi Trời – cõi thần tiên trong mơ ước của con người – nên gọi là Vua Trời, là Thượng Đế.

Các tôn giáo tin vào Thượng Đế cũng giống như người bình dân Việt Nam tin vào ông Trời. Tất cả đều cho rằng, có một đấng cao cả nhất làm chủ muôn loài. Đấng toàn năng siêu việt không hình, không tướng để bái niệm, cầu khấn mà không thể nghĩ bàn.

Nhân loại đã có người kêu lên:

- Trời ơi! Vậy thì ông Trời là ai mà mênh mông cao viễn đến thế?!

Những nhà “khoa học tôn giáo” (Scientology), có khuynh hướng giải thích triết lý tôn giáo theo những tiêu chí khoa học, thì cho rằng, ông Trời hay Thượng Đế là một “Suối Nguồn Vũ Trụ”. Suối nguồn uyên nguyên ấy vượt ra ngoài phạm trù giới hạn của thời gian, không gian, vật lý, tâm lý… mà tất cả chỉ còn là tín lý, là niềm tin thuần khiết. Tin thì có mà không tin thì chẳng có đều do ta – linh tại ngã, bất linh tại ngã!

Truyền thống dân gian Việt Nam coi Trời là một nhân vật vừa cao vời thăm thẳm (Trời xanh); mà cũng vừa gần gũi thường hằng, thường tại quanh ta (cầu Trời, kêu Trời). Ông Trời uy vũ là thế mà cũng bình dân “dễ thương” đến độ những loài vật nhỏ bé ở chốn trần gian cũng kéo nhau kiện Trời khi chốn trần gian chịu cảnh thiên tai, dịch họa. Tuy không biết rõ Trời là ai, nhưng người ta tin rằng: “Trời có mắt!” Mắt Trời phải chăng là ngọn đèn lương tâm trong mỗi chúng ta.

Truyền thống nước ta thì chỉ có loài vật “điếc không sợ súng” mới dám kéo nhau đi đấm cửa nhà Sấm như trưòng hợp cóc kiện Trời; chứ còn loài người thì chỉ mới dám cầu Trời, kêu Trời… chứ chưa hề nghe ai vác chiếu ra tòa để kiện Trời bao giờ.




Thế mà ở cái nước Huê Kỳ “hay dở cái gì cũng có” giữa ban ngày, ban mặt của thế giới vào thế kỷ 21 nầy lại có người nộp đơn lên tòa án trần gian khởi kiện ông Trời… đang vân du đâu đó ở chốn thiên đình. Ngày 15-10- 2008, Nate Jenkins, phóng viên hãng tin Associated Press – đứng hàng đầu của ngành truyền thông đại chúng Hoa Kỳ – cùng nhiều tờ báo khác đã loan tin “Người kiện Trời” sốt dẻo giống chuyện Tôn Ngộ Không đại náo Thiên đình như sau đây:

Nguyên cáo là thượng nghị sĩ tiểu bang Nebraska, ông Ernie Chambers. Ông Chambers là một nhân vật có học vị, địa vị và… tỉnh táo như sáo đường hoàng chứ không phải bị “chạm điện” khi nộp đơn lên tòa án kiện Thượng Đế. Tưởng cũng cần giới thiệu thêm là ông Chambers nầy tốt nghiệp tiến sĩ luật khoa hẳn hoi và đã làm thượng nghị sĩ trong cơ quan lập pháp nhà nước Nebraska suốt 38 năm qua. Ông ta đưa ra lý do kiện Thượng Đế, rằng là: “Thượng Đế đã làm cho Chambers và quần chúng tại địa phương Ohama sợ hãi. Tại sao Thượng Đế vừa sinh vừa diệt; vừa ban ân lại vừa trừng phạt hằng triệu triệu người và sinh linh trên trái đất như thế. Trời can tội làm hoảng vía trần gian nên đã đến lúc phải kiện để xét xử cho công bằng.”

Bản chất vụ kiện Thượng Đế vốn đã mang tính bi hài; nhưng phán quyết của tòa án lại còn “thú vị” hơn. Thẩm phán Marlon Polk thuộc tòa án quận hạt Douglas, nơi đệ đơn khởi tố, đã bác đơn kiện của

Chambers với lý do là “Bị cáo (Thượng Đế) không có địa chỉ đăng ký và tên tuổi, lý lịch rõ ràng để tòa án có thể liên lạc được theo những nguyên tắc luật định nên tòa phải bác bỏ vì không có cơ sở pháp lý để thụ lý hồ sơ khởi tố… kiện Trời!” Tòa án thông báo cho Chambers là ông ta có thời hạn 30 ngày để xin khiếu nại và ông nghị sĩ nầy đã loan tin là sẽ nộp đơn khiếu nại. Nguyên cáo Chambers đã phản đối với lý do là: “Tòa án đã biết rõ sự hiện hữu của Thượng Đế. Cả nước Mỹ đều biết rõ có Thượng Đế. Nếu không thì tại làm sao trên mọi đồng đô la Mỹ đều xác định bằng dòng chữ in đậm đầu tiên trên đồng bạc là có một Thượng Đế để tin theo (In God We Trust) và cầu xin ban ân, cứu rỗi.”

Câu hỏi về dòng dõi – có sự bà con nội ngoại nào giữa thượng nghị sĩ Mỹ Chambers và Cóc Việt Nam hay không – thì xin nhường lại cho các sử gia tâm sinh lý rộng đường thênh thang nghiên cứu thêm.

***

Dẫu ta hay Tây, nhưng ý đồ kiện Trời là một phản ứng tâm lý đầy hy vọng hơn là tuyệt vọng. Sự phản kháng là một cách kêu đòi và níu kéo quyền năng bao la, bất tử về với số phận nhỏ bé và bèo bọt của thân phận con người trước tạo hóa. Sự chuyển hóa không ngừng Xuân, Hạ, Thu, Đông của thiên nhiên và vòng xoay sinh, già, bệnh, chết của con người là những đối lực khách quan không có gì ngăn cản nổi. Sức bộc phát càng mạnh thì tác động hủy hoại càng ghê – bạo phát, bạo tàn – là một nguyên lý và hiện tượng nhân quả. Đi tìm Thượng Đế hay đi kiện Thượng Đế, kiện Trời, than Trời… cách biểu hiện khác nhau, tùy duyên, nhưng động cơ tâm lý chỉ là một.

Trời ở đâu mà kêu đòi than trách?

Đã có cả tỷ người vinh danh, định nghĩa, cầu khẩn hay kêu réo… ông Trời nhưng hầu như chưa ai xây dựng nổi, dù chỉ là dấu hiệu tượng trưng một ông Trời chung mà chỉ có hiện tượng trời riêng; rồi cho “Trời ta” là Trời thiên hạ. Nhưng tất cả đều chỉ có khả năng tới được “một câu trả lời về Thượng Đế không trọn vẹn cho một câu hỏi không thể trả lời được bằng những phương tiện quá giới hạn đang có trong tay của con người qua ngôn ngữ, lý luận, chứng minh, suy diễn, tưởng tượng…” như ý kiến của nhà thần học Mỹ, Howard Anderson. Đi tìm một đối tượng vô cùng bằng phương tiện giới hạn thì rốt cuộc cũng chỉ nắm được một hay những mảnh vụn xứng hợp với tầm mức giới hạn ấy mà thôi!

Mùa Xuân, hoa từ đâu mà về nở trên trần gian nấy nhiều thế. Chim chóc, ong bướm về theo hoa cũng nhiều. Đàn bướm muôn màu rực rỡ và đoàn người vui Xuân kia trăm năm trước nơi đâu và trăm năm sau còn gì để lại. Dòng chuỗi hỏi và trả lời về thời gian, không gian và số phận sẽ trôi chảy mãi không có điểm dừng vì chẳng có ai biết điểm khởi đầu và kết thúc của thời gian và không gian nằm ở đâu cả. Khoa học tới thế kỷ 21 nầy, như lý thuyết táo bạo nhất của nhà vũ trụ học Neil Cornish cũng chỉ phỏng định đo được kích thước của hoàn vũ rộng chừng 156 tỷ năm ánh sáng (theo tốc độ ánh sáng là 200.000 cây số một giây); và, tuổi của... nàng vũ trụ là 13.7 tỷ xuân xanh! Khi một chuỗi dài mắt xích tiếp nối nhau mãi làm cho người trở nên bơ vơ, chóng mặt giữa hai bờ vô tận của quá khứ và tương lai thì người ta chỉ còn vái ba vái để giao cho ông Trời tính hộ. Vâng, nhân loại và nền khoa học phải gặp ông Trời để nhờ ngài nắm giữ cõi mênh mông mà con người không thể biết tới.


Khi còn có một người hỏi đến ông Trời thì ông Trời mặc nhiên hiện hữu trong tâm tưởng của họ như trong mặt nước phẳng lặng có hình ảnh đám mây trời đang trôi. Mây bay rồi, nước không còn bóng mây. Một người mất đi, mùa Xuân không còn với họ. Mùa Xuân và con người không còn thì ông Trời cũng vắng bóng trong chính “người” đó vì năng lượng tinh hoa mà người ta gọi là hồn phách có đi quanh hoàn vũ rồi cuối cùng cũng trở về với nguồn cội là Suối nguồn Vũ trụ. Mỗi người là một “chủng tử”, một hạt giống nhỏ bé của rừng núi bao la, một giọt nước của đại dương mang đầy đủ mọi yếu tính của thế giới cội nguồn.

Có phải chăng ông Trời, đấng Tạo Hóa, Thượng Đế, Thái Cực, Phạm Thiên, A-La… là những tên gọi khác nhau “tùy nghi phương tiện” về một Suối nguồn Vũ trụ như thế. Địa cầu là một giọt bụi nước của vũ trụ. Giọt bụi từ nguồn cội mà ra nên cuối cùng cũng sẽ quay về chốn cũ. Mỗi người là một “tiểu ngã” của đại ngã ông Trời. Nên kiện Trời là kiện chính mình. Trách Trời là tự trách mình trước hết. Trời ở không cân là vì mình làm hơn hay làm không bằng người khác.

Bên tách trà Xuân trước hiên nhà, lặng lẽ mời một mảnh trời xanh vào trong chén nước và lẩn thẩn đọc thơ Ta kiện một vầng trăng của Samikai Gutschi xứ anh đào Phú Sĩ thì tuyệt vời biết mấy: “Với đàn cháu bé tranh nhau con ve đất thì ta là quan tòa. Với nắng lửa mưa nguồn thì ta là nguyên đơn khiếu kiện. Với Hằng Nga thì ta là bị cáo vì ngắm trộm một vầng trăng...”

Napa, Cali; mùa Thanksgiving 2008
Trần Kiêm Đoàn



trả lời


Ngẫm


HẠNH PHÚC

Minh Niệm



Hạnh phúc luôn có mặt

Ta đã có hạnh phúc chưa hay vẫn đang đi tìm với hai bàn tay trắng? Có phải ta nghĩ hạnh phúc là một cái gì đó rất lớn lao và đang ở rất xa trong tương lai, hay có thể nằm ở cuối con đường mà ta đang từng bước đi tới. Coi chừng ta lầm rồi đấy. Hạnh phúc rất giản dị và luôn có mặt trong giây phúc hiện tại, ngay bây giờ và ở đây. Vấn đề là ta có biết nó đang có mặt như thế nào và biết cách tiếp nhận hay không thôi.

Ta đã từng quan niệm hạnh phúc là gì? Có phải là được sống trong những điều kiện tiện nghi như ăn uống đầy đủ, tiêu xài thoải mái, nhà cửa khang trang, công việc thuận lợi, thương yêu chiều chuộng, con cái ngoan hiền, bạn bè thân thiện… Những tiện nghi đó đem lại cho ta một cảm giác thoải mái, dễ chịu, thích thú, sung sướng nên ta nghĩ rằng mình có hạnh phúc. Định nghĩa này hầu hết mọi người công nhận. Cái cảm giác mà ta vừa diễn đạt là hạnh phúc có tên gọi riêng là lạc thọ.

Nhưng có khi ta đang sống trong những điều kiện rất thuận lợi, không có vấn đề gì phải bận lòng sầu khổ, hoặc chỉ có chút đỉnh khó khăn thôi thì lẽ ra ta phải có hạnh phúc chứ, sao vẫn than van số phận hay kêu ca cuộc đời hoài vậy? Cho nên phải có ý thức về những gì ta đang có chính là điều kiện của hạnh phúc thì ta mới có hạnh phúc được.

Cũng như nhìn những đứa bé đang nô đùa rất hồn nhiên, không tiếc nuối quá khứ cũng không lo lắng chuyện tương lai, ta nghĩ chắc các em đó đang hạnh phúc lắm. Nhưng liệu các em có biết điều đó không, hay chỉ khi nào lớn lên và đánh mất cái thiên đường đó rồi các em mới nhận ra mình đã từng sống trong hạnh phúc?

Ta có đang ở trong thiên đường không? Thiên đường của ta là gì? Thiên đường hạnh phúc, cái cảm giác ngọt ngào và êm dịu ấy thì ai cũng có cả. Đó là một sự thật rất rõ ràng, chỉ cần một chút ý thức là ta có thể tiếp xúc ngay. Nhớ lại những lần bị đau bao tử, không ăn uống được hay không làm việc gì được đã đành, mà cảm giác đau thắt ấy thật khó chịu. Lúc ấy ta quả quyết rằng không có cái khổ nào bằng đau bao tử.

Nhưng trước đó vài giờ ta có biết mình rất hạnh phúc vì không bị chứng đau bao tử hành hạ không? Rõ ràng là không hề có, vì ta phải lo bao nhiêu chuyện to tát trên đời, hơi sức đâu mà nghĩ tới những cái cỏn con như vậy. Song chính những cái cỏn con ấy đã khiến ta phải khổ sở và gác lại bao điều to tát. Và khi trải qua từng giờ phúc trong cơn vật vã ấy ta mới nghiệm ra rằng không đau bao tử cũng là một điều kiện hạnh phúc.

Hãy thử suy ngẫm về những điều kiện hạnh phúc mà ta đang có, phải chăng nhiều hơn ta tưởng tượng không? Chỉ cần liên tưởng tới hình ảnh của những em bé mồ côi, những em bé chết đói hay tật nguyền đang có mặt khắp nơi trên thế giới thì ta đã thấy mình hạnh phúc tới chừng nào rồi. Những em bé đó phải đi bằng đôi tay hay lấy thức ăn bằng đôi chân, hoặc chưa từng nhìn thấy bầu trời xanh hay tiếng chim hót, hoặc cũng chưa một lần nào được chăm sóc ân cần từ bàn tay của những người thân trong gia đình hay bạn bè.

Còn ta, ta đang sở hữu quá nhiều thứ. Ta có đôi mắt sáng ngời, đôi chân vững chắc, đôi tay tháo vát, giọng nói trong trẻo, trái tim khỏe mạnh, năng lượng sống tuôn tràn, tương lai rực rỡ chào đón… Ta không bị vướng vào chứng bệnh nan y nào về thể chất, cũng không lâm vào tình trạng khủng hoảng điên cuồng vì thiên tai hay tai nạn do con người gây ra. Ta đang có cơ ngơi ổn định, công việc thuận lợi, tài năng phát triển. Ta cũng đang đầm ấm với gia đình, được người thương quan tâm chìu chuộng.

Những điều đơn cử ra đây chỉ là một phần rất nhỏ so với những điều kiện hạnh phúc quá lớn mà ta đang sở hữu. Nếu không được nhắc nhở, ta cũng không ngờ mình giàu có như vậy, một gia tài hạnh phúc đã từng được ta nâng niu và cũng đã từng bị ta ném vào bóng tối lãng quên để tiếp tục đuổi theo những đối tượng hấp dẫn khác trong tương lai.







Hạnh phúc bị lãng quên

Có thể diễn đạt hành trình đi tìm hạnh phúc của chúng ta bằng cái trục ngang với rất nhiều điểm đến. Ta hãy chọn khởi điểm là A và điểm đến là B. B có thể là nguyện vọng lấy được chứng chỉ Master. Nhưng đến B rồi cũng thấy thường thôi, chưa phải là hạnh phúc nên ta sốt ruột muốn đến thử C, lấy được người mình thương mới thật sự là hạnh phúc. Nhưng sau đó không lâu ta bỗng phát hiện hình như còn thiếu một vài điều kiện quan trọng nữa mới nắm được hạnh phúc, phải có một đứa con xinh xắn mới gọi là mái ấm gia đình, nên ta đã hy vọng ở D.

Rồi ta vẫn chưa an tâm, tiếp tục đặt ra những điều kiện hạnh phúc mà mình cần phải đạt cho bằng được như là sở hữu một căn nhà khang trang rộng lớn, một chiếc xe hơi đời mới nhất, một trương mục khá nhiều tiền, một địa vị có nhiều quyền lực mà bạn bè đều kính nể… thì mới bảo đảm cho hạnh phúc bền vững.

Cứ thế ta tiếp tục lao như điên đi về E, F, G… và ở mỗi điểm ta chỉ cảm nhận được giá trị hạnh phúc rất ngắn ngủi. Chừng vài tuần hoặc vài tháng sau ta lại khát khao đến những điều kiện hạnh phúc khác. Đôi khi ta còn nghĩ biết đâu hạnh phúc thật sự chỉ nằm ở cuối trục ngang này không chừng.

Ô hay! Cuối trục ngang này là cuối cuộc đời ta rồi đây. Ai dám bảo đến đoạn cuối đời ta mới có thể chạm tay tới cái giá trị thiêng liêng của hạnh phúc kia chứ. Nhưng nếu quả thật như vậy thì uổng phí cho cả kiếp người không ngừng phấn đấu và tân tụy với cuộc sống mà chỉ hưởng hạnh phúc trong khoảnh khắc ngắn ngủi thế thôi sao?

Thật ra hạnh phúc đều có mặt ở A, B, C hay D, E, F cho đến X, Y, Z nữa, và giá trị hạnh phúc ở mọi nơi mọi lúc đều giống như nhau về phương diện bản chất, nghĩa là A=B=C…=Z. Nhưng làm sao ta biết được điều này khi động cơ bỏ hình bắt bóng luôn thúc đẩy ta lao tới trước như một thói quen truyền kiếp rất con người?

Chính vì kẹt vào những ước mơ chưa đạt được nên ta không thể thừa hưởng những hạnh phúc lớn lao mà ta đang có. Liệu ta có chắc khi những ước mơ kia thực hiện xong là ta sẽ hoàn toàn hạnh phúc không? Ta chỉ tiên đoán thôi, vì một năm nay hay hai năm về trước chẳng phải ta cũng đã từng có những điều ước, và hầu hết những điều ước ấy đều đã thành tựu sao ta vẫn không có hạnh phúc? Thế mà ta vẫn tiếp tục ước mơ, tiếp tục hy vọng như chưa từng biết gì về hạnh phúc.

Nếu ta không biết cái gì làm cho ta hạnh phúc trong hiện tại, thì làm sao ta có thể biết được cái gì làm cho ta hạnh phúc trong tương lai?

Vậy ta có cần ước thêm nữa hay không hay nên quay về tiếp nhận những gì mình đang có và bằng lòng với nó, như thế may ra ta mới biết được hương vị thật sự của hạnh phúc. Khi nhận ra được giá trị hạnh phúc của mình đã sẵn có thì ta sẽ biết mình nên làm gì và không nên làm gì để hết lòng giữ gìn, không vì chút cảm xúc nhất thời đam mê mà đánh đổi giá trị hạnh phúc.

Chỉ khi nào nắm được hạnh phúc thật sự trong tầm tay, ta mới có thể làm cho người khác hạnh phúc một cách chín chắn được. Hãy thử lấy ra một tờ giấy để ghi xuống những điều kiện hạnh phúc mà ta đang sở hữu. Chắn chắn một tờ giấy sẽ không đủ, vì càng nhìn lại thì ta càng phát hiện có tới trăm ngàn thứ quý giá trong ta mà từ lâu ta đã bỏ quên. Hạnh phúc có sẵn mà không cảm nhận được là một loại cảm xúc trung tính, một trạng thái bình thường hóa những phẩm chất cảm xúc khi thiếu đi sự mạnh mẽ của nhận thức. Ta thường gọi nó là xả thọ.

Chính cái cảm xúc bị bão hòa ấy khiến cho ta mau nhàm chán những gì mình đang có, đánh mất niềm tin những thứ có thể mang lại hạnh phúc như nó đã từng thể hiện trong quá khứ. Ta lại tiếp tục giẫm đạp lên hạnh phúc để đi tìm hạnh phúc. Tuy bị bỏ rơi những khả năng linh động của những điều kiện hạnh phúc vẫn còn đó, chỉ cần trở về tiếp xúc và nuôi dưỡng thì nó sẽ bừng dậy và tràn lan trên tâm hồn ta.

Do lãng quên mà ta đã để cho “lạc thọ” biến thành “xả thọ”, nhưng nhờ ánh sáng tỉnh thức đã khiến cho chúng phục hồi trở lại chức năng “lạc thọ” của mình. Và khi phát hiện ra những điều kiện hạnh phúc của ta thật quá nhiều và quá gần gũi, thế nào ta cũng ngỡ ngàng thốt lên: Trời ơi, tôi là kẻ hạnh phúc nhất trên đời!

Nhưng trong chúng ta có mấy kẻ thốt lên được câu nói đó, hầu hết mọi người chỉ biết mình hạnh phúc sau một cơn nguy biến, một tai nạn chạm mặt với tử thần, hay một cuộc phân kỳ tưởng chừng không bao giờ gặp lại; còn không, họ vẫn miệt mài rong ruổi đi tìm hạnh phúc như chú ngựa hoang phi nước đại hướng về dãy đồi hấp dẫn xa tít tận chân trời.

Để đến khi mỏi vó chùn chân, ngựa hoang đang dừng lại trên thảm cỏ xanh non và dòng suối mát trong, chợt nghe lòng dâng lên một cảm giác bình an và ấm áp quen thuộc. Ngựa hoang giật mình nhận ra hương vị của hạnh phúc chính là đây, sao mình khờ dại giẫm đạp lên nó mỗi ngày để đi tìm trong viễn cảnh?

Nhưng ngựa hoang sẽ dừng bước giang hồ để chấp nhận sống sâu sắc trong hiện tại, hay sẽ ngậm ngùi tiếc nuối khi nhìn lại đoạn đường hoang phí đã qua, hoặc sẽ tiếp tục hăng hái lao tới tương lai để đi tìm hạnh phúc sau khi đã hồi phục?

Ý thức được điều kiện hạnh phúc chỉ có trong giây phút hiện tại nên không còn chạy ngược chạy xuôi tìm kiếm đã là một bước đi đáng kể, nhưng giữ vững ý thức đó không để cho mãnh lực hấp dẫn phía trước lôi kéo thì không phải dễ, phải có khả năng và phương pháp nuôi dưỡng cụ thể, chứ chỉ có mỗi ý chí thôi thì không đủ.

Cho nên không phải bất kỳ ai đến đoạn cuối cuộc đời cũng chưa hề biết được bộ mặt của hạnh phúc. Có thể họ đã từng sống trong hạnh phúc, nhưng không giữ nó được bao lâu. Tại vì họ bất lực trước bản năng đón nhận hạnh phúc bằng cảm xúc hời hợt của mình. Cái bản năng mau chóng bình thường hóa mọi thứ dù là những hạnh phúc lớn lao nhất, cái mà người ta vẫn thường nghi ngờ và cho rằng đó là sự trêu đùa của số phận.


Hạnh phúc tương đối

Khi sống trong những điều kiện thuận lợi như thưởng thức món ăn khoái khẩu trong một nhà hàng danh tiếng, mua được chiếc xe mơ ước bấy lâu, vừa ký một hợp đồng rất béo bở, du lịch đến một xứ sở cảnh đẹp như cõi thần tiên, được nghe những lời khen tặng hết lòng của người thương, chia sẻ những ước mơ thầm kín với người mình tin tưởng… thì phần lớn ai cũng có cảm giác sung sướng, dễ chịu và kết luận là mình đang có hạnh phúc.

Trong khi những người sống trong hoàn cảnh rất khó khăn như phải làm việc quần quật để lấy tiền nuôi con ăn học, hay dầm mình trong mưa bão để kịp thời cứu hộ người thân đang mắc kẹt trong tai nạn, hay chịu những đòn tra tấn để giữ bí mật quân sự và tinh thần bất khuất của dân tộc… Tuy không có được những cảm giác sung sướng, dễ chịu trên bề mặt cảm xúc, nhưng tận sâu kín trong tâm hồn vẫn có sự hài lòng, thỏa mãn vì đã thực hiện được ước mơ, nguyện vọng hay lý tưởng của mình. Trong trường hợp này, ý chí và tình thương đã làm nên hạnh phúc.

Như vậy có hai loại hạnh phúc, một loại hạnh phúc vì được thỏa mãn cảm xúc và một loại hạnh phúc vì được thỏa mãn ý chí. Loại hạnh phúc thứ nhất thiên về sự hưởng thụ bằng các giác quan, mặc dù phải thông qua sự chọn lựa yêu thích của ý thức. Loại hạnh phúc thứ hai không cần thông qua sự hưởng thụ, thậm chí chấp nhận luôn những cảm xúc xấu, chỉ cần thực hiện được nguyện vọng sâu sắc của mình.

Nếu nhìn kỹ ta sẽ thấy hạnh phúc thứ hai là loại hạnh phúc lớn hơn và bền vững hơn. Những người trải nghiệm trong cuộc đời thường giảm bớt hoặc lẩn tránh những loại hạnh phúc được xây dựng trên cảm xúc vì bản chất của nó tan biến rất nhanh và để lại hậu quả là sự xuống cấp thân tâm và cả sự nghiện ngập.

Họ chấp nhận một đời sống tri túc, ít hưởng thụ, nhưng ngược lại tâm hồn lúc nào cũng thanh thản và bình an. Tại vì họ đã ý thức được rằng cái lạc phải luôn gắn liền với cái an, an lạc mới là thứ hạnh phúc lâu bền.

Tiền bạc, quyền lực, danh dự, sắc dục… cũng chỉ đem lại một cảm xúc thỏa mãn, nhưng để có được một cảm xúc thỏa mãn ta phải nếm trải qua rất nhiều cảm xúc xấu như hồi hộp, lo lắng, sợ hãi, bực tức, hờn ghen hay phải kích động và tập dợt cho những hạt giống xấu trong tâm hồn như gian dối, nghi ngờ, cố chấp, lợi dụng, thù hận. Rốt cuộc để mưu cầu hạnh phúc thì ta lại gieo rắc cho chính mình những mầm mống khổ đau.

Khi ta có đủ bản lĩnh vượt qua bản năng hưởng thụ rất con người của mình thì ta sẽ tìm thấy thứ hạnh phúc được nuôi dưỡng bằng ý chí và tình thương đó mới thật sự là hạnh phúc cao đẹp và xứng đáng để ta bỏ công sức đi tìm. Một tách trà nóng, một bữa cơm đơn sơ, một rừng thu lá vàng, một chiếc thuyền nhẹ trôi… sẽ là thiên đường cho những khách phong trần muốn tìm lại chính mình sau những ngày tháng sống trong phiêu lãng.

Hạnh phúc chân thật

Ta như đứa trẻ được sinh ra trong gia đình tỷ phú mà lại lang thang vất vưởng đi tìm một tương lai. Một đứa trẻ bỏ nhà đi hoang theo tiếng gọi cháy bỏng của con tim thì không dễ gì chịu quay về khi chưa thấy được sự phũ phàng sau những khát khao cuồng dại. Trong một may mắn tình cờ được một người tốt bụng chỉ điểm và nâng đỡ, đứa trẻ giác ngộ và chấp nhận quay về để chính thức tiếp nhận gia tài mà bấy lâu không hề nhớ tới.

Còn hạnh phúc nào hơn khi một kẻ khốn cùng bỗng dưng được sở hữu một gia tài đồ sộc của một tỷ phú. Nhưng nỗi mừng này sẽ tồn tại bao lâu khi những thói hư tật xấu mà đứa bé đã tích lũy trong những lần đánh mất bản thân để mưu cầu hạnh phúc cứ không ngừng lên tiếng, những hạt giống đi hoang năm xưa vẫn luôn thúc giục bên lòng.

Làm một chuyến đi hoang nữa thì khiếp lắm vì ta đã quá thấm thía sự bạc bẽo của tình đời, phía sau những hào quang hạnh phúc mong manh kia luôn giăng đầy những cạm bẫy. Vậy ta nên lờ đi những phiền não đang chế ngự trong lòng để cố hết sức tiếp xúc với những điều kiện hạnh phúc tương đối mà mình đang có, hay phải cố gắng giải phóng triệt để những năng lượng độc hại ấy thì ta mới thật sự là kẻ có hạnh phúc chân thật?

Tách trà thơm, bữa cơm ngon, hơi thở dịu êm, bước chân thong thả, nụ cười tươi mát…đều là những giá trị của hạnh phúc. Nhưng khi những hạt giống xấu trong chiều sâu tâm hồn như sân hận, thèm khát, hận thù, tuyệt vọng… biến thành những nguồn năng lượng hắc ám cả thâm thắc thì ta đâu còn khả năng để tiếp xúc với những giá trị mầu nhiệm của hạnh phúc trong hiện tại được nữa. Cái khổ đau bây giờ đã lấn át cái hạnh phúc.

Cũng may là tâm thức của ta có khả năng tiếp nhận và biểu hiện nguồn năng lượng nào mạnh nhất, nghĩa là nếu ta dồn hết sức để phát huy những năng lượng tích cực có tính chất nuôi dưỡng giá trị hạnh phúc thì nó sẽ lấn áp trở lại những phiền não khổ đau. Cũng giống truyền hình có nhiều kênh, nếu chương trình của kênh này có nhiều bạo động nặng nề thì ta có thể mở sang kênh khác thoải mái và nhẹ nhàng hơn.

Điều này ta cũng đã từng áp dụng. Mỗi khi bị căng thẳng hay có nỗi buồn xâm chiếm thì ta lập tức tìm nguồn vui khác để thay thế như gọi điện thoại, lên internet, nghe nhạc, đi shopping hay tìm đến những cuộc vui. Những cách đó cũng đem lại kết quả nhanh chóng, nhưng khi cuộc vui tan biến thì khổ đau lại tiếp tục trỗi dậy như cũ.

Người hiểu biết hơn thì không tìm những điều kiện bên ngoài, họ dùng ngay những chất liệu nơi chính bản thân để chế phục phiền não. Phương pháp mà những nhà luyện tâm thường dùng đó là theo dõi hơi thở. Chỉ cần đem hết tâm ý chuyên chú vào hơi thở và quan sát phẩm chất của chúng khoảng chừng năm mười phút là phiền não tan biến ngay.

Thật ra phiền não không bao giờ biến mất, nó chỉ có thể chuyển từ dạng năng lượng như một cơn giận trở về dạng hạt giống như hạt giống giận. Phương pháp nương tựa hơi thở tuy rất hữu hiệu để giúp ta trở về an trú trong giây phúc hiện tại và lấy lại sự tỉnh táo sáng suốt, nhưng đó cũng chỉ là giải pháp tạm thời. Rất tiếc, ta không phải là cái truyền hình có thể giữ mãi một kênh nào theo ý mình muốn.

Dù cách gì đi nữa, nếu ta cứ tránh né phiền não hoài thì muôn đời ta sẽ không bao giờ hiểu biết về chính mình cả. Chỉ khi nào ta hiểu được những gốc rễ, ngõ ngách và năng lực tàn phá của phiền não, hiểu được sự vận hành và mối liên kết sâu xa của phiền não với bản ngã rất kiểu cách và luôn che đậy trong chính ta, thì ta mới tìm ra được cách thoát khỏi sự thao túc và hành hạ nó.

Bởi hạnh phúc chân thật không bao giờ bị điều kiện hóa, nó không cần kèm theo điều kiện phải được thỏa mãn cảm xúc hay ý chí thì nó mới biểu hiện. Nó là trạng thái vượt ra khỏi sự giam hãm tù đày của những phiền não sâu kín trong tâm hồn, và cả sự vay mượn hạnh phúc tạm thời từ những thứ khác. Nó là một nguồn ánh sáng tinh anh kỳ diệu xưa nay vẫn tồn tại trong trái tim thuần khiết của mỗi con người. Đặc tính của nó là tự do, an ổn, bình đẳng và đầy tình thương.

Lẽ dĩ nhiên tùy vào nhu yết và trình độ của mỗi người mà hạnh phúc sẽ có nhiều cung bậc khác nhau. Dù vậy, ta cũng đừng quên rằng càng bớt đi những điều kiện bên ngoài thì hạnh phúc trong ta sẽ càng lớn. Nghĩa là hoàn cảnh như ý không phải là thứ hạnh phúc mà ta đang đi tìm, mà chính nó là kẻ dung dưỡng cho sự yếu đuối và hèn nhát của con người, không dám tự khơi dậy hạnh phúc chân thật từ nơi chính mình.

Ta phải cho phép mình đối đầu với hoàn cảnh khổ đau, đối đầu với những khó khăn trở ngại lớn nhất trong tâm hồn, vì chỉ có như thế ta mới tìm được toàn bộ con người chân thật của mình mà bấy lâu nay bản ngã yếu hèn đã cố tình che đậy bằng những hạnh phúc mong manh giả tạm. Hạnh phúc có từ nơi ấy là hạnh phúc của kẻ giàu sang bậc nhất trên đời, không có bất cứ trở lực nào có thể phá nổi!

Này kẻ giàu bậc nhất

Đừng chịu kiếp van nài

Hãy quay về tiếp nhận

Bảo vật trong tầm tay.



MINH NIỆM
http://www.phatgiaodaichung.com/Bai2009/000Hanhphuc.htm



trả lời


lên trên