Diễn Đàn                 <<< tìm >>>                 BÀI MỚI . muc luc . vào



Giới thiệu Tác Phẩm




trả lời


Giới thiệu Tác Phẩm




Một Quãng Xuân Thì

Lời Tựa

Diệu Tần

1. Đây là tác phẩm đầu tay của một cây viết nữ rất khiêm nhường. Ấu Tím là bút hiệu của Như-Hoa họ Chu. Tôi có giục tác giả là nên cho in thành sách rồi ra mắt với bạn đọc bốn phương, nhưng Ấu Tím chỉ muốn làm e-book. Ấu Tím khiêm nhường ở tính tình, nếu có hỏi ý nghĩa của Ấu Tím, một bút danh rất ô mai rất học trò. Như Hoa cười tiết lộ: tôi tròn đầy trong đối xử với mọi người, chín bỏ làm mười. Còn màu tím? Tôi rất ưa màu tím, tím hoa sim, hoa cà và tím của củ ấu có hai mũi nhọn. Khi yêu trái ấu cũng tròn, khi thương yêu, tha thứ cho nhau hai chiếc gai nhọn đó biến đi.

À ra thế! Bản chất khiêm tốn, nhưng tôi xem ra tài năng chẳng nhường ai. Ấu Tím ngâm thơ, hát, hò giọng miền Nam, múa rất có nét.

2. Hẳn nhiên là Ấu Tím còn có năng khiếu viết văn. Cùng với Linh Vang ở tây- bắc Hoa Kỳ, hai người trong nhóm chủ trương tuyển tập “Phụ Nữ Việt”, đã ra được hai số năm 05 và 06, đang chuẩn bị tập năm 2007. Tuyển tập này quy tụ được các cây bút đã thành danh ở hải ngoại như Linh Bảo, Lê Thị Nhị. Miêng, Phan Thị Trọng Tuyến, Vũ Thị Điềm Đạm, Mai Ninh, Sương Mai… ở Mỹ, ở Âu Châu. Tại Bắc Cali, tác giả âm thầm sinh họat văn nghệ với nhóm Trưng Vương, Sương Nguyệt Anh, cựu sinh viên Võ Bị. Ấu Tím có truyện đăng trên tạp chí Nguồn, Văn, Văn Học, bài thường xuyên cho tuần báo Việt Times, những tiểu khúc văn đầy nữ tính, rất nữ sinh.

3. Tác giả tuy không còn là nữ sinh, nhưng đọc hết 20 truyện ngắn của tác giả sẽ thấy nổi bật hai tính chất này trong văn phong Ấu Tím: nữ tính và hoài niệm tuổi học trò. Tác giả sinh ra ở miền Bắc nhưng lớn lên và trưởng thành ở miền Nam. Do đó Ấu Tím khi viết theo giọng Sè Goòng thì rất miền Nam. Cũng như khi người đa tài này cất tiếng hò, thính giả nhận ra là giọng rất sông Tiền, sông Hậu. Xen vào những chuyện kể mảnh đời thơ ấu hoặc trưởng thành “bắc kỳ di cư ”, người đọc thấy có ba truyện rất miền Nam, đó là “Đọan Cuối Tình Yêu”; “Bướm Vàng Đậu Ngọn Mù U” và “ Những Mảnh Tình Vắt Vai”.

4. Đây là những ký ức, hoài niệm từ nữ sinh áo cánh, kẹp tóc, đánh chuyền cho đến tuổi tóc xõa, áo dài tha thướt, “anh theo Ngọ về”, những cuộc tình vui buồn, dang dở, đau khổ, trái ngang mà vai chính là phụ nữ. Đây không hẳn là những tờ lưu bút ngày xanh mà là những lời văn đã tới, đã đạt. Không tác giả phái nam nào diễn tả tâm thức, tâm trạng phái nữ bằng tác giả phái nữ. Chuyện tình cũng thế, niềm hạnh phúc, nỗi đau khổ, niềm uất ức, phụ nữ nuốt vào trong. Đàn bà tế nhị chi ly hơn nhiều. Anh đâu có biết em thích ngửi mùi thuốc lá của anh, em rất ưa hơi đàn ông của anh, trong khi các anh chỉ biết ca tụng hương thơm trên mái tóc dài hay chê người ta không có thân hình đẹp, không có mắt huyền. Anh đâu có hay đàn bà không ưa lối uống trà ừng ực, xúc miệng sùng sục, thiếu lịch sự và mỹ cảm nhiều lắm.

5. Có lẽ những hoài niệm đáng ghi nhớ nhất trong đời một phụ nữ là những năm còn bé cắp sách đến trường và những cuộc tình duyên đã trải qua. Yêu ai yêu cả một đời…Nhớ quá đi thôi, nhớ suốt đời, nhớ cho đến khi nhắm mắt. Khi đã thành gia thất chỉ còn là trách nhiệm, bổn phận làm vợ, làm mẹ, làm bà nội bà ngoại. Đàn ông không như thế, không nhớ nhiều lắm về tuổi thơ, có khi còn cáu kỉnh khi ai nhắc lại chuyện thủa nhỏ của mình. Chuyện tình thì vô trách nhiệm, lại coi như lập thành tích, một cuộc rong chơi thích thú. Như tác giả nói qua Lời Ngỏ chỉ muốn người đọc cười khóc cùng tôi. Tôi nghĩ rằng những chuyện kể ở đây rất ít hư cấu, thuật lại khá trung thực, bởi đó rất có thể là hồi ký của chính người viết, và ôn lại chuyện cũ của các bạn gái.

6. Điểm vào đó không phải là chỉ có chuyện nữ sinh, chuyện tình ái. Ấu Tím là chứng nhân của những thời 60, 70, 80 ở Sài Gòn và 90 ở ngòai nước cho đến ngày nay. Trong bối cảnh lịch sử, xã hội, nỗi bất hạnh của đất nước, phụ nữ gái thời loạn khổ lắm. Người tình quân nhân đưa đón em tại trường, người chồng yêu thương bị chết trận, người cha chết bó chiếu trong trại tù cải tạo, những cái ngu dốt, độc ác của lũ người thắng trận. Rồi những dòng hồi ức ngày 30 tháng Tư năm đó…Những tiếc nuối, ân hận, những hứng chịu những kỳ thị, bất công. Người con gái thèm áo cưới, thèm nghe tiếng trẻ con khóc… nhưng hoa trong biển lửa, ước mơ nhỏ, bình thường, giản dị không bao giờ thực hiện nổi.

7. Tôi chọn “ Một quãng xuân thì” là truyện gây xúc động nhất. Cô gái nhà nghèo ngoan đạo, hiền lành, chăm chỉ,quanh năm suốt tháng vất vả nuôi tằm quay tơ, hái trà hai bàn tay cứng và xưng đỏ lên. Cô lạc lõng cô đơn nơi hẻo lánh. Không có người đàn ông nào tìm đến với cô. Cô không có tình yêu, không ai yêu cô và cô chưa yêu ai. Nhưng cô phải tự nhận lấy thiên chức làm mẹ, cô cần một đứa con, cô yêu thương trẻ con. Người đàn ông vô danh và vô trách nhiệm bỏ đi, còn lại cô quằn quại dưới roi đòn, xỉ vả của bà mẹ ngoan đạo, nhưng ác với con gái có chửa không chồng. Thân phận phụ nữ thật đúng như câu thơ: Tôi làm con gái, buồn như lá cây.

8. Tuy chỉ mới đặt bàn viết ít lâu nay, Ấu Tím đã tỏ ra có bản lĩnh viết văn và có triển vọng tiến rất xa. Bởi Ấu Tím viết với tất cả tấm lòng chân thật, không làm dáng, làm điệu. Những câu chuyện, những mảnh đời đã kể là những bi kịch. Mong sao những tác phẩm kế tiếp tác giả sẽ lạc quan hơn, sẽ có nhiều hoa, bướm, tin yêu hơn. Trong Lời Ngỏ tác giả nghĩ rằng viết ra chỉ Có gió nghe và có mây hiểu chuyện. Không phải thế đâu, Ấu Tím khiêm nhường quá đấy thôi. Gió sẽ đưa hơi văn , đưa tâm sự tác giả đi khắp nơi, mây sẽ chuyên chở lời gửi gấm chân thành của Ấu Tím đến bốn phương trời tới tay người đón nhận, người đọc sẽ cảm thông và yêu qúy tác phẩm đầu tay này.



trả lời


Giới thiệu Tác Phẩm




Dẫn Nhập




Có lẽ nên khởi đầu bằng bài "dòng thơ lưu vong". Bài thơ chỉ mới viết cuối năm 2007, vừa như để trả lời những thân hữu hỏi: Bao giờ thì Cao Nguyên in một tập thơ riêng của mình vậy?, vừa như để trả lời với chính tôi: đã đủ sự trân trọng mời người khác đọc thơ của mình chưa?
Sự trân trọng của tấm lòng đối với chữ nghĩa cũng ngang bằng với việc gởi chữ nghĩa của mình đến với người đọc.
Mượn tên tranh "nghìn đêm thao thức" của Họa Sĩ Vũ Hối để phóng lên sự "thao thức" của chính mình về riêng chủ đề "Tháng Tư": còn lắm bâng khuâng giữa những điều đã viết, như đang đi vẫn hỏi chuyện ngày mai, vẫn hỏi chuyện khởi đầu từ ấy... để lòng đau?
Nhưng vẫn viết như vẫn đi... dẫu đôi lúc tự hỏi: viết để làm gì? Để gió cuốn bay... lên những trang web!
In một tập thơ, nhiều lắm là 1000 cuốn gởi đến 1000 người đọc. Trong khi mình gởi thơ lên trời, thơ bay tám hướng bốn phương, người bắt gặp thơ mình chắc sẽ nhiều hơn. Điều đáng nói là cám ơn tấm lòng người với chữ nghĩa tôi.
Khi nào định hình được chữ nghĩa tôi giữa lòng người, thơ sẽ in như một di ngôn!


Dòng thơ lưu vong

Người ta in thơ ra rồi mới bán
tôi bán thơ trước khi in ra
vì muốn biết còn bao người thích đọc
dòng thơ lưu vong viết gởi quê nhà

vì muốn biết bạn bè ở quanh ta
có bao nhiêu người mang nỗi lòng Do Thái
dựng trong tim một dãi Sơn Hà
sống ở đâu cũng nhớ về đất Tổ

*

người ta in thơ ra rồi mới tặng
tôi tặng thơ trước khi in ra
vì muốn biết còn bao người say đắm
được ngắm mình trong ngôn ngữ Mẹ Cha

vì muốn biết giữa điệp trùng tiếng động
còn bao người nghe trầm sóng dòng sông
đang luân chuyển tấm lòng thơ mở rộng
vào mạch quê hương khát vọng tự do

*

sự chênh lệch giữa thơ mua và tặng
giá ước chừng hơn một tách cà phê
chữ để đọc hay chỉ là để ngắm
cũng bâng khuâng từ mỗi cuộc đi, về

người muốn mua thơ hay thích tặng
kẻ làm thơ cũng trân trọng cám ơn
vì đã biết còn tấm lòng cảm nhận
những yêu thương trên mỗi chặng căm hờn!

*

trân trọng viết hai chữ Việt Nam
nơi trang bìa của "dòng thơ lưu vong"
trên nền vàng của phi trường, cửa biển
nơi vẫy chào vĩnh viễn những tấm lòng

những tấm lòng đi viết thơ trên đá, cát
mỗi dòng thơ khao khát nghĩa hòa bình
viết mãi miết theo hành trình gió hát
những bài ca hùng tráng thuở bình minh!

Cao Nguyên


Mời xem "Thao Thức":
http://caonguyen.net/cn/viewtopic.php?p=3974#3974



trả lời


Giới thiệu Tác Phẩm


MÙA XƯA VỖ CÁNH

Cao Nguyên vừa nhận tập thơ "Mùa Xưa Vỗ Cánh" do chính tác giả thân tặng trong dịp gặp nhau tại Washington.DC chiều Thứ Bảy 19/4/2008.
Xin trân trọng giới thiệu tập thơ đến những người yêu thích thơ.
Mời đọc cảm nhận của nhà văn Luu Nguyễn Đạt về thơ Đỗ Bình nhìn chung, và riêng trong "Mùa Xưa Vỗ Cánh":


SÁNG TẠO KẾT SINH
TRONG THI CA ĐỖ BÌNH



Tại một thiền viện dòng tu Rinzai, Đất Phù Tang, mỗi sáng các thiền sư dùng điểm tâm bằng một bát cháo lỏng, dưới đáy thưa thớt vài hạt cơm. Gần miệng nhà tu, bát cháo lỏng trong vắt phản ánh trần nhà, dưới mái thiền môn. Do đó các nhà tu gọi là “cháo trần”. Và khi hớp hụm “cháo trần”, các nhà tu lùa vào thân thể và tâm não vừa chất dinh dưỡng, vừa ấn tượng hài hoà đối chiếu, hướng thượng.

Một tác phẩm thi văn cũng được coi là một món ăn tinh thần. Vậy so sánh với “cháo trần” thiền môn, thi phẩm MÙA XƯA VỖ CÁNH [1] của Đỗ Bình phản ánh gì? Chúng ta hãy đọc bài thơ mở đầu, “Mùa Xưa”:

Dạ khúc,
mưa khuya
sầu trút cạn.
Long lanh
giọt nước
bóng thời gian.
Mùa xưa vỗ cánh
về trăng mộng.
Phố, biển,
nhòa theo
sóng khuất ngàn! (MXVC, «Mùa Xưa », 39)

Trong bài thơ này, từ mặt đất, “Dạ khúc” vốn là sáng tạo của người nghệ sĩ lồng chiếu “mưa khuya”, để tất cả khơi lại chất sầu trong lòng người, đứng giữa trời và đất, đứng giữa quá khứ và hiện tại. Phải chăng chất “sầu trút cạn” mở đầu cho cả một chuỗi đau trùng khởi, phản ánh và xuyên chiếu khắp thi phẩm MÙA XƯA VỖ CÁNH. Niềm đau hiện sinh là chất lượng và lý do sáng tạo thi ca, là nguồn thơ khai mở mà Musset đề cập tới trong “La Muse”, [2] với phần trích đoạn như sau:
Quel que soit le souci que ta jeunesse endure,
Laisse-la s'élargir, cette sainte blessure
Que les séraphins noirs t'ont faite au fond du cœur;
Rien ne nous rend si grands qu'une grande douleur.
Mais, pour en être atteint, ne crois pas, ô poète,
Que ta voix ici-bas doive rester muette.
Les plus désespérés sont les chants les plus beaux,
Et j'en sais d'immortels qui sont de purs sanglots [...]

Theo truyền thống lãng mạn, mà Đỗ Bình phần nào chịu ảnh hưởng, mức độ sáng tạo vĩ đại trong thi ca và tư duy cao quý của thi nhân tự trọng, trung thực với chính mình và tha nhân, không thực hiện ở chỗ câm nín, chịu đựng thống khổ, mà phát xuất ở khả năng mở toạc tâm gan như con chim biển Pélican của Musset, để nói lên sự thật về nỗi thống khổ của mình, về thân phận người, nhiều thương tích :

«Cứ khom lưng mau vươn thân em ạ,
Đời lõa lồ, chữ nghĩa cũng...banh da !»
(MXVC, «Bờ Lau Lách », 114)
Cái đau của Đỗ Bình không bị gò bó, kìm hãm trong tâm cảnh nhà tu khổ hạnh,[3] không chảy máu khô khan nơi thân thể siêu thực, cao ngạo theo triết phái khắc kỷ (stoïcisme).[4] Cái đau trong thi phẩm MÙA XƯA VỖ CÁNH thu hút, lây biến từ nỗi đau này sang nỗi đau khác, như một hiện tượng chảy máu phía trong cơ thể,[5] một cách liên tục, liên khởi, dây chuyền.

Nỗi đau trong thi phẩm MÙA XƯA VỖ CÁNH phát xuất từ sự cảm nhận một hiện tượng mất mát hiện sinh. Ở địa hạt không gian, đó là những «Chấm Phá ... hay mối đục mảnh trăng rằm» (MXVC, 47), những «Mảnh Vỡ» (MXVC, 50) quê hương xứ sở, nay chỉ còn là bóng dáng hoen mờ của «thiên thai lạc giấc mơ đầu » (MXVC, 51). Hiện tượng mất thiên đường, bỏ thiên thai là viễn ảnh tách biệt khỏi môi trường sinh sống toàn bích, chân, thiện, mỹ, mà người xưa đã từng biết tới:

«Bức tranh cổ nửa đời say đắm
Có thuở vàng son lắm khách thăm ...»
(MXVC, «Chấm Phá», 47)

Đó là những hình ảnh nguyên vẹn, trong sáng, êm dịu:

«Em thuở đó như nàng tiên phố nhỏ
Tuổi mộng mơ hồn xanh ngát học trò
Dáng mỏng manh tà áo trắng đong đưa... »
(MXVC, «Màu Mắt», 57)

Đó cũng là những hình ảnh hướng thượng về một không gian tuyệt hảo của huyền sử tổ tông, của những cội nguồn xa xôi, mà con đường về ngày nay đã mất hết dấu tích dẫn lộ:

«Theo em quên nẻo đường về
Trăm năm chợt tỉnh lời thề có nhau ?
Thiên thai lạc giấc mơ đầu... »
Đập gương tìm bóng hỏi câu ân tình »
(MXVC, «Mảnh Vỡ », 51)

Thiên thai trong huyền sử dân tộc Việt liên tưởng tới một không gian tuyệt hảo, với những bữa tiệc thần tiên, đào ngọt, rượu quý, mà chỉ những hiền nhân, như Lưu Nguyễn, mới có duyên hạnh ngộ. Giống như không gian tuyệt mỹ của Gérard de Nerval, mà Richard Jean-Pierre gọi là «Géographie magique»,[6] hay địa lý thần linh, cái «thiên thai lạc giấc mơ đầu» siêu việt của Đỗ Bình cũng ẩn dụ sắc thái toàn cõi thiên cung:

«Nửa vầng trăng cũ lung linh nghê thường
Ta về trả cõi yêu đương
Còn nghe âm hưởng thiên đường ngày xưa... »
(MXVC, «Mảnh Vỡ », 51)
Đối với Đỗ Bình, «trăng» là một viễn ảnh trong sáng, huyền bích, tiêu biểu cho lý tưởng hướng thượng về một không gian cao đẹp của Quê Hương Xứ Sở trước đây. Bùi Giáng và rất nhiều văn thi sĩ khác đã dùng cụm từ «Cố Quận» để ám chỉ những địa danh, những «Hồn Quê» bị mất tên, đổi dạng, thất tung trong dòng lịch sử võ đoán, hẹp hòi của những năm tháng vừa qua.
Sự đổ vỡ của đất nước còn lan rộng mãi :
« Sợ thế nước nghiêng thành sóng vỡ
Quê hương trôi mãi tận cung hằng !»
(MXVC, « Sóng Vỡ », 52)
Hiện tượng «cung hằng » ở đây nhắc tới một không gian viễn tạo, cái đất hứa lý tưởng tuyệt vời, nhưng đầy ảo ảnh, đồng thời cũng ám chỉ một nơi hằng cửu của cõi chết, ngay giữa lòng Thái Bình Dương, nơi đã cuốn đi biết bao «thuyền nhân», những « boat people » [7] liều lĩnh vượt biển, người đắm tàu, kẻ chết nổi, vì mong muốn thoát khỏi đất tù cộng sản.

Cựu Ước và Tân Ước Ky Tô Giáo có nói tới sự xua đuổi con người khỏi thiên đường vì tội lỗi tổ tông trước cám dỗ thể xác và kiến thức táo bạo hiện sinh.[8] Sự đày đoạ của Người Việt ngày nay nơi Thiên Đường Cộng Sản cũng do lòng ham muốn tự do, ao ước tìm lại dân chủ nhân bản. Sự xua đuổi con người ra khỏi quê hương xứ sở ngày trước, cũng như tình trạng quên lối về lại thiên thai, luôn luôn được phối kiểm trong thơ Đỗ Bình bằng sự tách nối, vừa tương phản, vừa tương ứng của hiện tại và quá khứ:
«Thiên thai lạc giấc mơ đầu
Đập gương tìm bóng hỏi câu ân tình
Bẽ bàng mảnh vỡ lặng thinh.. » (MXVC, « Mảnh Vỡ », 51)
hoặc :
«Trải dòng suối bạc
ngỡ rừng xưa
Vói tay
Mới biết
làn hư ảo...» (MXVC, « Mộng Thừa », 46)
hoặc :
«Bức tranh cổ nửa đời say đắm
Có thuở vàng son lắm khách thăm
Một sáng tình cờ lau lớp bụi
Mới hay mối đục mảnh trăng rằm»
(MXVC, «Chấm Phá», 47)
Như vậy, nỗi đau hiện sinh trong lòng thơ Đỗ Bình là do sự va chạm, day dứt, đối nghịch giữa một quá khứ tốt đẹp, mỹ miều và một hiện tại bẽ bàng, đổ nát, ô nhiễm. Con người đày đoạ trong hiện tại và môi trường sinh sống suy thoái thấy mất lý tưởng cao đẹp, dần dần bị lôi cuốn, vùi dập trong ô nhiễm hiện hữu:
«Ai nỡ
xô trăng
xuống vũng lầy ?»
(MXVC, «Xót Trăng », 48)

Kể cả người thoát khỏi cảnh tù đày, ô nhục, nay sinh sống nới đất khách quê người, cũng vẫn khắc khoải cô đơn, với những cảm giác lạc lõng của kẻ tỵ nạn, vất vưởng ngoài lề mảnh đất tạm nương:
«Em theo tiếng gọi mơ hồ
Lòng say phố mới quên bờ suối xưa !
(MXVC, «Chữ Tình », 61)

Hoặc :
«Hơn gì nhau kiếp lưu đày
Chén vàng thì cũng mượn vay xứ người ?!
(MXVC, «Kỹ Nữ», 119)
Hoặc :
«Sông Seine
hờ hững niềm đau...

Phố đông
người vẫn bơ vơ
Người đông
thôi cũng ơ thờ
lặng thinh ! »
(MXVC, «Cô Đơn», 67)

Hoặc :
«Kiếp tha hương buồn tênh
người quanh ta hững hờ !»
(MXVC, «Chiều trên Sông Seine», 77)

Sự mất mát hiện sinh còn xót xa, gần gũi, khi liên hệ trực tiếp tới sự khuất biệt của người tình:

«Ôi giai nhân
Trong đáy nước nhạt nhoà
Em trôi mất
mảnh thuyền xưa
mục rã !»
(MXVC, «Bọt sóng», 87)

Hoặc :
«Em biệt mãi phố già hơn tháp cổ
Ta trầm luân theo ngàn sóng giạt xô
(MXVC, «Màu Mắt », 58)

Hoặc :
«Từ khi xa em
tâm hồn ta héo hon lạc loài ! »
(MXVC, «Phố Khuya», 84)

Và :
«Không có em...lối bỗng thênh thang !
Em đi nắng cũng quên nơi ấy
Bỏ chiếc lá thu tủi bẽ bàng ! »
(MXVC, «Thu Paris », 76)

Sự vắng vợi của người tình làm không gian trống trải, như trong bài thơ «L’isolement» của Lamartine:

Que me font ces vallons, ces palais, ces chaumières,
Vains objets dont pour moi le charme est envolé ?
Fleuves, rochers, forêts, solitudes si chères,
Un seul être vous manque, et tout est dépeuplé. [9]

Tình trạng mất mát đối tượng ân tình đôi khi phản chiếu trong thơ Đõ Bình bằng những cảm giác bẽ bàng, bằng thất vọng đắng cay, nếu cố nhân bội bạc, thay lòng đổi dạ:
«Lòng em
gian dối
khôn lường
Lừa nhau
đến đoạn cuối đường
tình ơi !.. »
(MXVC, «Vỗ Cánh», 59)
hoặc phản ánh bằng sự ngờ vực, hay ngộ nhận nơi chính mình:
« hay em là hư ảnh ? (MXVC, «Chỉ Yêu Cuộc Tình», 68)
Thi nhân đã có lúc đổi thế tiêu cực, đứng xa khỏi vị trí nạn nhân của cảnh độ vỡ, bội bạc hà tì, bằng cách khéo léo «soi gương», nghĩa là tách khỏi mình để nhìn mình và tự châm biếm, như coi cái mất mát, xấu xa, hà tì nội tại là một hiện tượng bên ngoài, có thể trông thấy một cách khách quan, rõ rệt:

«Soi gương
giận
chẳng thấy mình
Đem treo xó bếp
bỗng
hình
hiện ra...
Hoảng hồn
tưởng gặp
bóng ma !
Sáng đèn
mới tỏ
chính ta
dọa mình !
(MXVC, «Soi Gương», 97)

Tự châm biếm, mỉa mai là một sắc thái của tư duy lãng mạn, ironie romantique [10]. Khôi hài hoá cái đau, cái thấp kém, bẽ bàng của chính mình cũng là một đặc tính của người Việt khi ta biết dùng nụ cười, hoặc giả dạng nhũn nhặn, khiêm tốn để tự bảo vệ, để sáng suốt nhận định và thấy rõ cảnh rầy vò nội tâm chỉ là một thoáng «bi-hài-kịch», không hơn, không kém, đáng cười hơn là đáng sợ.

Sau thái độ hốt hoảng thổ lộ đau đớn bẽ bàng, sau cả sự nhận định sáng suốt về thực trạng khả chấp của những cảnh đổ vớ, mất mát, thái độ tích cực nhất của thi nhân là ở khả năng bừng sống lại, khi biết chắp nối sinh lực:

«Anh xin ca ngợi tình yêu
Dù cho đời vẫn có nhiều dối gian !
...
Bên nhau ngày bớt hững hờ
Rừng xuân chim hót ngẩn ngơ đắm hồn ! »
(MXVC, «Đồi Thông», 63)

Khi tin rằng tình yêu vẫn còn sức bồi dưỡng, hoàn sinh :

Gặp em
hồn bỗng cảm

mùa xuân
trên đời.»
(MXVC, «Tri Kỷ», 70)

Khả năng chắp nối sinh lực còn biểu lộ qua hiện tượng lôi cuốn nhiều cảnh huống khác nhau, tiếp cận quá khứ với hiện tại, tình cảm với hoài cảm, như một bài ca láy nhịp trùng khởi, hài hoà kết sinh sáng tạo:
«Mưa Paris giọt buồn rơi thánh thót
Cơn mây chiều giăng nỗi nhớ quê hương...

Mưa thổn thức ôm nỗi lòng phố Huế
Nhìn sông Seine mà ngỡ nước sông Hương...

Mưa Hà Nội bỗng chợp chờn lối ngõ
Phố cổ xưa màu sắc lẫn Paris...

Mưa rả rích Paris càng thơ mộng
Thương Sài Gòn mưa ngập lối nhà em...»
(MXVC, «Mưa Paris », 79-80)
Ở trạng thái nhập tâm này, nỗi đau chia tách quá khứ và hiện tại đã giảm thiểu nhiều, chỉ để lại một niềm linh cảm dây chuyền, nối tiếp những cảm xúc đồng tâm, đồng cảnh, xuyên chiếu lẫn nhau để kết tạo những thi ảnh có chiều sâu, có đáy lòng người biết thương, biết nhớ, biết thụ hưởng, biết sáng tạo. Đỗ Bình đã gây được trào lực kết sinh trong sáng tạo thi ca khi sát hợp nhiều hiện thể trùng khởi. Nỗi đau trong kiếp nhân sinh trở thành những hiện tượng khả chấp, những thực thể vô thường, vô ngã, có khả năng tiếp ứng, cải biến lẫn nhau. Trong ý thức trùng khởi kết lực sinh tồn, con người liên hiệp với nhiều sắc thái nhân bản khác nhau để bù đắp cho thân phận, để liên tục hồi sinh, về lại với chính mình, với lý tưởng hài hoà:
«Thả hồn lướt cánh say trong nắng,
Giải thoát đời qua kiếp đọa đày !»
(MXVC, «Người Tù Và Bóng Tối », 88)
và sau đó :
«Ta về trả cõi yêu đương
còn nghe âm hưởng thiên đường ngày xưa... »
(MXVC, «Mảnh Vỡ», 51)

Để kết luận, ngay lúc khai mở, tên thi phẩm MÙA XƯA VỖ CÁNH, tự tại là một thách đố siêu thoát thời gian lẫn không gian. «Mùa Xưa» thoát vượt sự sắp xếp luân vũ xuân, hạ, thu, đông. « Mùa Xưa » vỏn vẹn như dòng nước vô ngã, vô thường, với vạt thời gian đầy ngập hư không. « Mùa Xưa » không có màu sắc rõ rệt, không hoa, không lá, không mưa, không nắng. Vô hình, quá khứ lôi cuốn, xoá nhoà, thu hút, thời điểm thi ca vang vọng từ những vực sâu đáy thẳm. « Mùa Xưa » chỉ còn là một cảm giác bất biến, bất thành. Có cũng như không. Không mà vẫn có.

Bỗng dưng, Đỗ Bình, như nhà ảo thuật sinh tồn ngôn ngữ, đã vung tay chắp nối « Mùa Xưa » với trào lực « Vỗ Cánh ». Bỗng dưng, cái thời gian xoá nhoà kia, vô hình, vô dạng kia lại tồn tại trở lại, vùng vẫy ngay trong không gian và tầm mắt của hiện hữu mong manh, ngay trong ánh sáng đầu mùa sáng tạo: «Mùa xưa vỗ cánh về trăng mộng », về lại lý tưởng bất khuất, bất diệt.

Song song, cả thi phẩm MÙA XƯA VỖ CÁNH đã được hoán chuyển từ tâm cảnh của thi nhân tới bờ hạnh ngộ nơi độc giả. Trong cuộc hành trình kết sinh sáng tạo tiếp nối, đa diện.

Lưu Nguyễn Đạt, Ph.D
Fairfax, Virginia, 19 April, 2008

GHI CHÚ

[1] Đỗ Bình, MÙA XƯA VỖ CÁNH. California, Nhà Xuất Bản Cội Nguồn, 2007. Những trích dẫn từ thi tập sẽ ghi MXVC với số trang liên hệ.
[2] Musset, “La Muse”, La nuit de Mai, Poésies Nouvelles (1836-52)
[3] Tu khổ hạnh, chịu đựng kham khổ, ascétisme.
[4] Triết phái khắc kỷ (stoïcisme) phát xuất từ triết gia Zénon: «supporte et abstiens-toi».
[5]... một thứ ‘hémorragie interne’.
[6] Richard Jean-Pierre, Poésie et Profondeur. Géographie magique de Nerval. Profondeur de Baudelaire. Fadeur de Verlaine. Rimbaud, ou la poésie du devenir. Paris, Editions du Seuil, 1955. Collection «Pierres Vives ».
[7] «Boat People» là danh xưng dành riêng cho những «thuyền nhân» tỵ nạn cộng sản, những người Việt đã liều lĩnh vượt biển, vượt sóng gió, đương đầu với hải tặc, với mọi nguy nan bất trắc, cốt để thoát cảnh thống khổ tinh thần, thể xác, kinh tế, chính trị, với hy vọng cặp bến tạm trú, hoặc tới nơi «Đất Hứa». Đã có cả ngàn, ngàn người thuyền nhân bỏ mạng nơi biển cả, hoặc mất xác trên hoang đảo thuộc Thái Bình Dương.
[8] Sự cám dỗ về thể xác và kiến thức táo bạo hiện sinh được đề cập qua biểu tượng «Cây Kiến Thức », l’arbre de la connaissance (du bien et du mal) trong Cựu Ước (Ancien Testament), Tân Ước và Truyền Thống Ki Tô Giáo (Nouveau Testament/Christianisme), lẫn Hồi Giáo (Islam).
[9] Lamartine, Méditations Poétiques, «L’isolement», 1820.
[10] Tự châm biếm, mỉa mai là một sắc thái của tư duy lãng mạn, ironie romantique, do Friedrich Schlegel và Byron khởi xướng và ứng dụng lần đầu tiên trong thế kỷ XIX tại Âu-Châu.



trả lời


Giới thiệu Tác Phẩm


HƯƠNG TÓC CỐ NHÂN



Tôi quen anh Tràm Cà Mau từ sự đồng cảm về cả chữ nghĩa và ngôn từ.
Chữ nghĩa đơn giản như "củ khoai", từ lớp vỏ đời của "củ" đến cốt lõi triết lý đạo của "khoai". Đọc qua rồi muốn đọc thêm, do tôi kèo nài, anh ấy gởi truyện "hương tóc cố nhân" vào tuyển tập "Bến Trăng", không quên nhắn tôi: Cố mà chọn những tác phẩm "đứng được" giữa lòng người.
Hôm nay, nhận email cái trang bìa tập truyện ngắn cũng mang tên "Hương Tóc Cố Nhân", trước khi tập truyện đến với tôi.
Xin gởi vài lời nơi đây như khơi chuyện, mời bạn tìm đọc "Hương Tóc Cố Nhân" để cùng nhìn nhân ảnh người xưa qua cách viết đã đời của người bạn văn đáng mến: Tràm Cà Mau.
Ai muốn ôm "Hương Tóc Cố Nhân" để ngắm và ngẫm, xin liên lạc với tác giả qua email: tramcamau2003@yahoo.com

Cao Nguyên



trả lời


Giới thiệu Tác Phẩm


Xin hân hạnh giới thiệu cùng quý bạn đọc, tập thơ Bóng Thời Gian, với thơ:


Dã Quỳ - Như Hoa - Thi Hạnh -Tiểu Thảo






Lời Ngỏ

Ở một nơi, giữa những tín hiệu chằng chịt của hệ thống thông tin toàn cầu, người ta đến với nhau, cùng nhau trao đổi suy tư, ý nghĩ, cuộc sống, văn học và thơ ca. Trong đó, nhiều tâm hồn yêu thơ ca, yêu tiếng Việt, dù không cư ngụ gần nhau, nhưng đã đến với nhau, gặp gỡ nhau trong tiếng nói của những vần thơ rất vụn. Đây chính là điểm hẹn của Bóng Thời Gian.

Bóng Thời Gian đến với bạn bằng tất cả sự bình dị của con chữ, từ những tấm lòng hết tình trân quý ngôn ngữ Việt. Bốn tâm hồn, trong thơ, tìm lại những gì tưởng đã lãng quên, từ chân dung rõ nét hình hài, đến ngay cả những điều thầm kín nhất. Mỗi bài thơ là một lời tâm sự, một tâm tình gởi cho người, cho đời. Để dù thời gian có vô tình phôi phai, cũng vẫn còn có thể giữ lại trong nhau nụ cười, hay hình ảnh đẹp của một thời yêu dấu.

Bóng Thời Gian, chút tình đơn sơ, nhưng rất thật, được vỗ về bằng nét thơ, gởi người thân, bạn bè, để biết rằng quanh đây vẫn còn có những tấm lòng, dù hơn nửa đời tha phương, lạc loài trên đất khách quê người, vẫn nặng nợ với Quê Hương, tiếng Mẹ.

Xin hãy đón nhận Bóng Thời Gian như một bông hoa vừa kết nụ.

Dã Quỳ


Lời... Mời

Vậy là bốn Út của Một Góc Phố lặng lẽ chuẩn bị . Tập thơ được hình thành với những bài thơ còn ... vụng, như Út Quỳ nói trong lời ngỏ . Thỉnh thoảng có Út đùa "Tụi mình chỉ là chòi thơ hay lều thơ thôi". Những bài thơ tuy vụng nhưng chính là những cố gắng ... của mấy Út, bởi Út nào cũng bận rộn với công việc, gia đình mà làm thơ thì phải cần có thì giờ và tâm tư . "Đã mang lấy nghiệp vào thân", tuy làm thơ không phải là nghiệp nhưng có lẽ mấy Út còn nặng nợ với chữ nghĩa, ngôn ngữ Việt Nam nên hễ có vài ba phút là nguệch ngoạc viết ...

Tập thơ còn có ý nghĩa quan trọng nữa là ... một chứng tích, một kỷ niệm cho những ngày quen biết nhau . Dòng đời hợp rồi tan, tan rồi hợp, chẳng biết đâu ngày mai nên mấy Út muốn giữ lại ... một chút gì để nhớ .

Nếu bạn cầm trong tay tập thơ Bóng Thời Gian, bạn hãy mở lòng ra trước khi đọc một bài thơ nào đó để có đủ vị tha và cảm nhận qua chữ nghĩa vốn vẫn còn vương vấn nét học trò với những tình cảm nhẹ nhàng như ... khói sương, mây nước trong thơ . Yêu để sống đẹp hơn . Yêu để sẵn sàng thứ tha cho những lỗi lầm . Yêu để thêm một chút trăn trở suy tư với đời . Đó là Bóng Thời Gian . Đó là một bông hoa biết nói từ những cánh hoa đơn sơ của Út Hạnh, Út Quỳ, Út Mộng và Út Thảo gộp chung lại từ bốn phương trời.

Tiểu Thảo


***

Bốn Út - Bốn phương trời
Bốn hồn thơ tỏa tuyệt vời sắc hương
Lời tình viết gởi yêu thương
Ngẫu nhiên trong cõi vô thường hiển hoa!

Xin gởi lời mừng Bốn Út hợp tâm gởi lòng người đồng cảm qua những dòng thơ viết bởi những tấm lòng.
Chúc Bốn Út luôn vui khỏe, tươi trẻ như những nhịp điệu thơ dung dăng dung dẻ vào đời dưới Bóng Thời gian.
Cao Nguyên



trả lời


Giới thiệu Tác Phẩm






“Tình Thư Từ Mười Ngàn Dậm Xa”... là một tập truyện tình, nhưng không phải của chúng ta, những người hai màu tóc, mà của những người trẻ sinh ra hoặc lớn lên tại hải ngoại nhưng vẫn còn nghĩ đến Việt-Nam, vẫn còn đi tìm một quê hương. Tôi xa V.N. hơn 35 năm, ôm một hoài bão là một ngày nào trở về đóng góp chút gì cho quê nhà (quê nhà chứ không phải chính thể), nhưng vì hoàn cảnh, và nhất là vì lý do sức khỏe, tôi vẫn còn một góc bên trời, nên đành gửi gấm tâm sự và hoài bão vào lớp người trẻ, hy vọng rằng ít ra họ nghĩ tới, và biết đâu có một ngày nào đó sẽ chẳng trở về nguồn. ..."

Trần Quang Thiệu



Mời các bạn đọc truyện trong 2 tuyển tập: ‘Về Nơi Mù Sương’‘Tình Thư Từ Mười Ngàn Dậm Xa’ của nhà văn Trần Quang Thiệu theo nguồn: http://vinasoft.com/



trả lời


Giới thiệu Tác Phẩm




http://www.hungsuviet.us/vanhoa/chongcon.html



trả lời


Giới thiệu Tác Phẩm





CÕI THƠ TÌM GẶP



TÁC PHẨM



Tập sách này tập hợp 40 bài bình thơ của 40 tác giả.
Thơ mỗi tác giả, trích trong tác phẩm đã xuất bản, hoặc tìm thấy trên một số Tạp chí Văn Học Nghệ thuật, hoặc đọc được trong các tập san gần, xa từ đầu thập niên 1950 tại quê nhà, và nay tại hải ngoại.
Một số bài trong tập đã phổ biến trên Tạp chí Nguồn – tạp chí nhận định phê bình văn học do thi văn cội nguồn chủ trương – đồng thời một số bài khác cũng đã chạy trong Trang Văn Học Nghệ Thuật cuối tuần Việt Nam Thời Báo, miền Bắc tiểu bang California.
Tập sách gồm bốn chương, diễn tiến bốn thời kỳ lịch sử văn học và thi ca – Thơ miền Nam trước 1975. Thơ miền Nam sau cuộc đổi đời. Thơ miền Nam nối dài ra hải ngoại. Và thế hệ thơ nối tiếp.



CHƯƠNG I – THƠ MIỀN NAM TRƯỚC 1975

Tiêu biểu là thơ Tạ Ký, Bùi Giáng, Nguyễn Tất Nhiên, Nguyên Sa, Hoàng Lộc, Nguyễn Bắc Sơn và Trần Hoài Thư.

Khởi đầu với bài thơ “Thêm Buồn” của Tạ Ký. Bài thơ góp mặt trên tuần báo Đời Mới, ấn hành tại thủ đô Sài Gòn năm 1952, thời điểm báo chí còn hiếm quý. Học giả Trần Văn Ân, Chủ nhiệm của tuần báo này. Khi đặt bút viết “Thêm Buồn”, Tạ Ký còn ngồi trong lớp tại trường Trung học Khải Định, Huế. Trước đó anh chạy vào rừng theo “phong trào kháng chiến” với đám học sinh cùng trang lứa, hoàn cảnh quê hương Quảng Nam. Sau năm năm lăn lóc sương gió Trường Sơn, hồn thơ bừng tỉnh giữa nghi hoặc muộn màng, vội vàng rời khỏi quỹ đạo chiến khu về vùng quốc gia, tiếp tục mộng tưởng sách đèn, khoa cử. “Thêm Buồn” khơi vơi tâm trạng chính mình, bất an thời điểm bập bùng lửa khói, và xa, rộng hơn, phóng tầm nhìn trách nhiệm với đất nước đeo đẳng khổ lụy, hận thù chưa biết đến bao giờ chấm dứt.

Những bài thơ còn lại trong Chương I, của Bùi Giáng, Nguyễn Tất Nhiên, Nguyên Sa, Hoàng Lộc đã hiển lộ thời kỳ sáng tác phong phú, sung mãn trong xã hội tự do, nhân ái, và phát triển năng động. Mỗi tác giả mỗi vẻ, mỗi dáng, mỗi giọng, thanh thoát, vững vàng, giữa môi trường sáng tạo rộng lớn, hoàn toàn khác biệt với loại thơ giáo điều Mac-xít miền Bắc, khô cứng, gượng ép, vô cảm.
Ý tưởng, nội dung thơ quân đội, tính chiến đấu cũng đa hình, đa sắc, không hạn chế câu thúc, hoặc chỉ dẫn theo bất cứ khuôn mẫu nào. Trái lại, cởi mở, hiện thực, điển hình qua thơ Nguyễn Bắc Sơn và Trần Hoài Thư.



CHƯƠNG II – THƠ SAU CUỘC ĐỔI ĐỜI TRÊN QUÊ HƯƠNG

Biến cố lịch sử cuối tháng Tư năm 1975, đào bới tận gốc rễ văn hóa miền Nam. Chỉ vừa qua đêm, con người thiện hảo đã biến dạng, vong thân, hãi hùng cơn ác mộng. Mô hình gọi là ‘Xã Hội chủ nghĩa” thô lậu, méo mó áp đặt lên toàn bộ sinh hoạt đời thường. Tập đoàn cầm quyền tái diễn trò chơi man rợ “phần thư khanh nho”, rập khuôn bạo chúa Tần Thủy Hoàng xưa cũ. Cấm kỵ, tiêu hủy mọi tác phẩm văn hóa, lịch sử miền Nam. Truy lùng, bắt bớ văn nghệ sĩ. Cổng nhà tù khắp nơi rộng mở chờ đón hàng vạn con người thuộc thành phần chế độ và quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Phương thức tẩy não, lao động khổ sai, đày đọa, cùm kẹp, khủng bố, giết chóc được áp dụng, tuyệt nhiên không đề cập đến bản án tù nhân!! Năm này đến năm khác chồng chất, trả món nợ quỷ ma, người tù sống sót trở về giữa lòng phố thị, làng mạc thân quen, thấm thía cuộc bể dâu thời đại, nước mất nhà tan!

Tưởng truân chuyên, bi lụy, lưu đày đã hút cạn suối nguồn thơ, xô đẩy thơ vào tận cùng câm lặng.
Không, suối nguồn thơ vẫn óng ánh màu nhật nguyệt. Truân chuyên bi lụy, lưu đày chính là chất liệu làm giàu thêm cảm xúc suối nguồn Thơ... Dạt dào âm vang trong mỗi tâm hồn nhập cuộc.

Song Nhị về đứng trước cổng trường Đại Học Vạn Hạnh, xót xa cảnh cũ người xưa, dở khóc dở cười, bâng khuâng trước giả, chân, hư, thực, ân hận nhận diện lại bạn, thù lẫn khuất... Tô Thùy Yên, Cuồng Vũ lạc loài, xa lạ, lẫn lộn thực mơ, muốn được trở về cái “Không” rỗng lặng ban đầu âm dương trời đất! Nguyễn Phúc Sông Hương đau niềm đau quá khứ núi sông, nuối tiếc những hư mất. Dở dang sự nghiệp, vin vào bài hát, câu ca xưa như nguồn sống, như niềm tin cậy giữa thế giới đảo điên, hỗn tạp. Dzạ Chi, cột chặt thân phận chiếc xích lô già, xuôi ngược dọc ngang khắp thành phố Sài Gòn tiêu điều, u ám... nghe tiếng gọi của khách bên đường, tưởng chừng tiếng đồng đội mến thân nơi đơn vị. Phương Triều cảm lụy những mảnh đời bơ vơ đầu đường, cuối chợ, vật vờ bất hạnh, mù mịt tương lai.

Trần Thiện Hiệp thi thoảng gặp gỡ thân hữu văn nghệ xưa, cùng ngồi trước ly cà phê thiếu ngọt ngào mà tấm lòng dư thừa nghĩa khí. Huệ Thu, người mẹ cô đơn, chịu đựng đắng cay ly loạn, tạo dựng cho con hạnh phúc tràn đầy, mẹ vẫn nặng bồng nắng bế mưa giữa không gian bất định.
Nguyễn Xuân Thiệp, mừng vui khi hoa Phù dung trong vườn đã nở, nhưng chợt bất an trước một kiếp hoa ngắn ngủi chóng tàn. Tường Linh, ray rứt, kiểm nghiệm tự thân, sau bao nhiêu phế hưng, biến đổi, cuối cùng còn lại dư vị một triết lý hư vô...

Trịnh Công Sơn lênh đênh, xô giạt, kẻ ưa, người lánh, bên này phê, bên nọ phán, miệng tiếng nặng nhẹ gièm pha, có lúc động lòng trở mình thao thức. Lúng túng, mỏi mệt, quẩn quanh cùng cõi đi về, ngày qua tháng lại cho đến phút vĩnh viễn khuất xa. Trần Tuấn Kiệt ưu tư cuộc đời hiện hữu, phố thị Sài Gòn quen thuộc đến độ nhàm chán cảnh lẫn người, trách cứ thời gian trôi chảy. Khép mình cõi thực, vẫn mộng thăng hoa, tiềm thức vươn dâng niềm hy vọng được nghe rộn rập bước chân người trở lại, thanh âm sử thi một bình minh vàng nắng hồi sinh.


CHƯƠNG III – THƠ MIỀN NAM NỐI DÀI TẠI HẢI NGOẠI

Mang hơi thở và không khí tự do theo những con tàu di tản vội vàng, gấp rút. Những phút rối loạn, hoang mang cùng cực trước họng súng, xe tăng của quân miền Bắc áp sát các cửa ngõ thủ đô miền Nam. Còn nhiều ngả để thoát, còn nhiều lối để chạy... cho đến chục năm sau, biển Đông vẫn là sinh lộ giúp cho con người quyết tâm tìm sự sống trong nỗi chết.

Văn thơ hải ngoại mở đầu một giai đoạn mới, tăng triển dần nguồn cảm xúc trong lành của Duy Năng nơi chốn mới, lạ lùng, bỡ ngỡ mà đầm ấm, luyến lưu. Từ miền lưu đày đến được nơi ước hẹn... Thời tiết đang Xuân, gợi nhớ thiết tha về quê cũ biết đến khi nào tái ngộ. Trông hoa lá, cỏ cây xung quanh, nụ cười của những con người gặp gỡ càng an ổn, phấn khởi, yêu thương, thấm thía khi nghe tiếng nói quen thuộc từ hàng xóm Việt Nam đồng cảnh ngộ.

Triều Nghi xót đọâng mỗi lần tháng Tư trở lại. Trầm ngâm cùng vườn cải vàng hoa, bùi ngùi màu cờ Tổ quốc đã phải lưu lạc bốn phương. Hà Huyền Chi, khi thay thời đổi tiết, vết thương trạân mạc nơi đầu gối nhức nhối, kéo lui một giai đoạn chinh chiến ác lệt Bắc Nam, dấu ấn một vết thương sâu đậm khó hồi phục.

Vi Khuê, Tuệ Nga yên hàn trong không gian tự do, phóng khoáng, cùng ám ảnh hình bóng quê nhà thời xưa cũ, khơi gợi đậm nhạt từng bụi tre, bờ cỏ, bến đò, cổng làng, tiếng chim, tiếng trống, lắng đọng, thiết tha. Viên Linh khắc chạm một thủy mộ quan hiện thực, nỗi hãi hùng con người lênh đênh trên biển cả – một sử thi bi, hùng thời đại, âm hưởng dài lâu tận mai sau. Hoa Văn, suốt đời cách xa Mẹ, lần lữa hẹn hò và ước mong được gặp mẹ một lần trên đất Bắc, nhưng thời cuộc cắt chia tình mẫu tử, càng mong đợi càng xa vời… bất tận!

Du Tử Lê, thân đất khách, tâm vẫn bám trụ quê hương... ước tính sớm ngày từ biệt cõi trần, xin được mãn nguyện bằng cách đem xác thân ra biển, theo ngọn sóng thiêng liêng giạt về trọn ý nghĩa thủy chung. Luân Hoán gợi một triết lý “duy thời”, yêu đời, yêu người, chân thành với sự nghiệp phát huy Thiện Mỹ. Cao Mỵ Nhân hướng vọng tâm linh, chiêm nghiệm hào quang rực rỡ, tỏa rộng thiền tịnh, vô lượng từ bi, thu nhận thi hứng từ gia tài viên mãn của Đức Thế Tôn.

Cung Diễm, nặng nỗi buồn mất quê hương, mang ước mơ chung cùng vạn hữu đang kết hợp, cổ súy “lấy lại những gì đã mất” khốn nỗi “lực bất tòng tâm” nên nợ núi sông canh cánh bên lòng, đành hò hẹn cùng tháng ngày nơi đất lạ.
Huy Trâm, minh họa bối cảnh xã hội tỵ nạn qua “cây cầu cạn”, chấm phá mâu thuẫn tâm lý thông thường của con người bất cứ là ai, ở nơi đâu. Trần Vấn Lệ, Cao Tần, Nguyễn Đông Giang, nhữngmảng tâm tình thơ mộng, đam mê, tha thiết từ quá khứ một thời, vẫn nguyên vẹn – những chuyện tình muôn thưở, vượt thời gian, kết tinh từ chiều sâu thẳm của con tim.


CHƯƠNG IV – Thế HỆ THƠ NỐI TIẾP


Dù phải nhận đất khách quê người làm nơi tạm dung lập nghiệp. Dù phải phấn đấu, nỗ lực hội nhập xã hội mới, đa văn hóa như xã hội Hoa Kỳ, những tác giả vẫn phóng chiếu, duy trì bản sắc dân tộc, tình yêu quê hương nồng nàn, và hầu như, quê hương, thân phận, quá khứ, bi kịch được khắc chạm đậm nét qua bối cảnh thơ văn hải ngoại. Thế hệ thơ nối tiếp đã bày tỏ, góp phần vào nỗi đau chung, thoát vượt ra khỏi biên cương đất nước, nơi tập đoàn thống trị đang dựng lên những hình tượng địa ngục trần gian.

Quan Dương, người tù trẻ trong hàng vạn người tù miền Nam, không chỉ ân hận, thương cảm bản thân, mà xót xa thấm đậm hơn hoàn cảnh bi đát lưu đày giữa núi rừng ma thiêng nước độc, với những nữ tù nhân, lẽ ra chưa cần chạm mặt cổng tù. Trần Trung Đạo, vượt biển đến tỵ nạn tại Đông Nam Á, mục kích sự lựa chọn cách chết của người con gái xứ Huế, sau khi bị phái đoàn Tây phương khước từ quyền tỵ nạn. Thì ra lưới trời lồng lộng những khổ đau – khổ đau giăng khắp tưởng thoát ra được tay kẻ thù đời kiếp, lại gặp kẻ thù trước bao la hy vọng không ngờ – cuộc sống, phải chăng, một bi kịch trường thiên!!

LaLan, con gái của một sĩ quan miền Nam “cải tạo”, lớn lên liên tưởng ga đình, cha, mẹ và sớm cảm nhận thống hận nước mất nhà tan. Càng trưởng thành, càng hoài nghi những lời cô giáo trong lớp học dưới mái trường gọi là “xã hội chủ nghĩa”.

Phan Thị Ngôn Ngữ, hồn thơ tinh tế, trải qua ấu thơ trong sáng, suy nghĩ, quyến luyến gia đình, dòng họ, để khi khôn lớn, minh họa được trang sử gần gũi, sống động, đằm thắm, đậm nhạt sắc màu, lại sâu nặng yêu thương, tình nghĩa... Cao Nguyên, nhìn lui, nhận diện hiện thực xã hội quê nhà, với bao cay đắng, nghiệt ngã mà không thể nào không chia sẻ. Nguyện ước, cầu mong ngày mai tốt đẹp hơn cho loài người, cho những con người khốn khổ, bất hạnh.

Võ Thạnh Văn, ngước mặt nhìn bầu trời bằng nhân sinh quan mới, một giác độ mới của đòi sống bằng tự tin, tự thắng. Từng thử thách, dấn thân chinh chiến, loạn ly, còn mất... những gì sót lại, thu lượm được mở một lối đi, thoát ra khỏi những nguyên lý kinh điển, ước lệ.

Nhìn chung, qua bốn chương trong tập, đã nói lên nhiều góc cạnh toàn cảnh Thơ từ đầu thập niên 50 tại miền Nam đến nay tại hải ngoại. Biến cố lịch sử tạo nên làn sóng tỵ nạn, còn mang đầy đủ ý nghĩa, cũng đã trải dài hơn ba thập niên. Thơ văn tỵ nạn không ngừng phát triển, thế hệ cầm bút ngày càng đông, còn quá nhiều điều cần đề cập từ quá khứ cũng như hiện tại. Sứ mệnh văn học tự do, nhân bản càng quan trọng, cấp thiết khi chưa đẩy lùi, thanh toán tận gốc chủ nghĩa Mác đang tồn tại. Thế nên, hình thành một hiện tượng văn học của thời đại tỵ nạn là trách nhiện, mục tiêu của thế hệ cầm bút kế thừa.

Bốn mươi bài thơ của 40 tác giả, thật khiêm tốn so với đội ngũ sáng tác thơ khá đông từ trước tới nay, có tác giả đã xuất bản tác phẩm, nhiều tác giả có thơ in trên trang báo, tạp chí, tập san hàng tuần, hàng tháng v.v.. Chọn lựa, phân tích, luận bình, việc làm đòi hỏi thận trọng, vô tư, nghiêm túc.

Cõi Thơ bao la, sức người đi tìm thơ có hạn. Trở ngại gian nan trước mặt đang chờ. Nhập được Cõi Thơ đã khó, gặp thơ còn khó hơn, chẳng khác người xưa “ngậm ngải tìm trầm”, “mò trai đáy biển”. Cố Giáo sư Huỳnh Sanh Thông, giảng viên văn chương Việt Nam tại Đại học Yale, Hoa Kỳ, thập kỷ trước cũng đã biên soạn “Tuyển Hợp thi Ca Việt nam từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 20” (*) cũng chỉ chọn được 300 bài thơ. Mười thế kỷ thi ca với 300 bài thơ, cho thấy thái độ và việc làm có trách nhiệm cao.

Sau hết, xin chân thành cảm tạ sự quan tâm. Khích lệ của bạn hữu gần xa, tạo điều kiện thuận lợi cho “Cõi Thơ Tìm Gặp” hình thành.

Diên Nghị
cuối tháng 12/ 2008



-----------------------------------
(*) An Anthology of Vietnamese Poems from the Eleventh through the Twentieth Centuries. Edited and translated by Huynh Sanh Thong (New Heaven, CT Yale University Press 1996).



**

TÁC GIẢ

Tác giả và tác phẩm là một điển hình của hiện tượng làm thơ, đọc thơ và nói về thơ. Và cho dù có nghiêm khắc như thi sĩ Louis Elmers – “Hỡi thế giới đầy kẻ phỉ báng nghệ thuật ! Đầy trò bắt chước vụng về ghép chữ ngỡ làm thơ ! Chỉ có những thi sĩ, những tông đồ của cảm xúc từng bị đày ải trên thập tự giá của ngôn từ, mới đủ thẩm quyền bàn luận về Thơ”, thì tác giả của LƯU DÂN THI THOạI vẫn có thể “đủ thẩm quyền” bàn luận về thơ vì họ xuất thân là người sáng tạo; là kẻ làm thơ; vùng vẫy hay uốn lượn gần một đời người trong trường văn trận bút. Diên Nghị và Song Nhị đều là hai tác giả thành danh từ trước năm 1975.

Diên Nghị với tác phẩm biên khảo về thơ “Khái Niệm Về Thơ Mới” và thi phẩm đầu tay “Xác Lá Rừng Thu” xuất hiện trên thi đàn miền Nam non nửa thế kỷ qua, từ năm 1956.
Song Nhị cũng đã đến với Thơ rất sớm với thi phẩm đầu tay “Một Đời Không Nguôi” xuất bản vào năm 1968.

Dù vận nước thăng trầm mang theo số phận nổi trôi của những chàng Tư Mã lạc loài, đã “trót mang lấy nghiệp” văn chương vào thân, thì Diên Nghị và Song Nhị cũng đã dạn dày bao lần đứng lên và ngã xuống để men thơ mà trở về, níu thơ mà đứng dậy, vịn thơ mà đi – Đi tìm cái “bản lai diện mục”, và về với thân thế của chính mình – của thân phận những đứa con văn nghệ có khi phải dùng dao viết văn, làm thơ trên đá (ý Phùng Quán).

TRẦN KIÊM ĐOÀN
(Câu Chuyện Về Thơ của Những Người Xa Xứ - 5. 2003)



trả lời


Giới thiệu Tác Phẩm




LỘC MINH ĐÌNH THI THẢO

"Qua 197 bài thơ chữ Hán, thi ông Ưng Bình Thúc Giạ Thị đưa người đọc về thế giới phong lưu của hàng ‎quan lại mặc khách ngày xưa. Người đọc cảm thấy buồn vui lẫn lộn, tình cảm dạt dào và có được những ‎cảm giác nhớ nhung chất ngất, bên tai còn nghe văng vẳng đâu đây những tiếng cười vui với những nhịp ‎trống, lời ca, tiếng hát, câu hò của khách thơ, của ca nữ trong những dịp vui ca Huế, ca Trù hay trong những ‎lúc dạo chơi với núi non, trăng thanh, gió mát, hoa tươi, cỏ đẹp, núi biếc, sông mờ, thuyền chèo… ở miền ‎trung nước Việt trong những năm khoảng giữa thế kỷ XX. Với những vần thơ cô đọng nhưng dễ rung cảm con ‎tim, người đọc dễ cảm nhận được ý nghĩa của tình người qua những vần thơ chữ Hán trong tập Lộc Minh Đình ‎Thi Thảo."‎


Nguyễn Hữu Vinh, Taiwan, 2002‎



Tựa



Hai chữ “cơ duyên” trong đạo Phật thật vô cùng kỳ diệu. Tôi đã may
mắn có được những cơ duyên đưa đẩy phát sinh những công việc thành
tựu tốt đẹp mà tôi vẫn nghĩ nhờ ơn chư Phật độ trì mới gặp được duyên
lành.
Mùa xuân năm 1994, tình cờ tôi gặp Nguyễn Hữu Vinh tại nhà hai
em Thu, Châu, bà con với tôi. Vinh là bạn của Thu, cũng người Huế.
Thỉnh thoảng Vinh về thăm quê, và lúc nào cũng ghé chơi nhà Thu. Các
bạn văn nghệ thường gặp nhau trong dịp này.
Một hôm Vinh ghé thăm tôi, ngồi chơi ở phòng khách với mấy
người bạn. Trong lúc trao đổi chuyện trò về vấn đề thi ca xứ Huế rất hào
hứng, Vinh chợt nhìn thấy trên kệ tủ một cái dĩa sứ có nét thư họa của
họa sĩ Vũ Hối viết bốn câu thơ của Hỷ Khương:
Vẫn biết cuộc đời là mộng ảo,
Phù sinh một kiếp thoáng qua mau.
Tóc xanh đang độ thời thơ ấu,
Thoảng chốc thì ra đã bạc đầu.
Vinh tỏ ý thích và muốn xin tôi đem về Đài Loan giữ làm kỷ niệm.
Tôi vui vẻ tặng Vinh, rồi qua câu chuyện ấm nồng của buổi họp mặt tình
cờ, tôi thấy Vinh có năng khiếu về văn chương, mà lại có vẻ say mê nữa.
Có lẽ động đến tình tri âm, tôi vội viết tặng Vinh cuốn Thơ Ca - Tuyển
tập Ưng Bình Thúc Giạ Thị do nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành năm
1992, Vinh rất vui mừng và cám ơn rối rít . Một tuần sau, khi trở về Đài
Loan, tôi nhận được thư Vinh gửi thăm, trong đó có câu: “Sách chị cho,
em gối đầu giường”.
Đọc sách, Vinh thấy có phần thơ chữ Hán: “Lộc Minh Đình Thi
Thảo”. Lại có mấy bài dịch thơ của học giả Giản Chi, nhà thơ Thanh
Tùng và nhà văn Thanh Vân Nguyễn Duy Nhường... Vinh yêu cầu tôi
cho Vinh được xem bản thảo, tôi sốt sắng photocopy gửi qua cho Vinh.
iii
Thế là Vinh bắt đầu đọc, càng đọc càng say mê. Đồng thời, có một sự
khích lệ rất mạnh mẽ đối với Vinh là khi Vinh đưa tập thơ Lộc Minh cho
vài vị giáo sư ở Đài Loan xem thì họ có nhận xét: “Tác giả là một người
rất tài hoa, lại thâm nho và thật uyên bác”. Điều này làm cho Vinh càng
thêm phấn khởi để càng đi sâu vào công việc dịch thuật với niềm hăng
say thích thú.
Một hôm Vinh nhỏ nhẹ nói với tôi: “Chị Hỷ Khương nói cho em hiểu
rõ thêm về luật thơ Đường, câu nào phải đối với câu nào, vần nào liên
vận với nhau v.v...”. Tôi nói sơ qua rồi hai chị em thảo luận một hồi rất
là thú vị. Thực tình tôi rất phục tính kiên trì và trí thông minh của Vinh.
Nguyễn Hữu Vinh là một sinh viên hạng giỏi. Năm 1973 được học
bổng của chính phủ Đài Loan cấp theo học ngành Electrical
Engineering, tốt nghiệp Master of Science năm 1980. Vừa làm việc vừa
tiếp tục học, hiện nay Vinh là chuyên gia về computer. Vinh lập gia đình
với một thiếu nữ Trung Quốc, có hai con, một trai, một gái, hiện cư trú
tại Đài Loan.
Vinh bắt đầu làm công việc dịch thơ từ giữa năm 1994 cho đến cuối
năm 1998 thì hoàn thành, sau đó dần dần sửa chữa, chăm sóc lại kỹ hơn.
Vinh dịch Lộc Minh Đình Thi Thảo song song với công việc làm hằng
ngày hết sức bận rộn. Những lúc kẹt xe giữa đường Vinh cũng nghĩ đến
và nhớ mấy vần thơ... Có khi đang đi trên xe, Vinh điện thoại về Việt
Nam nói chuyện với tôi, vui cười, cởi mở khi nhắc lại một câu thơ đắc
ý... Rõ ràng Vinh đã làm với tất cả tấm chân tình, niềm say mê đặc biệt,
và có thể nói sâu xa hơn: Vinh cũng muốn làm “một cái gì” gọi là đóng
góp cho nền văn học nước nhà nói chung và đất Huế nói riêng của một
người con xa xứ luôn hướng về quê mẹ yêu thương với muôn vàn nỗi
“nhớ mong da diết”! Và cuối cùng Vinh cũng nghĩ như tôi: nếu không
có hai chữ “cơ duyên” thì không “thành sự” được.
Hôm nay, thay mặt gia đình, tôi chân thành gởi lời cảm ơn nồng nhiệt
đến Vinh, ngưòi bạn trẻ mà tôi hằng mến phục. Trong sự việc này, tôi
cũng không thể nào quên gởi lời trân trọng và tri ân sâu sắc đến quý vị từ
trước, tới bây giờ và cho đến cả mai sau đã ưu ái dành cho Lộc Minh
Đình Thi Thảo một cảm tình đặc biệt, mất nhiều thì giờ, công sức, nghiên
cứu, dịch thuật, truyền bá và đánh giá sự nghiệp thi ca của phụ thân tôi là
Ưng Bình Thúc Giạ Thị.
Một lần nữa, xin muôn vàn cảm tạ.
TÔN NỮ HỶ KHƯƠNG
Miền Nam, mùa Thu Kỷ Mão 1999

*****

Liên lạc : Viện Việt Học :
Institute of Vietnamese Studies
P.O. Box 11900‎
Westminster, CA 92683, USA
Tel: 714-775-2050‎
E-mail: ivsstaff@yahoo.com



trả lời


Giới thiệu Tác Phẩm




Tham kiến, biên soạn, sưu tầm, dịch và sáng tác:

Bích Huyền, Bùi Bích Hà, Bùi Hữu Thư, Bùi Phạm Thanh, Cao Nguyên, Dũ Lan Lê Anh Dũng, Đăng Khoa, Đặng Lệ Khánh, Đặng Ngọc Sinh, Hà Việt Văn, Hồng Vũ Lan Nhi, Huy Phương, Lê Kim Ngân, Ly Ly, Ngọc Loan, Nguyễn Văn Khoa, Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Xuân Nghĩa, Linh Phương, Long Nguyễn, NDT, Ngọc Anh, Ngọc Hân, Nhân Sâm, Nguyễn Đức Cường, Nguyễn Hữu Bào, Nguyễn Ninh Thuận, Nguyễn Song Anh Tú, Ni Kha, Oanh Thơ, PA, Phạm Nguyên Lương, Phạm Sĩ Trung, Phạm Thị Huê, Phương Thảo, Phương Đông, Song Thuận (Vương Sinh), Tô Dũng, Trần Văn Giang, Trần Văn Lương, Trường Giang, Trương Ngọc Bảo Xuân, Thy Dung, Tuyết Như, Uyển Diễm, Vũ Hoàng, Yến Trinh.


***

Mục lục


Tựa trang 1 – 3

Hình Quan Tư Nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An 4 – 4

Foreword 5 – 8

Mở đầu 9 – 11

10 điều huấn dụ thời vua Minh Mệnh
(1820 – 1840) 12 - 12

Chương Một: Đức Tin và Lòng Biết Ơn (Faith & Thankfulness)

1- Niềm Tin Tôn Giáo 13 – 25
2- Bổn Phận Đối Với Gia Tộc. 25 – 27
3- Bổn phận làm con 27 – 29
4- Phải tôn kính và vâng lời cha mẹ 29 – 30
5- Biết ơn cha mẹ 30 – 36
6- Ý nghĩa Ngày Lễ Mẹ (Mother’s Day) 36 – 39
7- Ý nghĩa Ngày Lễ Cha (Father’s Day) 39 - 44
8- Phụng dưỡng cha mẹ khi già yếu 44 - 44
9- Nhà dưỡng lão (Care Homes) 45 – 66
10- Cháu đối với ông bà 66 – 68
11- Giỗ Tổ Hùng Vương 68 – 69
12- Kỷ Niệm Anh Hùng, Danh Nhân 69 – 73
13- Thờ phụng Tổ Tiên 73 – 75
14- Tình anh chị em trong nhà 75 – 76
15- Anh phải làm gương cho em 76 – 77
16- Bổn phận người trong họ ăn ở với nhau 77 – 78
17- Nghĩa gia tộc 78 – 79
18- Luôn nghĩ đến công lao người phục vụ 79 – 84

Chương Hai: Tình yêu thương và Lòng Trắc Ẩn (Love and Compassion)

1- Tình yêu tổ quốc 85 – 86
2- Yêu mến cha mẹ 86 – 87
3 – Lòng thương con 87 – 98
4- Tình Mẹ con thời đại mới 99 – 105
5- Lòng nhân ái 105 – 110
6- Yêu mến anh em 110 – 111
7- Yêu mến đồng loại 111 – 116
8- Yêu thương loài vật 116 – 120
9- Tình nghĩa vợ chồng 120 – 121
10- Rộng lượng 121 – 124

Chương Ba: Học vấn và làm việc (Study and work)

1- Bổn phận phải đi học 126 – 128
2- Sự học vấn và sự giáo dục 128 – 129
3- Đi học phải chuyên cần 130 – 130
4- Bổn phận đối với thầy (lúc đang học) 130 – 133
5- Bổn phận đối với thầy (lúc thôi học rồi): 133 - 134
6- Làm việc phải sáng tạo: 134 – 135
7- Xã Hội: 136 – 137
8- Đoàn thể trong xã hội: 137 – 138
9- Bổn phận đối với xã hội: 138 – 139
10- Hợp đoàn gây sức mạnh 139 - 142

Chương Bốn: Tự chế (Self-Discipline)

1- Thân thể và linh hồn 144 – 145
2- Giữ gìn sạch sẽ: 145 – 146
3- Tiết độ: 146 – 147
4- Ăn uống phải có điều độ: 147 – 148
5- Cái hại của sự nghiện rượu: 148 – 149
6- Uống rượu lái xe (DUI) là tội hình: 149 – 161
7- Không nên hút thuốc lá: 161 – 165
8- Cái hại của thuốc phiện và ma túy: 165 – 166
9- Cái hại của cờ bạc: 166 – 167
10- Cần phải vận động: 167 – 168
11- Thể thao và du hí: 168 – 169
12 - Bệnh mập phì & tiết thực (diet): 169 – 172
13– Tính ưa nịnh hót và tham lam 172 - 173
14- Tính tham lam 173 – 175
15- Ý chí và quyết định sáng suốt 175 – 180
16- Hãy Làm Chủ Chính Mình 181 – 183
17- Nhìn xuống để thương kẻ nghèo khó hơn mình 183-185
18- Giữ gìn trật tự và sạch sẽ nơi công cộng 185-187

Chương Năm: Tình bạn (Friendship)

1- Bổn phận ở với bạn học (lúc đang học) 189 – 190
2- Người bạn tình: 190 – 194
3- Giao thiệp bạn bè: 194 – 200
4- Bổn phận ở với bạn học (lúc thôi học rồi): 200 – 201
5- Người bạn tri âm: 201 – 202
6- Bạn cùng chí hướng: 202 – 204
7- Hướng Đạo Sinh 204 – 208

Chương Sáu: Lương Thiện (Honesty)

1- Công bình 209 – 210
2- Trọng cái tánh mạng của người ta 210 – 211
3- Trọng của cải của người ta 211 – 212
4- Một hành động lương thiện 212 – 215
5- Trọng danh giá người 215 – 216
6- Không nên nói xấu 216 – 217
7- Không nên nói vu, không nên đôi co mách lẻo: 217 – 219
8- Tôn trọng sự thật: 219 – 223
9- Cám ơn, hai tiếng ngọt ngào: 223 – 225
10- Không nên làm ăn gian xảo: 225 – 228

Chương Bảy: Nhẫn nại (Perseverance)

1- Kiên nhẫn là mẹ thành công: 229 – 230
2- Kiên nhẫn đấu tranh, sẽ thành công: 230 – 234
3- Có công mài sắt có ngày nên kim: 234 – 245
4- Kiên nhẫn làm lại cuộc đời: 245 – 252
5- Kiên nhẫn kèm thêm thông minh 252 – 254

Chương Tám: Trách nhiệm (Responsibility)

1- Trách nhiệm của thầy giáo: 256 – 259
2- Làm việc gì cũng cần phải có tinh thần trách nhiệm: 259 – 264
3- Trách nhiệm Cha mẹ nuôi dưỡng con cái: 264 – 267
4- Trách nhiệm tinh thần đối với con cái: 267 – 273
5- Bài học về sự tự giác và trách nhiệm: 273 - 274
6- Bài học về sự hy sinh: 274 – 276

Chương Chín: Trung thành (Loyalty)

1- Lòng trung thành với quốc gia dân tộc: 277 – 280
2- Trung thành với lý tưởng của mình: 280 – 282
3- Trung thành trong đạo vợ chồng: 282 – 286
4- Trung thành với vua hay chủ tướng: 286 – 288

Chương Mười: Can đảm (Courage)

1- Can đảm là nghĩa cử hy sinh vì đại nghĩa: 290 – 291
2- Lòng can đảm là tinh thần bất khuất: 291 – 293
3- Lòng can đảm xuất phát từ tinh thần yêu nước: 293 – 297
4- Tính can đảm có thể tập luyện được: 297 - 305
5- Không nên hoảng hốt: 306 – 310

Danh mục tác phẩm và tác giả 311 – 316

Mục lục: 317 - 322



trả lời


Giới thiệu Tác Phẩm






Title: Daughters of the River Huong - A Vietnamese Royal Concubine and Her Descendants

Author: Uyen Nicole Duong

ISBN: 1-928928-16-1

Description

Amid the turmoil of history, the daughters of Hue’s River Huong in Vietnam struggle to fulfill their destinies in a cross-cultural ethnic saga stretching from ancient Hue to romantic Paris to today’s Manhattan. Beginning in the Violet City of Hue, these stories of a Vietnamese royal concubine and her descendants span four generations, portraying Vietnam’s struggle for independence. Taken together, the tales of survival for these women reveal a Vietnamese female cultural identity that traces back to the extinct Kingdom of Champa in central Vietnam. This tale is wrapped in the nostalgic mystique of the dying days of the last Vietnamese monarchy, the brutality of colonization and revolution, and a family feud that brings together Andre, a troubled French Romeo and Si, a romantic Vietnamese girl. The web of history and Baudelaire verses supply the texture for a "taboo" love story told in the knowing voice of a Vietnamese girl who, as she grows into adulthood, ennobles her forbidden bond into a spiritual love that transcends age, generations, and cultural barriers. The love story between Andre and Si signifies the death of French romanticism in her colony and the opening of war-torn Vietnam and its exotic culture to the inexorable modernism of global interdependence. This impressionistically painted portrait will remind the reader of the sweeping stories in Gone with the Wind and The Thorn Birds, with the humanist touches of The Joy Luck Club.

http://ravensyard.typepad.com/home/daughters_of_the_river_huong/index.html



trả lời


lên trên