1, 2  >                 Diễn Đàn                 <<< tìm >>>                 BÀI MỚI . muc luc . vào



Chữ và Nghĩa




Chữ Nghĩa

Chữ - Nghĩa
Chữ / Nghĩa
Chính xác là: Chữ và Nghĩa.

Chữ Nghĩa và Thơ, Tâm của tôi
vốc hạt tình gieo thấm cõi đời
hạt rơi thăm thẳm vào trong đất
hạt vọng thênh thang khắp ngõ trời!


Nói về Chữ và Nghĩa, nó rộng bao la. Cứ thử lên Google mà search, bạn sẽ đọc và ngẫm suốt bao lâu cũng không hết Nghĩa của Chữ. Sự biến hóa tài tình của Chữ, chỉ 24 nốt từ A đến Y, trước thì viết, bây giờ thì gõ trên mặt keyboard, có khác nào như ta gõ những nốt Mi, Fa, Sol... Ráp nối và biến tấu thành những tình khúc Thơ/Nhạc thẩm thấu qua thời gian và không gian hiện hữu và trừu tượng.
Không bàn đến (đúng hơn là tôi không đủ sức để ghé vào bàn và luận) về chữ nghĩa chính thống dòng họ Việt, với những pha trộn Hán Nôm, Âu Mỹ... Chỉ nói về Chữ gởi Nghĩa vào Tình, Đời và Quê Hương... là cả một hành trình Thơ tôi đi từ khởi thủy của sự ráp vần khi còn cắp sách vào Trường đến khi nhập cuộc vào Chiến Địa và thả bước Lưu Vong...Đã đầy lòng tôi những trăn trở trên từng Con Chữ vào Thơ, sao cho cảm Nghĩa bây giờ, mai sau!
Không dễ đâu phải không bạn. Ai đó, và chính xác hơn mới đây, anh Trần Kim Đoàn trong 1 email gởi tôi, khi tôi (và bạn AT) báo là đã đọc hết quyển "Tu Bụi" của anh: mỗi một người đọc tác phẩm của mình là một tác giả thứ hai, họ thẩm định lại giá trị từng Chữ và Nghĩa, và họ có toàn quyền hiểu một chữ khác hay hoặc thích nghi hơn chữ mà tác giả đã viết.
Chẳng hạn tôi đọc lại thơ tôi trong bài "ơn em", đã chỉnh lại câu" điệu vần lóng lánh duyên xưa > điệu vần lánh lóng duyên xưa". Duyên Xưa, Lánh lên và Lóng lại trong lòng mình một Nghĩa ân tình có phải là đẹp lắm không?
Mới ngày hôm qua, một đọc giả PM hỏi tôi: có phải anh vừa sửa lại một số Chữ trong bài "ơn em". Tôi cám ơn người đọc có trí nhớ thật tốt viết lại những Chữ trong câu của bài thơ nguyên thủy. Tuy nhiên, tôi vẫn chưa hài lòng về Chữ và Nghĩa trong bài thơ đó. Sẽ nói tiếp sau này, với cả nguyên nhân tôi viết bài thơ. Cũng là Tình gởi Người, gởi Đời và Quê Hương.
Trước khi, viết về Chữ và Nghĩa trong Thơ tôi. Như một minh họa cho chủ đề. Xin mượn bài viết của Nguyễn Văn nói về Chữ Nghĩa Trịnh Công Sơn với Tình :


Trịnh Công Sơn với đời, với tình và với quê hương



Thủ bút của nhạc sĩ họ Trịnh




Cuộc đời là một “quán không”, tựu trung lại chỉ là một hành trình chu chuyển, bắt đầu bằng cái đến và kết thúc bằng một sự ra đi như Trịnh Công Sơn nhắc đến trong một ca khúc bất hủ Một cõi đi về. Mọi sinh vật trong đời này nói cho cùng chỉ là những kẻ ở trọ: con chim ở đậu cành cây, con cá ở trọ trong khe nước, và con người chúng ta ở trọ trần gian để rồi một ngày nào đó ra đi về chốn xa xăm cuối trời, sau cuộc hành trình dương thế: Đường trần rồi khăn gói / Mai kia chào cuộc đời/ Nghìn trùng cơn gió bay.

Cuộc đời có bao lâu mà hững hờ. Trịnh Công Sơn đã, nói theo lời của chính anh, "ra đi về chốn xa xăm cuối trời" vào ngày 01.04.2001, sau khi đã ở trọ trần gian được 22650 ngày (hay 62 năm). Theo tiêu chuẩn về tuổi thọ trung bình ngày nay ở các nước Tây phương và ngay cả ở Việt Nam, thời điểm ra đi của Trịnh Công Sơn có thể nói là hơi sớm. Nhưng có lẽ Trịnh Công Sơn không hối tiếc, vì anh đã sống trọn một cuộc đời mà anh từng chọn, để rồi cuối cùng được yên giấc ngủ dài trong lòng quê hương, và quan trọng hơn hết là anh đã để lại một gia tài đồ sộ với hơn 600 tác phẩm mà phần lớn được phổ biến rộng rãi không những ở Việt Nam mà còn ở Nhật Bản.

Đề cập đến sự ra đi của Trịnh Công Sơn, báo Sài Gòn Giải Phóng viết: "Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn mất đi là một tổn thất lớn cho nền âm nhạc Việt Nam, để lại niềm thương tiếc vô hạn cho hàng triệu người yêu âm nhạc và các tầng lớp đồng bào". Quả đúng như thế. Trong các nhà viết tân nhạc nổi tiếng của Việt Nam, có lẽ Trịnh Công Sơn là một trong những người sẽ sống rất lâu, nếu không nói là "sống mãi", trong lòng người nghe. Những bài nhạc ca ngợi quê hương thần thoại, nhưng không quên nhắc người nghe về thân phận của một dân tộc nhược tiểu và chia rẽ đã làm nhiều người, dù đồng ý hay không đồng ý với tác giả, cũng phải để tâm suy nghiệm. Những lời ca trong Kinh Việt Nam hay Ca khúc da vàng chắc chắn sẽ tiếp tục làm cho nhiều thế hệ sau phải chiêm nghiệm về một dân tộc có quá nhiều bất hạnh.



Trịnh Công Sơn đã mang chút khói lửa của chiến tranh vào tình yêu


Một văn hào người Hi Lạp từng nói rằng trên đời này chỉ có hai điều đáng nói, đó là tình yêu và chiến tranh. Nếu ông đúng thì Việt Nam quả thật là mảnh đất “lí tưởng” để nói về hai chủ đề tài này. Có lẽ quý vị cũng đồng ý với tôi rằng Trịnh Công Sơn là một trong những người đã nói một cách xuất sắc về hai chủ đề này. Biết bao máu lửa đã đổ xuống mảnh đất Việt Nam, và Trịnh Công Sơn không những đã ghi lại một cách đậm nét một giai đoạn chiến tranh ác liệt đó, mà còn đánh thức cả một thế hệ thanh niên về sự tàn phá và nhẫn tâm của chiến tranh, mà hệ quả của nó vẫn còn kéo dài qua nhiều hình thức cho đến nay. Trịnh Công Sơn đã mang chút khói lửa của chiến tranh vào tình yêu, và đem hai khía cạnh này vào âm nhạc Việt Nam hiện đại.

Mấy mươi năm trước, nhạc sĩ Phạm Duy chia nhạc của Trịnh Công Sơn thành ba chủ đề: tình yêu, thân phận, và quê hương. Tình yêu, dĩ nhiên, là một đề tài muôn thuở cho thi ca, vì vậy Trịnh Công Sơn hay bất cứ nhạc sĩ nào viết nhạc tình cũng là điều không ngạc nhiên. Tuy nhiên tình yêu trong nhạc của anh không phải chỉ loanh quanh ở những câu chuyện tình vụn vặt, ủy mị, hay những lời xưng tụng tình yêu tầm thường, thậm chí vô nghĩa như một số bản nhạc khác. Tình yêu đối với Trịnh Công Sơn không phải là loại tình yêu trai gái, gặp nhau trong hoàn cảnh ngang trái, hay nhung nhớ trong một đêm mùa thu lá rơi, hay một đêm mưa rỉ rả mà chúng ta thường hay thấy trong các bài nhạc Việt Nam; tình yêu đối với Trịnh Công Sơn có mùi bom đạn trong đó: Tình yêu như bom đạn trên da thịt người.

Tình yêu trong những bài hát của Trịnh Công Sơn, theo Bửu Ý, còn là những "Diễm tình", là “Đẹp trong từng lời bội bạc bước chân quay gót, trong dang dở và tan vỡ … Cái đẹp ở đây là cái đẹp siêu thực”. Nhưng nhà văn Nguyễn Đình Toàn thì có nhận xét rằng những nhạc tình của Trịnh Công Sơn là “Những bản tình ca không có hạnh phúc”. Hai nhận xét tương tác và bổ sung cho nhau. Tôi muốn nói thêm là những bài nhạc tình của Trịnh Công Sơn, dù tuyệt vọng hay không hạnh phúc, thường lạc quan và cố đem lại một niềm hi vọng: Ngày mai em đi / Đồi núi nghiêng nghiêng đợi chờ / Sỏi đá trông em từng giờ / Nghe buồn nhịp chân bơ vơ. Hay là: Tìm em xa gần đất trời rộn ràng / Tìm trong sương hồng, trong chiều bạc mệnh / Trăng tàn nguyệt tận, chưa từng tuyệt vọng đâu em.

Những năm cuối thập niên 60 và đầu thập niên 70s, thời gian mà chiến tranh tàn phá lên đến cao độ, những ca khúc về quê hương của Trịnh Công Sơn càng sôi sục. Anh nói lên sự vô lí của chiến tranh (người chết hai lần, thịt da nát tan), cái vô tâm của bom đạn và những người sử dụng nó (Một buổi sáng mùa xuân / một em bé ra đồng / Đạp trái mìn nổ chậm / xác không còn đôi chân). Anh lớn tiếng kêu gọi hòa bình cho quê hương. Anh kêu gọi lên đường, không phải để cầm súng giết nhau, mà để đấu tranh cho một Việt Nam không chiến tranh, và xây dựng lại căn nhà Việt Nam tươi đẹp hơn. Và anh vững niềm tin: Dù hôm nay tôi chưa về Hà Nội / Dù hôm nay tôi chưa thấy Sài Gòn / Nhưng trong lòng tôi vẫn chưa mất niềm tin.

Một kí giả ngoại quốc đã từng viết rằng chỉ cần nghe những bài hát của Trịnh Công Sơn, người ta có thể có một ý tưởng khá chính xác về lịch sử chiến tranh ở Việt Nam! Những lời nhạc đơn giản như “Một ngàn năm đô hộ giặc Tàu / Một trăm năm đô hộ giặc Tây / Hai mươi năm nội chiến từng ngày” quả đã đủ cho người nghe về một đất nước chiến tranh triền miên và xâu xé nhau từng ngày. Có thể giới kí giả Tây phương đã không ngoa khi cho rằng Trịnh Công Sơn là một Bob Dylan của Việt Nam.






Chiến tranh chấm dứt vào năm 1975, và cũng như mọi người Việt Nam, Trịnh Công Sơn vui mừng. Anh chọn cho mình một tương lai: ở lại quê hương. Sự lựa chọn và sự im lặng của anh sau năm 1975 đã làm cho một số người vốn không ưa anh từ trước tỏ ra khó chịu và hằn học với anh. Họ còn đổ sự hằn học đó lên những ai thưởng thức nhạc của anh. Ngay cả đêm nhạc mang tính bỏ túi “Vườn xưa” này cũng gặp không ít khó khăn trong quá trình tổ chức! Nhưng nói như Cao Huy Thuần, chiến tranh đã chấm dứt lâu rồi, bây giờ là lúc chúng ta nên gác những hằn học qua một bên, và hãy hát những bài tình ca, những bài hương ca bất hủ của Trịnh Công Sơn.

Có lẽ trong chúng ta, mỗi người có phong cách hát và nghe nhạc khác nhau. Đơn giản nhất là nghe nhạc trong một không gian giải trí tâm thần, không gò bó, không cần suy nghĩ đắn đo với âm thanh và lời nhạc. Ngược lại với cái không gian đơn giản trên là thứ không gian nhạc, mà trong đó người nghe để tâm nghiền ngẫm sự chuyển động của từng nốt nhạc như là một "quân lính" trong chiến trận đang được điều khiển bởi người viết nhạc. Thế giới thứ ba là thứ không gian mà tôi tạm đặt tên là "không gian diễn cảm", trong đó người nghe nhạc phải để tâm suy nghĩ, tìm hiểu ý nghĩa của nốt và lời nhạc, bởi vì nói cho cùng, một ca khúc có chứa ít nhiều tâm tình của người viết nhạc. Vậy thì chúng ta nghe nhạc Trịnh Công Sơn như thế nào đây?

Tôi xin chia sẻ với quý vị một vài cảm nhận về nhạc và ca từ của Trịnh Công Sơn. Nếu tác phẩm đầu tay là một tín hiệu về phong cách sáng tác của một người nghệ sĩ, thì Ướt mi đã báo hiệu cho khán giả biết về một nét nhạc rất ... Trịnh Công Sơn. Cái “rất Trịnh Công Sơn” đó được định nghĩa bằng một cấu trúc nhạc đơn giản, chẳng có gì cầu kì, phức tạp. Nhạc sĩ Văn Cao có lần nhận xét là các ca khúc của Trịnh Công Sơn "không thấy dấu vết của âm nhạc cổ điển theo cấu trúc bác học phương Tây". Thật vậy, phần lớn những ca khúc đều được viết theo thể điệu chậm (slow), boston, hay nhanh lắm là điệu fox. Suốt hơn 40 năm sáng tác, Trịnh Công Sơn không khai phá gì thêm ngoài những giai điệu đơn giản đó.

Với hàng trăm bài nhạc được cấu trúc một cách đơn giản như thế, nhưng lại làm cho hàng triệu người say mê thì quả là một điều đáng suy ngẫm. Có thể tâm lí người Việt không thích cấu trúc nhạc lớn, phức tạp, cao siêu, nên tiếp cận dễ dãi với loại nhạc đơn giản.





Nhưng cũng có thể một khía cạnh khác làm cho nhạc Trịnh Công Sơn khác với các nhạc sĩ khác. Tôi muốn nói đến ca từ. Trong nhạc của anh, chúng ta không thấy bóng dáng của sáo ngữ, hay những lời ca tủn mủn về cuộc sống, những kể lể lí sự vụn vặt về tình yêu, mà là những ca từ có độ minh triết cao: Em là phấn thơm cho rừng chút hương / Là lời hát ca cho trần gian. Ca từ trong nhạc Trịnh Công Sơn tuy trừu tượng, nhưng không đến nổi bí hiểm để người nghe phải bứt tóc suy nghĩ, mà rất hình tượng dễ hiểu: Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi / Để một mai tôi về làm cát bụi / Ôi cát bụi tuyệt vời / Mặt trời soi một kiếp rong chơi.

Trịnh Công Sơn có tài hoán chuyển những ý tưởng trừu tượng thành những lời nhạc mà ai cũng có thể hiểu được dễ dàng. Thay vì viết như vần thơ cổ Triêu như thanh mộ như tuyết (Cao Bá Quát), anh chỉ dùng một câu mà thoạt nghe qua như một câu ca dao: Giật mình ôi chiếc lá thu phai. Nói về tài dùng chữ của anh, nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát từng viết, “Trịnh Công Sơn viết dễ như lấy chữ từ trong túi ra”. Chính anh cũng có lần tự hào nhận như thế, trong một phỏng vấn, anh trả lời: “Tôi có cảm tưởng cái túi này chưa vơi đi bao nhiêu”.

Thi sĩ khai thác thế giới của chữ nghĩa để tìm ra một đường thẳng, nhưng là một cấu trúc hài hòa. Nhạc sĩ khai thác thế giới toán học để biến những đường thẳng chữ nghĩa thành âm thanh và nhịp điệu. Trong phần lớn ca khúc của Trịnh Công Sơn, thơ và nhạc quyện vào nhau một cách khắng khít, đến nỗi nhiều khi người nghe, nói như Văn Cao, không phân biệt được đâu là phần chính và đâu là phần phụ. Hãy nghe thử một đoạn nhạc: Một người già trong công viên / Một người điên trong thành phố / Một người nằm không hơi thở / Một người ngồi nghe bom nổ, hay Tim em người trọ là tôi / Mai kia dù có xa xôi cũng đành. Có lẽ cái quyến rũ của nhạc Trịnh Công Sơn là ở chỗ này: chỗ mà những lời hay ý đẹp được đan xen khắng khít nhau qua giai điệu nhạc cực kì đơn giản.

Theo tôi, có lẽ nên nhìn Trịnh Công Sơn như là một thi nhạc sĩ hơn là nhạc sĩ thuần túy, bởi vì hầu như bài nhạc nào của anh cũng có cấu trúc thơ trong đó. Chẳng hạn như trong Hạ trắng, anh viết: Đời xin có nhau / Dài cho mãi sau / Nắng không gọi sầu / Áo xưa dù nhầu / Cũng xin bạc đầu / Gọi mãi tên nhau. Có thể nhìn những lời nhạc này như một bài thơ bốn chữ. Hay: Thôi em đừng bối rối / Trong ta chiều đã tàn / Thôi em đừng tiếc nuối / Cho môi chút thanh xuân / Tóc em cười trong gió / Trong ta giọt máu mù / Khô theo ngày thương nhớ ... cũng như là một bài thơ năm chữ.

Nhạc và thơ tuy hai mà một, một mục đích chinh phục con tim, đánh thức và làm lắng đọng nỗi đam mê của con người. Và đó là cái tài của nhạc sĩ họ Trịnh mà mấy mươi năm nữa không biết có ai làm được như anh!

Nguyễn Văn














trả lời


Chữ và Nghĩa


Lại nói về "ơn em", từ nguyên nhân viết đến Chữ Nghĩa trong thơ.
Có thể từ một ngẫu nhiên như chiều nay, trong cái lạnh còn mơn man trong đầu Xuân miền Đông Bắc Mỹ. Chợt thấy thèm một bếp lửa quê nhà. Có lẽ cảm được cái thèm này, mà thằng bạn - giữa thân và sơ - cho ngồi nơi phòng khách với tí tách lửa reo trong lò sưởi, với chút nồng của hương wishky. Và đặc biệt, nghe Trịnh Vĩnh Trinh hát nhạc TSC... Để lại ngẫm về ơn người khi "dòng sông đã qua đời", để "níu tay nghìn trùng", để "yêu trong nỗi vui đợi chờ"...
Chữ và Nghĩa tuyệt vời ,., đọc để thấm, nghe để ngấm... Thơ và Nhạc không bao giờ khép (chứ đừng nói là đóng) lại cánh của âm hưởng. Đó cũng là lý do thơ tôi không thường để lại tháng năm sau mỗi bài. Trừ những bài phải mang cột mốc thời gian để thấy sức tàn phá của bom, của lửa... cho niềm đau như vết cắt đương thời trên một không gian tôi đi qua và thơ ở lại!
Tình yêu, không có trước và sau của chữ nghĩa trong thơ. Dẫu một chốc làm nên cuộc tình, nhưng khó mà bỏ quên hay xóa mất cuộc tình như một cái click trên keyboard để lại khoảng trống. Sau khoảng trống hư vô đó, vẫn hiện hữu em, hiện hữu người và hiện hữu dòng sông!
Và thế là có "ơn em" trong đời. Ơn từ ý, từ lời ở đâu đó gởi tới chạm nhẹ Lánh lên và Lóng lại trong lòng mình, đủ làm những nốt thơ rung lên như tiếng hạc vọng cuối trời.
Tiếng hạc lưng mây!
Tiếng hạc quê mình!
Tiếng hạc của tình!
Bài "hạc vọng" viết lên từ đó, và người đọc nhắc đến nó không chỉ là những dòng thơ, mà còn minh họa đôi chim hạc bay trên bầu trời xanh thẫm...trong một thư viện net. Không "ơn em" thì phải gọi là gì? Một chuỗi nguyên nhân cho một bài thơ cũng đủ chất đầy khoang một con thuyền duyên. Dẫu hư ảo vẫn thấy đẹp vô cùng.

Chữ Nghĩa hóa thân tôi
bay theo lời hạc vọng
ơn em từ nghìn trùng
về chập chùng cánh mỏng!

* xem "hạc vọng": http://tetet.net/tv/viewtopic1.php?p=1454
CN



trả lời


Chữ và Nghĩa


Ô , anh CN
Em lại tưởng ý tưởng lóng lại trong lòng mình rồi mới lánh lên thành thơ...và thơ long lanh long lanh..
Che đầu lại...:))
"Ơn anh " bài viết ạ !! :)

Long lanh, lóng lánh, lòng lành
Chỉ bao nhiêu đó cũng thành bài thơ!
:))
CN



trả lời


Chữ và Nghĩa




Chong chóng

Bài "chong chóng" tôi viết tặng một người bạn thơ. Bẵng đi thời gian khá dài, không còn thấy chữ bạn vất lên trời. Làm tôi mất tiếng cười từ những con chữ vốn không khách sáo với đời, với người.
Cái hồn nhiên của chữ của bạn đủ níu tuổi đời khựng lại nơi khung cửa bốn mùa.Dường như chỉ có Trăng là hiểu lòng con chữ của bạn nhất, vì có lần bạn mét: nằm trong phòng nhìn trăng tròn treo ngoài khung cửa, lòng thanh thản chi lạ! Quên những chu kỳ chuyển động những vết rạn nhân sinh trong hành trình du mục bất đắc dĩ!
Dẫu mùi vị đời nếm qua đắng chát,tiếng cười bạn vẫn dòn tan như tiếng vỡ thủy tinh. Tôi thật sự thích tiếng cười đó của bạn.Tiếng rơi dòn phá vỡ sự lắng yên sâu hút của tình người.
Khi nói chuyện cùng tôi với cái điện thoại kẹp ở vai, một tay chỉ con chim hót ngoài hiên cho Cháu Ngoại xem, một tay khuấy đều đũa trong ồ soup cho kịp món điểm tâm cho Mẹ già. Tự dưng tôi nghĩ đến con chong chóng quay đều trong gió. Quay đều những con chữ :

mỗi lúc nhìn em - chong chóng quay
thương ơi tất bật chạy theo ngày


Cái hình tượng chong chóng đủ Nghĩa hai chiều:
Em đi chong chóng rồi về
kịp cho Cháu ngủ, Mẹ kề bữa ăn
....
em bảo anh nhìn xuyên chong chóng
sẽ thấy hình em trong bóng quay
....
Cái chữ "chong chong", với tôi hay chi lạ, vừa hiện thực, vừa ẩn dụ. Đủ cho tôi nhắc mình, nhắc bạn:

hãy cứ là con chong chóng quay
để biết ta còn giữa tháng ngày
còn cả yêu thương, còn sức sống
mặc kệ thời gian, chong chóng quay!


Chỉ cầu Trời đừng nổi cơn gió chướng
Chong chóng xa người, chong chóng bay!

CN



trả lời


Chữ và Nghĩa




Cuối năm 2005,tôi về vietbao online. Trên trang "Trưng Vương và Bằng Hữu" mở cái Quán Thơ với cái tên rất Thơ "Quán Mây". Bởi lẽ Quán dựng trên một vũng trời thoảng gió bốn phương và mây chắn quanh làm vách Quán.
Tôi đến với Net cách đây chắc khoảng 10 năm, phỏng chừng vậy, vì có nhiều nơi ghé chơi một dạo rồi ra đi. Bởi như đã có lần thưa cùng bằng hữu thân quen, rằng tôi là một "thằng lãng tử". Thích thì chơi, không thích thì ngơi.
Nói về Net, chắc phải thêm mấy hồi phân giải.Bởi ở mỗi nơi có một sắc thái riêng. Điều chung nhất làm tôi trụ lại khá lâu ở một nơi nào đó là do cái tình bằng hữu thân thương và thành thật. Không hào nhoáng với những phù phiếm rất đời. Bỏ đời lên trời chơi, phải có gì khác đời chứ, sao lại cứ rất đời: hỉ nộ ái ố nặng bời trên lưng.
Lại nhớ ơn Nguyễn Hiến Lê dạy lời: quẵng gánh lo đi mà vui sống. Nhờ lời dạy này với ứng nghiệm tự thân mà tôi thoát qua mấy lần tai kiếp, vẫn cười trên môi, chân bước tiếp theo đời.
Người quen tôi, tôi quen người trên net, đưa vào hàng thân quí "bạn, người tình và em" còn trân trọng giữ tình đến hôm nay cũng làm mình hởi dạ. Dù chính tôi, chính bạn đã không thường gặp nhau đây đó bởi không gian và thời gian bị nhu cầu công việc cách chia, xan xẻ... Đôi khi chỉ ghé cười và quẳng lại một nhúm chữ tẻo teo. Nhưng thấy chữ như thấy người, không ôm được hình thì nhìn thấy bóng cũng vui.
Riêng ở chỗ "Quán Mây", tình vẫn đầy như ắp. Vài ngày ghé lại, thấy thấp thoáng vết chân người dạo qua nơi cái đồng hồ đếm bước. Thế là vui, người còn lui tới quán là còn nghĩ đến chủ nhân, còn nghĩ đến Chữ và Nghĩa tôi treo nơi vách Quán. Một lần tôi viết "hạnh phúc của người làm thơ", là muốn ngỏ lời cám ơn chí tình những ai ghé mắt vào dòng thơ mình nghía vài con chữ, mỉm cười ra đi hay gởi lại đôi vần, lưu chút tình tri kỷ phối âm.
Mong "trăm năm còn phía trước", tôi còn được bước đi,còn khúc khích cười với Chữ và Nghĩa, để thấy đời còn những tin yêu với Người, với Ta.
Chữ Nghĩa như Tình không bao giờ tận. Bữa nay vào Quán Mây bên kia, nhặt và thảy về bên này một mớ Chữ và Nghĩa vui vui, cũng là cách chơi giữa đời đối bóng. Ơi những cái bóng đời dễ thương.

cám ơn em nhé

cám ơn em nhé, con chim nhỏ
tin cậy tôi mà hỏi bầu trời
ngày mai liệu còn bao cơn gió
đủ sức rung giật vỡ cánh bay?

cám ơn em nhé, người bạn nhỏ
tin cậy tôi mà hỏi về đời
còn bao lâu nữa thôi thù hận
loài người vui yên ả một thời?

cám ơn em nhé, dòng sông nhỏ
tin cậy tôi mà hỏi về nguồn
khi rừng núi cỏ cây cháy đỏ
nước có về kịp lúa vụ Đông?

cám ơn em nhé, con tim nhỏ
tin cậy tôi mà hỏi yêu thương
giữa trăm mối ân tình tan vỡ
phải vì người chối bỏ lòng tin?

trả lời em nhé, con tim nhỏ
đất còn chịu tang, trời chưa tịnh yên
khi thù hận vẫn còn đây, đó
lửa đỏ rừng, nguồn nước vẫn khô!


Cao Nguyên



trả lời


Chữ và Nghĩa


Thích anh CN nhất trong bài này là cái câu này

Bỏ đời lên trời chơi, phải có gì khác đời chứ, sao lại cứ rất đời: hỉ nộ ái ố nặng bời trên lưng.

Ngày nào em cũng lên trời
Bỏ quên hờn giận cho đời tươi hơn.. :)

Dọt... chúc anh ngủ ngon với gối mền chữ nghĩa..và những giấc mơ thơ..

cv



trả lời


Chữ và Nghĩa


Chữ Nghĩa chữa được bệnh

Vừa đọc mấy chữ, bạn đã phì cười. Tôi mừng vì vừa tặng bạn mười thang thuốc bổ.
Mà vui thì mới nên cười, đừng cười theo cách: cười là tiếng khóc khô không lệ. Kiểu cười này tệ hơn hết thảy những kiểu cười tệ nhất, như cười khẩy chẳng hạn...!
Cứ cười thoải mái và hồn nhiên, tâm sẽ vui, thân sẽ khỏe. Bất cứ nơi đâu, bất cứ tuổi nào cũng khỏi lo vướng vào tật bệnh. Cười như phương cách uống nước ấm sau bữa ăn sẽ chữa được bệnh tim mạch với tài liệu dẫn chứng y học của Chiêu Hoàng, hay nên uống nước Artiso để chữa bệnh cholesterol như Sương Lam vừa nhắc.
Riêng tôi thì thích dùng Chữ Nghĩa để chữa bệnh. Từ một nhóm chữ nghĩa nào đó mà vui được vài trống canh, thì cũng nên biết ơn người dùng bút gom chữ cho mình thưởng thức.
Hôm qua, nói chuyện điện thoại với một người bạn, chia buồn cùng nhau khi một người bạn thơ, anh Hoàng Trùng Dương, vừa mang chữ về trời, để người còn ở cõi tạm gởi lời tiếc thương. Không cho mạch buồn dẫn chuyện, tôi kháo với bạn về cuộc đời đã tự mình ngẫm đúng là hạt bụi, thì có gì lạ khi hạt bụi bay theo nguồn gió thiên mệnh.

Trong " Cổ học tinh hoa" kể rằng, có một ông đi trên đường một mình mà cười sằng sặc, sung sướng lắm. Có người hỏi chuyện gì mà cười vui thế?. Ông trả lời rằng, ông đang có ba điều sung sướng, nên vui mà cười. Một là trong sinh vật, có thú, có người, mà ông được làm người, thì là một điều sung sướng. Hai là trong loài người có người tàn tật bệnh hoạn, có người lành lặn, ông được lành lặn, thì là hai điều sướng . Ba là trong những người lành lặn, có kẽ là đàn ông, có kẽ là đàn bà, được làm đàn ông, thì là điều thứ ba sung sướng. Có ba điều sung sướng thì tại sao mà không vui cười cho được.
Với tôi, thêm một điều sung sướng thứ tư: Giữa tất bật đời thường mà tôi còn góp chữ ráp câu thành thơ (cứ gọi như một chỉ danh để nhớ), để thỉnh thoảng đọc lại, hoặc buồn, hoặc vui đều đắc ý với mình! Vậy sao không cười khoái chí hơn cái ông trong Cổ Học vừa nêu.
Nếu trong cuộc sống còn cười được thoải mái thì làm gì có thời gian mà nghĩ đến lão, bệnh, tử. Mà có nghĩ, cũng thấu được nghĩa vô thường trong sinh diệt.

danh-lợi-đời-tình


này Danh, ta hỏi Danh nè
khi Danh về đất có nghe đá buồn
chút hồn nương gió mênh mông
thân Danh tơ bụi còn không cõi người?

này Lợi, ta hỏi chút chơi
vì đâu mê vọng đứng ngồi không yên
biết câu "phú quí do thiên"
sao còn toan tính đảo điên lỗ lời?

này Đời, thử ngắm gương chơi
trăm năm bất quá vệt ngời bóng qua
tội gì quyến luyến cội Ta
nặng hình hài rã ta bà mộ khơi!

này Tình, vẫn mới tinh khôi
sau chung thủy kiếp, mai ngơi hồn mình
khỏa tay phủi bụi tử sinh
hóa thân, thân hóa hạc trình hồi vu!

Cao Nguyên



trả lời


Chữ và Nghĩa


mưa

mưa! mưa! mưa em, trời mưa

Có phải nhờ mưa mà mình gặp nhau? Gặp giữa đời thường, gặp trong thơ. Với đời thường, hay trong thơ, mưa dễ thương khi mưa vừa đúng lúc, mưa vừa niềm mong. Lãng mạn, nhẹ nhàng và thích thú, như hồi biết tựa đầu vào nhau dưới cái tán dù nhỏ xíu, thèm nhìn giọt nước lăn theo sợi tóc em chảy xuống vai trần.

mưa! mưa! mưa em, trời mưa


Câu thơ giản dị mà dễ thương quá chừng, dễ thương như em chưa tùng trau chuốt để đỡ vướng bụi đời, khỏi nhìn vào gương thấy mình lạ hoắc. Bởi dễ thương vậy, nên anh sợ em sũng ướt trong mưa khi anh ngoái nhìn em vừa ra khỏi cửa, ra với thiên nhiên với trời rây nắng. Vậy mà gió đã lay mưa, cho anh có cớ làm vừa lòng em.

mưa! mưa! mưa rộn đường thơ

Trong thơ anh, có những cơn mưa buồn nặng trĩu. Viết rồi, chẳng lẽ xóa đi. Dẫu gì, những giọt mưa Ngâu vẫn còn tồn tại, cho thơ có cớ nắm lại bàn tay vuột qua một thời, vuột qua một đời! Mà không quên, để lòng tự nhủ: âu đó cũng là một kỷ niệm đẹp. Một chuyện tình đẹp tựa vào lưng huyền thoại.

tặng em những sợi mưa Ngâu
anh vừa hái được trong màu thời gian


Thật tình, anh muốn viết về những điều nhẹ hẫng như mơ. Nhẹ hẫng như nụ cười em, như tiếng chim hát trong vườn thơ:

có tiếng chim hát vui buổi sáng
trong khu vườn anh đang gieo thơ


Mỗi cơn mưa, báo một vụ mùa, báo một khoảng thời gian vừa vụt qua, mất hút. Để thấy tiếc hay là thấy sợ những mắc xích thời gian siết lại, cuốn mình quăng vào cái trũng hư vô!
Vậy mà anh sợ không gian hơn là thời gian, vì trong không gian luôn có những nghi hoặc kể cả sự nghi hoặc niềm tin:

chữ em là thánh thể
người nói đó bụi trần
lời anh là sông bể
kẻ nghĩ đó vực thâm

ta với ta là bạn
anh với em là tâm
đời nghìn năm phỉ báng
trên năm tháng hương trầm


Thời gian ươm mầm, thời gian kết nụ trỗ hoa. Không phải là vui hơn sao, và nắng, và mưa dự phần vào sự tái tạo niềm tin trên những úa tàn. Hãy nhận sự vươn lên, đừng nghĩ về sự hủy diệt dưới sức hút khắc nghiệt của đời.

em có thấy một dòng sông mới
dâng phù sa vào gốc mạ thơm
trên cánh đồng anh vừa nghĩ tới
không hề lưu dấu vết căm hờn


Time goes, you say? Ah no!
Alas, Times stays, we go.

Thời gian qua? Nàng ơi...
Không phải,
Chúng ta qua, Thời gian ở lại.

Lời trong bài "The Paradox of Time" của Henry Austin Dobson hay tuyệt vời phải không em!

Dưng không, chiều nay sao thấy buồn chi lạ, khi ngoài trời mưa Xuân lay bay. Lại phản phất những dòng chữ qua mưa tạt vào mái hiên xưa.


mưa! mưa! mưa rộn đường thơ
về mai em nhé, ngõ chờ nắng hong!


Tháng Năm, không phải là năm tháng
chỉ là Tháng Năm còn những cơn mưa
để anh có cớ làm vừa lòng em
dưới tán dù nhỏ xíu

mưa! mưa! mưa em, trời mưa
nép gần lại chút cho vừa ấm nhau



Cao Nguyên



trả lời


Chữ và Nghĩa


Gọi điêu tàn thức dậy

Sau một bài viết ngắn như một niệm khúc gởi Nhạc Sĩ Trịnh Hưng, khi anh vừa ra đi vào cõi vĩnh hằng. Nhạc sĩ Phan Anh Dũng gởi cái link cho tôi nghe lại 2 bài nhạc của anh Trịnh Hưng: Tôi YêuLúa Mùa Duyên Thắm với chính lời thơ của anh. Mới thấy tâm hồn anh rộng trãi bao la trên những cánh đồng Miền Nam thắm tình sông nước:

"kìa cùng đùa chơi trẻ thơ ca hát say đời
dù nghèo mà vui hỏi ai không hé môi cười!"
(Tôi Yêu - Trịnh Hưng)

Tôi đã hân hạnh gặp con người có hồn thơ chơn chất ấy, với nụ cười rộng mở chứa niềm vui với những thân quen.
Nhắc cuộc gặp với nhạc sĩ Trịnh Hưng trong ngày Đại Hội Thân Hữu của Hội Thơ Tài Tử Hải Ngoại ở Washington.DC vào tháng 10 năm 2004. Tôi chợt nhớ trong đêm ra mắt Tuyển Tập Thơ "Cụm Hoa Tình Yêu 10", có một kỷ niệm khó quên.
Một trong những vị khách mời dự đêm ra mắt sách là Nhà Văn Trần Quán Niệm. Người mà trong lời ngỏ chúc mừng Đại Hội Thơ Tài Tử Hải Ngoại, đã đọc bài thơ "gọi điêu tàn thức dậy" của tôi trong tuyển tập Thơ "Cụm Hoa Tình Yêu 10".
Gợi nhớ đến, tôi vẫn còn bồi hồi từ tâm thức buồn của bài thơ được chọn đọc như một bất ngờ.

gọi điêu tàn thức dậy
uống cho hết chua cay!


Có giọt lệ rưng đau thấm vào lòng chăng? Có phải chữ nghĩa muốn khởi quật lên một tia sáng của hoài vọng: sau khi uống hết chua cay, sự điêu tàn hoang hóa sẽ trở mình hồi sinh những cánh đồng vàng rực lúa vụ chiêm, triều nghi xưa đượm tình hương sắc cũ, núi sông xanh sau cuộc chiến thê lương.
Thê lương đến độ phải bỏ nước ra đi. Đi để tìm sống trong cái lý lẽ làm người được bảo vệ bằng công bình nhân ái.
Đi với mục đích thoát những xiềng xích hận thù. Dẫu biết đi mà lòng đau như cắt khi để lại sau lưng bao thân thương của Đất, của Người.
Đi để rồi suốt nhiều năm sống trên đất người, lòng vẫn luôn cật vấn, cật vấn đến độ hóa ngông gọi điêu tàn thức dậy:

Nếu đi mà thong thả
Tội đếch chi quay về
Cứ nhìn đời đon đả
Ta dõi miết đường mê

Nếu về mà an tịnh
Cần quách gì phải đi
Ngồi lê đời bịn rịn
Mê hoặc cõi hồ nghi

Đi, Về - đường khúc gãy
Chồi nứt ngọn hoài thai
Giấc đời xa ngọt ngậy
Cong quắp khối hình hài!


Cả cái chồi nứt mầm lên cũng không xanh được, thì ngọt ngậy đời bao giờ mới có. Trách chi cái hình hài không quắp lại vì những nỗi đau mất Nước, tan Nhà!

Thế kỷ này thật tội
đau thương quá hóa rồ

(gọi điêu tàn thức dậy)

*


"Lúa thắm vàng đầy đồng
Người sống với tình mặn nồng
Như cùng nhau xây tình yêu sông núi
Tô màu cho nước Việt ngày thêm tươi!"
(Lúa Mùa Duyên Thắm - Trịnh Hưng)

Ôi yên ả và thành bình chi lạ
Phù sa thơm ôm gốc mạ xanh !


Vậy mà điêu tàn! Vậy mà hoang phế! Uổng công thơ chuốt chữ cho đời!
Còn đâu trên những cánh đồng cò bay thẳng cánh, rôm rả tiếng hát:
... gánh thóc về
gánh thóc về...
Chỉ còn những đường khúc gãy, mỗi nhìn trước nhìn sau nghẹn những niềm đau, khi người làm ruộng thiếu gạo ăn, khi trẻ đến trường không lành tấm áo!
Mặc, tôi vẫn gọi điêu tàn thức dậy, uống niềm tin để thoát cơn đau.

Phù sa rồi lại thơm
Lúa đòng đòng mẩy hạt
Câu thơ lồng tiếng hát
Trong khúc nhạc đồng quê


Tâm điểm những tấm lòng gặp nhau từ nơi ấy - Ân tình gởi núi sông!

Tạm biệt hôm qua, hay vĩnh biệt hôm nay, ngày mai... chỉ là sự vắng mặt không là sự xa cách của ngôn từ thơ, nhạc viết cho đời, viết về nguồn cội quê hương.
Khi điêu tàn thức dậy, con mắt thơ không nhìn sự đổ nát mà nhìn qua khao khát để tìm về Tổ Quốc trong tim!

Cao Nguyên

Virginia 13/5/2008.



trả lời


Chữ và Nghĩa




Thương Tiếc


Chiều cuối Đông về trên phố ảo
Tiễn biệt người nước mắt thật cay!


Chào chị Minh Thanh, tôi nghĩ là chị vừa qua khỏi phố, để về nhà lo toan cho những ngày Tết đến. Với hương khói cúng Ông Bà, với mứt quà cho gia đình. Một cái Tết ở quê nhà nhìn từ xa vẫn bộn bề nỗi nhớ. Và chị đã viết về những điều đáng nhớ ấy trong bài: SỬA SOẠN CHO BA NGÀY TẾT.


Một cái Tết nữa lại về, sáng nay nắng xuân chan hòa, và tôi như thấy lại hình ảnh mẹ hiền lui cui trong bếp, với nồi mứt, xoay qua thì bà đã đi ra xem xét mâm cải phơi ngoài sân...

Đó là câu kết của bài viết, và tôi không nghĩ là chị bỏ lại nắng Xuân hiền hòa để ra đi về nơi miên viễn, trút bỏ phận người. Tôi đánh lừa tôi thôi, giống như khi tôi đọc thơ Bùi Giáng, tôi như thấy đang chuyện trò với ông ta trước cửa trường Đại Học Vạn Hạnh bên chân cầu Trương minh Giảng. Hay khi nghe Duy Khánh hát "Xuân này con không về", tôi nghĩ tôi còn ở nơi tiền đồn heo hút ấy!. Thật ra, ai đi cũng đã đi rồi. Còn chăng chỉ là cái tình trụ lại trong tâm của những ân tình. Như chị bây giờ ra đi, ngoài những người trong gia đình thân tộc, chị còn rất nhiều những người bạn chân tình trên phố đời và trên phố ảo.
Riêng trên phố ảo, ngoài Đặc Trưng, Gạch Nối Online... tôi không biết còn bao con phố có người vừa nhắc đến chị với sự thương tiếc một người chị, người bạn và người em cảm mến nhau mà đến với những tấm lòng trong ân tình chữ nghĩa.
Chỉ còn 20 ngày nữa là đến Tết Việt Nam, vậy mà chị đã không còn dịp lo cho gia đình những gì cần lo cho 3 ngày Tết. Biết thế, từ Tết năm kia, chị đã viết sẵn những điều cần sửa soạn cho 3 ngày Tết.
Tôi đem bài viết đó giữ lại ở đây, vừa để tưởng nhớ ngày chị ra đi, vừa để nhắc tôi và những người bạn của chị về một cái Tết quê nhà, mãi mãi không quên, vì truyền thống, vì tấm lòng của những người con Việt.
Chúc chị ra đi thanh thản về cõi phúc vô hằng.

Cuối Đông 2008

Cao Nguyên

SỬA SOẠN CHO BA NGÀY TẾT.

TRẦN VIẾT MINH THANH.

Tết đối với một người Việt tha hương mang nhiều gợi nhớ, nhớ đêm giao thừa, pháo nổ đi đùng, nhớ khói nhang trên bàn thờ nghi ngút, nhớ vẻ trịnh trọng của cha mẹ, ông bà đứng thấp nhang khấn vái, nhớ đòn bánh chưng, bánh tét, phẩu dưa hành, nồi thịt kho, nồi canh hầm, nhớ sáng mồng Một được lì xì, nhớ cảnh gia đình hàng xóm, cả vợ chồng con cái đèo nhau trên xe honda, ai cũng quần áo mới toanh, khác thường ngày, nhớ lần chơi bầu cua, cá cọp trên hè phố bị lột hết tiền ... và nhiều nhiều nữa ... Nhưng có lẽ chúng ta nhớ nhất là không khí trước tết, từ những cửa hàng tràn ngập hoa quả, bánh mứt, đến vẻ rộn rịp, đông đúc của phố phường, chợ búa, cả thành phố tưng bừng đón xuân sang. Giờ đây tại hải ngoại, chúng ta cũng lần lượt có các thức ăn ngày Tết, gần như không thiếu thức gì, nhưng cái rộn ràng, nhộn nhịp, sửa soạn cho ba ngày Tết, có lẽ cái mà người Việt tha hương thiếu. Xin mời độc giả đi lại từ đầu (chớ đi vội về sau), của quá khứ ngày tết năm nào, bắt đầu từ tháng chạp, khi các sạp báo, tiệm sách bắt đầu bày bán báo xuân, và đài phát thanh đã ngân nga: "Anh cho em mùa xuân, nụ hoa vàng mới nở ...."

Nhà cửa

Trước tết cả tháng, thường hai vị chủ gia đình bàn bạc với nhau là có nên làm đẹp ngôi nhà không, có nghĩa là quét vôi lại mặt tiền nhà. Cũng tuỳ túi tiền cho phép, cứ độ vài năm ngôi nhà được thay lớp sơn mới, thường là vào dịp Xuân về. Tục lệ ngày xưa dùng vôi để trừ tà ma, vì vậy quét vôi nhà vào dịp tết không những để làm đẹp cho nhà, mà còn giữ một phong tục xưa nữa. Nếu trong xóm có một nhà quét vôi, thì hầu như mấy nhà chung quanh cũng theo đó sơn phết lại nhà mình, vì nom thấy nhà hàng xóm với lớp vôi mới trông sáng và khang trang hẳn ra.

Chuyện quét vôi làm gợi nhớ người viết một kỷ niệm trong xóm. Năm ấy có hai cu cậu choi choi trong xóm bị quỳ vị cái vụ quét vôi nhà. Số là nhà hai cu cậu này sát nhau, cả hai nhà cũng vừa mới quét vôi xong, hai cậu nghịch, xịt nước vào nhà nhau. Quét vôi sợ nhất trời mưa, vì lớp vôi chưa khô, tường sẽ loang lỗ khó coi vô cùng! Đàng này hai cậu xịt nước thì còn quá hơn trời mưa, vì có chỗ đậm, chỗ nhạt, chỗ lem, chỗ lết, coi rất khủng khiếp. Tối đó cả xóm nghe tiếng la rầm rầm của hai ông bố đi làm về, và sáng ra thấy hai cậu phá nhất xóm, quỳ trước hiên nhà, trong lúc hai ông thợ sơn đang kiên nhẫn phết lại hai ngôi nhà. Lũ con nít chúng tôi đợi hai ông bố đi làm, bèn lượn ngang nhà thè lưỡi trêu hai cậu.

Mứt

Tới thăm nhà ai cũng có hạt dưa đỏ và mấy thẩu mứt để đưa câu chuyện. Mứt tượng trưng cho sự ngọt ngào, vì thế mứt là một món phải có ngày đầu năm, không nhà nào thiếu khay đựng mứt xoay xoay, hoặc hai ba phẩu mứt để dọn khách. Các bà nội trợ khéo tay bỏ rất nhiều thì giờ vào mứt, thật sự là để phục vụ lũ con nít trong nhà hơn là khách khứa tới nhà. Nhiều loại mứt được chuộng vì cái tên của nói, nghe rất hên cho năm mới, mứt thơm chẳng hạn, mọi chuyện thơm tho đẹp đẽ, mứt dừa, tiền bạc vào “dừa dặn”..., mứt mãn cầu, cầu cho mọi chuyện suông sẻ, mứt đậu xanh - đậu và màu xanh tươi mát, cho nhà có học trò đi thi, được thi đỗ, quả hồng - màu hồng cũng như màu đỏ là màu hên.

Thật là một niềm thú vị được xem mẹ làm mứt. Có loại mứt làm giản dị nhưng có loại phải chuẩn bị công phu! Mẹ tôi hay làm mứt gừng, mứt thơm, mứt rối, mứt dừa, mứt hạt sen, mứt đu đủ, mứt kim quất, mứt cà chua, mứt cà rốt ... Tôi thèm các mứt mà nhà không thường làm, như mứt mãn cầu, xoài, me, chùm ruột...v.v., các món mứt miền Nam, mẹ tôi không rành. Mứt thơm rất ngọt, vì thơm đã ngọt sẳn rồi, mẹ tôi hay làm loại ướt, tức mứt thơm dẻo, chứ không phải như mứt thơm khô bán ngoài tiệm. Mứt cà chua, bà cũng làm loại ướt, cà chua ra màu đỏ chót nên trông bắt mắt vô cùng, nhưng lúc ăn hơi phiền phứt, phải cho vào đĩa, còn lũ con nít, chỉ thích mở phẩu, nhót miếng mứt vào miệng thôi. Mứt dừa dễ làm nhất. Dừa cạo ra, cắt từng lát mỏng, và chỉ việc bỏ đường vào, xào tới xào lui, cho đến khô, thì được. Dừa thuộc loại cứng nên không sợ gãy, thành ra tôi chuyên môn được mẹ giao cho song mứt dừa, tay làm nhưng mắt láo liêng nhìn sang mẹ đang làm món mứt công phu khác, chốc chốc lại bị nhắc chừng: “Coi, không thôi cháy!". Cứ năm phút, con bé lại dừng tay hỏi mẹ: “Mẹ, như ri được chưa?" .

Mừt gừng làm rất công phu, một loại mứt mẹ tôi làm đến mức tuyệt hảo. Tại hải ngoại, tôi chỉ được biết một, hai bà cụ người Huế còn làm được mứt gừng đúng cách "thanh tao" của đất Thần Kinh. Gừng phải lựa củ lớn, xắt lát lớn và mỏng, ngâm trong nước chanh, sau đó vớt ra phơi khô ngoài nắng thì gừng mới trắng. Khi gừng khô ráo thì bỏ gừng vào nồi luộc, rồi xả nước để cho gừng bớt cay, sau đó mới bỏ đường vào rim. Rim mứt, động từ diễn tả cách nấu mứt với lửa thật nhỏ, không thì mứt cháy . Rim mứt gừng nói lên sự nhẫn nại của bà nội trợ, từ từ đẩy gừng lên hai bên thành của nồi, chính giữa tạo thành một cái giếng bé trong có nước đường, và cứ thế múc nước đường rưới lên các lát gừng chồng chất hai bên thành. Khi nước đường bắt đầu cạn, cầm cả thau xóc lên, cho gừng rời ra, và khô đều . Đó là cách mẹ tôi làm mứt gừng. Còn có cách khác, thì khi trông gừng gần khô, vội vàng đổ gừng ra khay, và nhanh tay gỡ từng lát gừng ra, trải thẳng để gừng đừng bị cong . Lát mứt gừng vì mỏng nên khi ăn có vị cay vừa phải, ngọt ngọt, thanh thanh. Lát gừng dầy quá, ăn rất nồng, không ngon. Ăn phải cắn từng miếng nhỏ, với tách trà sen, mới đúng cách. Tuyệt vời lắm!

Mứt kim quất cũng là loại mứt ướt, nếu làm cho khéo thì ra quả vàng ngậy, ngọt cộng thêm vị chát đặc biệt của quất, các cụ chuộng lắm, vì còn thông cổ nữa! Mứt sen cũng được mẹ tôi trân quý, vì sen phải nhờ người gởi từ Huế vô mới được loại sen mềm, khi ngào đường sẽ không bị cứng. Mứt sen để cúng bàn thờ Phật trước khi thỉnh xuống ăn. Mứt rối là mứt mà lũ con nít chúng tôi khoái nhất vì dễ ăn. Mọi thứ phải được cắt nhỏ, nào là cà rốt, gừng, kim quất, thơm ... hòa với đường ướt ướt, vị ngọt lẫn chua, cay, mọi thứ hoà lẫn với nhau, nên có cái tên mứt rối, có những nơi khác gọi là mứt dẻo .. Năm nào mẹ tôi cũng phải dấu bớt đi, không thì lũ chúng tôi thanh toán xong trước ngày Tết.

Nấu bánh chưng


Trong văn chương, nồi bánh chưng được tả là nấu vào đêm ba mươi, người trong nhà quay quần chung quanh nồi bánh chưng, và nghe kể chuyện xưa, đợi đón giao thừa, thật là một cảnh thú vị! Trong thực tế, ít ai nấu bánh chưng trong đêm ba mươi. Bánh thường được nấu trước ít nhất là ba, bốn ngày trước, không thì một tuần hoặc mười ngày vì còn phải “đi sêu tết” bà con, bạn bè và các quan trên trong hãng nữa. Trừ các tiệm nấu bánh chưng sớm, vì phục vụ rất nhiều khách hàng, các bà nội trợ tránh nấu bánh sớm, sợ tới ngày Tết bánh hơi cũ, không được ngon.

Mấy ngày trước ngày dự định nấu bánh, các bà nội trợ đi chợ lựa mua lạt, nếp, đậu xanh, lá chuối, thịt heo. Một ngày trước khi gói bánh, mọi thứ phải được chuẩn bị cẩn thận. Lạt và lá chuối phải được ngâm nước, sáng sớm mai, lạt mới mềm và dễ vót. Lạt dùng để cột bánh. Lá chuối phải tước theo cọng của lá, thành những mảnh lá chuối lớn nhỏ, miếng nhỏ dùng để xếp vào lớp trong, chồng xéo lên nhau, miếng lớn dùng để gói ra ngoài. Đậu xanh, nếp ngâm đêm qua, phải được đổ ra cho ráo nước. Người Bắc thường nấu đậu xanh, giã nhỏ rồi mới gói chung với bánh. Theo cách của mệ nội của mẹ tôi, đậu chỉ cần ngâm qua đêm, mệ nói, nấu như vậy giữ mới lâu, khó thiêu. Có nhà người Nam còn ngâm nếp với nước dừa, đòn bánh chưng béo và thơm mùi nước dừa. Thịt heo xắt từng miếng dài có mỡ, nạc, dày vừa phải. Có nhà ngâm thịt với nước mắm, có nhà chỉ ngâm muối, tiêu, hành thôi.

Tôi còn nhớ như in hình ảnh mẹ tôi và các chị người làm ngồi gói bánh trên phản lớn trong phòng giữa của nhà. Chung quanh họ nào là những rá đựng nếp trắng, đậu vàng, nào là chậu thịt heo hồng tươi với từng khúc mỡ trắng, rồi lá chuối xanh, dây lạt dài một sải tay ... Thật là một cảnh vui mắt, làm nao nức lũ trẻ chúng tôi! Người thì tuốt lạt, kẻ thì chùi lá, chất thành chồng, cho tiện tay người gói bánh. Thường người gói bánh dùng khuôn để bánh thành hình vuông, trông mới đẹp mắt . Đòn bánh tét thì phải dài và tròn trịa. Bánh gói xong, buộc bằng lạt vài vòng cho bánh khỏi bung. Bánh được nấu trong một nồi lớn, cao và to xấp ba, bốn nồi thường ngày dùng nấu xúp. Nồi bánh đặt trong vườn nhà trên cái lò có ba viên đá chụm lại, củi lửa về đêm tí tách thật vui mắt. Ban đêm, trời hơi lành lạnh, cả nhà thay phiên nhau ra canh nồi bánh, xem chừng nước vơi, đổ đầy thêm nước vào, chụm thêm củi, cho bánh chín, đều. Lũ trẻ chúng tôi nhất định không chịu đi ngủ, ngồi chong mắt nghe các cô chú kể chuyện cổ tích, rồi xay qua chuyện ma, đợi tới giờ vớt bánh ra. Đứa nào đi ngủ trước thì mất cái thú xem vớt bánh.

Hoa

Ngày Tết phải có hoa, cây, nhà trông mới vui mắt . Bàn thờ Phật thường có bình hoa Huệ, bàn thờ ông bà là hoa glaieul (Lai Ơn đỏ), ngoài hiên nhà được trang hoàng với cặp cúc đại đóa, cây kim quất, trái vàng nho nhỏ thật xinh, trên bàn ăn là hoa thủy tiên cánh trắng, nhụy vàng, hương tỏa nhẹ nhàng, hay cây lan hồ điệp tím trang nhã. Nơi huy hoàng đẹp đẽ nhất của căn phòng khách phải được ngự trị bởi chậu mai vàng rực rỡ, hay cây đào màu hồng phấn nhẹ nhàng. Tôi nhớ có năm ba tôi được ông bạn biếu một cành đào từ Đà Lạt về, cành cây dáng thật thanh nhã, màu hồng phơn phớt. Từ dạo đó tôi yêu dáng dấp cây đào, tuy hoa anh đào không rực rỡ bằng hoa mai nhưng lại mang vẻ đẹp đẹp nhè nhẹ, tựa như dáng tố nữ mảnh khảnh, thanh tú, sang cả. Chợ hoa cũng là một nơi được nhiều viếng nhất, các bác bỏ rất nhiều thời giờ để lựa một cành mai, cành đào về chưng diện nhà cửa, còn các cô các cậu chỉ có việc đi lo ngắm hoa và ngắm nhau. Không nơi nào rực rỡ nhiều màu sắc bằng chợ hoa.

Dưa món

Dưa món phải được sửa soạn từ cả tháng trước. Làm một phẩu dưa món ngon rất tốn công và cần sự khéo léo của người nội trợ. Nấu nước mắm ngâm dưa là một công trình! Nước mắm không được sánh, đặc quá, mà cũng không được lỏng, dưa món mới để lâu được. Ngoài ra người nội trợ còn phải canh ánh nắng mặt trời. Vào tháng chạp ta, trời hay âm u, xam xám, ít nắng, mà dưa món cần phải được phơi nắng, khô queo mới dễ thấm, thành ra mọi thứ phải được cắt, tỉa sơm sớm, để còn phơi cho kịp chàng nắng. Phẩu dưa món thường có cà-rốt, củ cải trắng, su hào xanh, vỏ dưa leo với một tí thịt trắng, ớt đỏ, củ kiệu ... Tất cả được cắt lát mỏng, nhưng không được quá mỏng, tỉa hoa cho đẹp, cũng là để dễ thấm nước mắm, sau đó trải ra phơi nắng trên những cái mẹt hay mâm. Có khi phải phơi hai ngày để nó thật teo khô, rồi mới đổ nước mắm nấu vào. Các thứ dưa từ từ nở dần ra, chen chúc trong một cái phẩu. Một phẩu dưa món ngon, nhìn là đã thấy ngon mắt rồi. Nước mắm trong vắt, chen lẫn với nhau nào là củ cải trắng, cà rốt đỏ, dưa xanh, mấy quả ớt nho nhỏ, đỏ xanh, cắn vào một miếng tận hưởng chất dòn dòn, mằn mặn, ngọt ngọt. Dưa món dùng để ăn với bánh chưng, bánh tét.

Các bà nội trợ còn làm các món dưa chua khác, như cải bẹ xanh chua, củ kiệu, hành hương. Ôi nhớ làm sao thẩu hành hương màu hồng, ngâm dấm, qua bàn tay khéo léo của mẹ, ăn mới dòn, chua chua, ngọt ngọt, ngon biết bao ... Cái vị đặc biệt đó mấy chục năm về trước, nằm trong trí nhớ, trên đầu lưỡi, mà tới bây giờ người viết chưa được thưởng thức lại ...

Báo xuân

À, à, báo xuân ... Không phải tục lệ từ ngàn năm, nhưng cũng là một dấu hiệu của xuân sang, thời miền Nam rộn ràng với muôn hoa đua nở trong làng báo. Từ khi người viết lớn lên, và biết đọc, mỗi khi báo xuân muôn màu sắc xuất hiện trên các sạp báo, trong các cửa tiệm sách, thì đó là một trong những hình ảnh nhắc nhở xuân đã về, dù ngoài trời nắng chang chang, không có mưa phùn bay bay. Tờ báo xuân ngày nào thường lớn hơn tờ tuần báo thường ngày, đẹp rực rỡ với hình cây mai, có treo túi lì xì màu đỏ, với phong pháo dài, ngòi đang cháy, có em bé bận áo dài, khăn đóng, có cụ đồ già ngồi viết câu đối, hay có hình nữ tài tử Thẩm Thúy Hằng xinh như mộng, tươi như hoa, hay nữ tài tử Kiều Chinh, các tài tử cải lương Thanh Nga, Bạch Tuyết, và sau này là ca sĩ Thanh Lan ...Mua báo xuân đọc là cái thú của những ngày trước tết, vì báo thường có nhiều bài vở lý thú hơn, những câu chuyện đặc biệt cho con giáp của năm đó. Các anh chị trung học lại lo làm báo học trò, thi đua viết lách, vì vậy đang tuổi học trò chờ đợi đọc báo xuân, là một thú vị của những ngày trước Tết.

Cúng ông Táo

23 tháng chạp đưa ông Táo về Trời. Cúng ông Táo là tục lệ xưa lắc, người ta còn giữ như là một tục lệ cho vui, không mấy ai tin là ông Táo về mách lẻo chuyện góc bếp cho Thiên Đình nữa. Cúng ông Táo chỉ cần nhang, đèn, hoa quả và để gần bếp. Có nhà cúng với cá chép nữa, nhưng thời đại sau này tục lệ được giảm bớt. Chỉ có những người nội trợ mới phải cúng thôi .

Cỗ Cúng rước Ông Bà về


Ngày ba mươi Tết đường phố vắng lặng. Người nào phải đi làm cũng ráng về sớm. Tới 12 giờ trưa, phần đông các tiệm đều đóng cửa để lo cho mâm cúng ông bà, cũng như buổi ăn tất niên. Ngoài đường im vắng, nhưng trong nhà thì không khí rất bận rộn. Chủ gia đình lo xếp bàn thờ, chùi lư hương, chân đèn, kê bàn, cắm hoa vào bình, sửa soạn bàn thờ cúng ông bà. Trong bếp mới thật là rộn rịp. Người lo luộc thịt, làm canh giò hầm nấu bóng, người lo bằm thịt, ráy cua, lột vỏ tôm làm chả giò, bé con thì phải lo làm rau sống ăn với chả giò. Hoặc chực sẵn trong bếp để được sai vặt! Món ăn ngày Tết thường có giò thủ, vịt hầm thuốc bắc, thịt đông ăn với dưa giá, thịt luộc ăn với tôm chua, giò chả, gà luộc, gà bóp rau răm, hay gà cà ri... v.v.... Không thể thiếu cá, hoặc hấp, chiên hay kho, thịt heo kho tàu ... ê hề. Làm nhiều thế, vì còn để dành ăn trong ba ngày Tết nữa. Mấy ngày đầu năm các bà nội trợ phủi tay đi thăm bà con, bạn bè, chơi tam cúc, tứ sắc. Tới mồng ba thì cúng đưa ông bà, lại rộn rịp nhưng không bằng cúng cỗ tối ba mươi. Thời chưa có tủ lạnh, tôi nhớ làm nhiều món kho vì để được lâu. Chả giò, canh hầm, cá thì ăn ngay hôm ba mươi.

Cúng Giao Thừa, Đi chùa Hái Lộc...

Thường thì vào giờ giao thừa bố mẹ tôi thắp nhang đèn, nấu trà cúng ông bà, và có dành sẳn một mâm trái cây để cúng Trời Đất. Nhà không có tục lệ tự xông đất mình, hễ ngày mồng một ai tới nhà trước là người đó xông đất nhà. Nhiều người còn đi chùa hái lộc, nơi tụ hộp đông đảo người, rất vui.

Xuân Tha Huơng

Từ ngày dọn về Cali, chúng tôi tổ chức Tết rộn rịp hơn thời ở tiểu bang lạnh lẽo. Tuy vậy Tết tha hương những năm đầu cũng khó quên. Những gia đình Việt Nam trong thành phố cùng các sinh viên, đều có tổ chức Tết. Các sinh viên lo mượn chỗ, lo trang hoàng với băng “Cung Chúc Tân Xuân”, mượn tranh Tết về treo, làm câu đối giả. Các gia đình chung nhau đem bánh chưng và các thức ăn Việt Nam tới, không khí thật là đầm ấm. Có năm trời ở ngoài phủ một màn tuyết trắng xóa. (Tết thường vào tháng Hai, và tháng Hai thật ra là tháng lạnh nhất trong năm). Các bà, các cô sinh viên choàng lên mình một cái áo coat thật dầy, nhưng khi bỏ cái áo ra là những tà áo dài, đơn sơ nhưng rất đẹp. Tự nhiên có không khí Tết ngay! Cái áo dài nhét vội khi chạy loạn, thế mà hay! Mấy năm sau, có người chịu khó gởi về Cali may chiếc áo dài mới, mặc vào ngày Tết thật là có ý nghĩa. Tự nhiên nhìn chiếc áo dài, mọi người thấy phấn khởi và vui hơn. Những năm đó, mẹ tôi làm bánh chưng gói bằng giấy bạc, bỏ food color cho ra màu xanh. Nấu một lần 2, 3 cái trong cái nồi lớn, nhưng nấu lửa ga nên lửa đều mau chín hơn lửa củi. Tặng ai một cái bánh chưng thôi là họ quý vô cùng!

Các anh chị sinh viên rủ nhau làm bánh chưng, cũng vui đáo để. Người này thúc người nọ, gọi các bác hỏi, vì cứ làm xong là quên ngay, mà năm nào cũng hỏi thành ra cũng hơi ngại. Rồi rủ nhau làm văn nghệ, đàn hát suốt đêm, mặc ngoài trời tuyết rơi phủ lạnh lùng, và bài thi chồng chất.

Tại quận Cam, mỗi độ xuân về, cứ tới viếng phố người Việt là lại thấy không khí Tết . Các chợ hoa càng ngày càng nhiều và lớn hơn. Bánh mứt, bánh chưng ê hề ... Trong chợ vang vang bài hát đón mừng xuân ... Tại các tư gia người Việt thì có lẽ không có không khí rộn rịp như bên nhà, nhưng dù bận rộn bao nhiêu, các bà mẹ vẫn không quên lo cho cái tết đầu năm, cho con cháu hưởng chút không khí ngày tết ....

Dù ở tiểu bang xa xôi hẻo lánh, hoặc ở gần khu đông đảo người Việt, mẹ tôi không bao giờ quên ngày tết, bà loay hoay phơi cải, cà rốt làm dưa món, lại đi mua nếp, đậu, nấu bánh, mua quà biếu bạn bè, người thân, đã từng giúp mình năm qua, loay hoay từ gói chả giò đến nồi canh hầm... nấu cỗ cúng ông bà ... Hình ảnh đó đã in sâu vào trong trí tôi, để rồi khi có gia đình, khi không còn mẹ nữa, tôi cũng theo lệ, chạy đôn, chạy đáo mua hoa, mua thức ăn về nấu cỗ. Năm nào cũng vậy, đứng nơi cửa hàng bà Rồng Vàng, hay tại chợ Việt Nam, tôi cũng dừng tay, trầm ngâm mất mấy phút, ngắm các bà, các cô, các ông nữa đứng lựa hoa, lựa các loại mứt, các đòn bánh chưng. Đó là hình ảnh xuân về, và tôi cảm thấy mình thật may mắn, được là một phần của quang cảnh đông đảo trong khu phố người Việt.

Từ những góp nhặt kỷ niệm của thời thơ ấu, những chi tiết mình tưởng quên không ngờ ào ạt trở về ... Một vài chi tiết về làm mứt, làm dưa món phải gọi hỏi bác suôi gia của ba mẹ tôi, người Huế, năm nào cũng được bác gọi qua ăn Tất niên, hưởng lại hương vị Tết. Tôi đang ngẩm nghĩ chắc phải học bác món vịt hầm, năm ngoái bác làm tuyệt hảo, phải học làm món mứt gừng kiểu Huế, từng lát mỏng cay cay ngọt ngọt, để mai một rất uổng ....

Một cái Tết nữa lại về, sáng nay nắng xuân chan hòa, và tôi như thấy lại hình ảnh mẹ hiền lui cui trong bếp, với nồi mứt, xoay qua thì bà đã đi ra xem xét mâm cải phơi ngoài sân...

Trần Viết Minh Thanh.


Thương tiếc Trần Viết Minh Thanh

Bay lên thật cao bay lên thật cao
Nhìn xuống nhân gian đời hư hao
Tơ đời trói buộc bao huyễn ảo
Hơi thở mong manh máu xanh xao.

Tám giờ mười lăm phút
Tối chủ nhật tháng giêng ngày bốn
Chưa trọn năm mươi lăm năm tại thế
Để lại cho đời nỗi nhớ nhung.

Trần Viết Minh Thanh
Những niềm vui đan lưới
Như áng mây hồng buổi sớm mai
Như giọt sương trong đọng nhánh lá
Như nụ hồng e ấp buổi hừng đông
Đang bay lên cao đốm linh hồn thanh thản
Dứt hết tơ vương cõi gian trần
Thở hắt ra niềm viên mãn
Hoàn thành rồi một cõi mông lung.

Lá vàng lắt lẻo chưa lìa nhánh
Chiếc lá Thanh cầm đã vội bay
Chẳng ai níu được lá gầy -
Chỉ giữ được một thân tình yêu ái.

À ơi! Hôm nay em nằm lá phủ đầy vai
Đặt nhẹ nhành hoa em yêu trên đôi tay đã xếp
Giữ nụ cười em tươi nở bao ngày
Đến giờ cuối chưa phai hương hàm tiếu
Hẹn gặp nhau cuối chân trời không đơn lẻ.

Ai cầm được lệ ứa khi thương tiếc người đi.
Minh Thanh ơi! à ơi!
ngủ ngoan một giấc không về nữa.

Ngô Đồng



trả lời


Chữ và Nghĩa


Giới thiệu bài viết của Trần Viết Minh Thanh

Mời đọc ở đây : http://www.dactrung.net/baiviet/noidung.aspx?BaiID=pTzt%2fwgCQEebE9P43xhEow%3d%3d



trả lời


Chữ và Nghĩa




Thân mến chúc các anh chị em trong Uyển Gia Trang vào năm Kỷ Sửu được nhiều sức khỏe và hạnh phúc.

Như câu chuyện này:

Con cầu Phật.....

"... phù hộ những người thân cùng bạn hữu của con măi măi được khỏe mạnh và hạnh phúc".

Phật nói: "Chỉ cho 4 ngày thôi".
Chú Tiểu:"Thế thi` xin Phật cho họ được khỏe mạnh và hạnh phúc trong những ngày mùa Xuân, những ngày mùa Hè, những ngày mùa Thu
và những ngày mùa Đông".

Phật nói: "Chỉ cho 3 ngày thôi".
Chú Tiểu: "Nếu chỉ được 3 ngày thi` con xin họ được khỏe mạnh và hạnh phúc trong ngày hôm qua, ngày hôm nay và ngày mai".

Phật nói: "Chỉ cho 2 ngày thôi".
Chú Tiểu:"Như vậy con xin cho họ được khỏe mạnh và hạnh phúc trọn ngày hôm nay và ngày mai".

Phật nói: "Chỉ cho 1 ngày thôi".
Chú Tiểu: "Vâng, cũng được".

Phật thắc mắc hỏi: "như vậy là ngày nào?".
Chú Tiểu đáp: "con xin cho họ được mạnh khỏe từng ngày".

Phật mỉm cười nói: "Tốt lắm. Những người thân và bạn hữu của con bao gồm những người nào nhận được e-mail này sẽ được khỏe mạnh và hạnh phúc mỗi ngày".


***
Cánh thiệp Xuân của một người bạn, chuyện "con cầu Phật" là email của cậu Em. Đưa lên trang Trưng Vương/VB thay cho lời chúc lành đến mọi người trong mùa Xuân mới: an lành và hạnh phúc.
Vậy mà tạo được cái duyên đầu năm gặp nhau qua chữ nghĩa với Lang Thang:

Câu chuyện ngắn "Con cầu Phật" hay và giá trị quá! …Tuy trong pháp thế gian chỉ là chú tiểu nhưng lời nguyện ước cảm được chú tiểu như một hóa thân của Bồ Tát dẫn dắt chúng sinh trên đường tu tập Phật Học ráng kiên nhẫn cố gắng bớt đi ich kỷ để tiến gần được tâm Bồ Đề, lòng Từ Bi... cũng như Đức Chúa dậy tín đồ hai chữ Bác Ái.

Tâm ý Cao Nguyên gửi đến tất cả các bạn nơi Uyển Nhi Trang lời chúc đầu năm thực đẹp

Trong những lúc thơ thẩn vườn thơ khắp chốn ...LT chợt tìm được đóa hoa Tu Chợ trong sáng với 4 câu LT rất thích:

“ hỏi người sau bữa vào tu chợ
còn mấy đồng ken trong túi vui
còn mấy nụ cười len gió trở
thổi nồng tim qua buốt lạnh đời!”

Cao Nguyên


Anh Lang Thang thân mến,
Cứ xem như do duyên mà anh em mình gặp nhau trên đường hái lộc vào Xuân cho một cơ may thổi nồng tim nhau. Không cầu danh hay lợi, chỉ cầu tình yêu thương giữa mọi tấm lòng. Như anh thích cái cảnh "tu chợ" của CN .
Chính vì những tấm lòng rất đẹp nơi Uyển Nhi Trang (không ngẫu nhiên CN gọi là Uyển Gia Trang), vì nghĩ đây là cái nhà tình nghĩa rất chung, mến thương nhau bằng chữ nghĩa hóa thân, mà CN hằng ngày vẫn về gặp các anh chị em, thấy chữ như thấy người.
Vì cái tình thân thương này mà cô chủ HVLN vẫn thường viết những dấu yêu cho "dấu yêu". Qua điện thoại thăm nhau, CN vẫn gọi đùa Lan Nhi là "dấu yêu". Phá nhau thế mà vui, mà được cười thỏa thích. Đó cũng là hạnh phúc, thứ hạnh phúc ngoài tầm hủy diệt, như trong 1 bài thơ CN đã viết về tình bạn .
Sự cảm nhận của anh em mình trong đêm giao thừa là cành lộc may mắn gởi cho nhau với mong cầu an vui và hạnh phúc .
Trên đường vào "tu chợ", mời anh nhìn sự "quán thông" của CN, với một nụ cười vui đầu Xuân:




Mến gửi anh Cao Nguyên,

LT nghe lòng ấm áp khi đọc những dòng anh viết...cám ơn anh đã có thiện cảm dành cho LT...tuy chưa gặp gỡ nhưng tâm linh dường như đã hạnh ngộ .
Dạ vâng! đời người tất cả do duyên khởi … như anh nói “Cứ xem như do duyên mà anh em mình gặp nhau trên đường hái lộc vào Xuân…”… chính nhờ cơ duyên này
LT cảm thấy mình may mắn có được thiện tri thức hướng dẫn trên chặng đường Tu Chợ ... LT vinh hạnh được quen biết anh .

LT cùng có cảm nghĩ như anh về Uyển Nhi Trang- một mái ấm gia đình thân thương chan chứa tình cảm, tình người chân thành. Chân tình chính là hạnh phúc trân quí bền vững và đẹp nhất … đúng như anh nói “thứ hạnh phúc ngoài tầm hủy diệt”
Quen biết nhau đúng dịp đón xuân đúng là “cành lộc may mắn gởi cho nhau” anh đã đưa dắt LT đi thêm vào "quán thông"
trợ giúp cho LT khi thơ thẩn “ Tu Chợ “... có "quán thông" mới mong đủ tĩnh tâm, mới mong tìm lại được chính mình ( bản lai diện mục ) mới mong tránh được vọng động khi lang thang Tu Chợ, mới mong tránh được “ tâm viên ý mã “

Trong “Lá Và Gió” bốn câu thực hay :
........................

“bỗng dưng sao mắt lại cay
do lòng không tịnh, hay vây bụi trần
tự thân gió chẳng sắc âm
chẳng qua vì lá xa thân, rộn cành! “

Cao Nguyên

Rồi lần theo góc độ nhìn sự quán thông của anh:

......................


“ đặt thân trần giữ chân không ngắm
đạo hạnh nghe chừng đã quán thông! “

Cao Nguyên


Hai câu chót này LT đọc nghe rất thấm.

***


Câu chuyện đầu năm trên Phố Ảo là niềm vui của kẻ "khất giả" vào "tu chợ", gặp bạn từ Duyên/Khởi từ Chữ và Nghĩa.
"tu chợ" viết từ cảm nhận một ý niệm khi đọc qua tác phẩm "TU BỤI" của nhà văn Trần Kim Đoàn.
Danh Lợi ư! Hề Sắc tức Không và hốt nhiên viết bài "duyên khởi" từ giữa năm 2007.
Gởi anh xem, thấy có gì giữa anh em minh đã "ngộ" nhau:


duyên khởi

ta từ bỏ cuộc ra đi
cặp kè con chữ giao tri đỡ buồn
gầy lời sưởi ấm mảnh hồn
đã từng thấm lạnh suốt dòng đời qua

ta từ bi hận say ngà
mượn người hơi thở chung hoà lời đau
ưu phiền chẻ vụn chia nhau
gối tâm mà ngủ ru hầu giấc vui

ta từ biệt chốn chôn nhau
bước đi trên sóng nghe xao lòng người
cố gây lên một tràng cười
tiếng nghe lạ hoắc vỡ rời âm ba

ta từ mê hoặc lòng ta
nhủ trăm năm chớ thở ra mà buồn
nhờ em nhắc cuộc càn khôn
đã thôi nước mắt đổ dồn vực sau

ta từ tự xoá vết sầu
đã nghe duyên khởi hát màu trúc thanh
thấm hồng âm sắc long lanh
ơn em tràng kết chuỗi lành hạnh nguyên!

Cao Nguyên

Có phải từ một "hốt nhiên" không?
.........

người cho ta mượn vô biên
mở toang cửa tinh nhập thiền định thân
mời ta vô lụy hồng trần
nhắp hương trà đạo hát rong niệm từ

người cho ta mượn nụ cười
hòa theo tiếng hạc lưng trời ngạo sương
rót đời vào nắng gây hương
nghe thanh thoát khúc Nghê Thường nguyệt du

(hốt nhiên)
.........

Ừ thì nguyệt du, vì:

... thời ta sống dường như mùa nguyệt tận
nên người chờ một bữa được ôm trăng

...sau hoàng hôn, tựa mình trong bóng tối
nhìn trăng lên, biết có mặt trong đời
đêm gập mình đau, uống lời hấp hối
thoát ra từ muôn lối bạn đi qua...

(ôm trăng)

Tản mạn vài dòng để anh thấy mình còn mấy đồng ken trong túi vui, và vẫn cười dẫu đời len gió trở.
Ơi Chữ và Nghĩa! Mùa Tâm Hạnh.

Cao Nguyên


Mồng Hai Tết Kỷ Sửu



trả lời


Chữ và Nghĩa




phảng phất

Đã hết tuần đầu của Tháng Tư/2009. Bầu trời Miền Đông vẫn còn xám xịt, mưa lai rai kéo cái lạnh chạy dài từ Đông vào Xuân. Cây trong rừng muốn thay lá mà nắng chưa chìu. Vườn nhà, mấy khóm hoa tulip cố nhoi lên để khoe màu, mặc nắng mưa. Tội những cọng cây yếu hơn mùa trước vì thiếu nắng, cánh vẫn xòe ra gợi ánh mắt người, chờ nụ cười của hôm nay và ngày mai.
Tiếng cười chưa khẩy lên trong không gian vắng lặng bên ngoài. Tôi đi tìm hương quá khứ trên những trang sách báo cũ tiếc hoài chưa chịu vất đi, sợ khối chữ nghĩa ân tình trở thành bụi thời gian. Có thể đó là sự đồng cảm với một người bạn văn: Mỗi lần dọn nhà, thấy sách báo mà thương, vất đi cũng nhẹ phần khuân vác, nhưng sợ lòng mình man mác những ưu tư! Sách báo in nhiều cũng tội cho rừng vơi màu xanh của lá, nước lũ vượt nguồn xoáy vỡ đất quê!

Còn bao năm nữa ta mài mực
viết phóng lên trời mấy dấu than!


Đỡ tốn mực và tốn giấy, thì viết phóng lên trời chắc cũng vui dẫu chỉ là những dấu chấm than!! Tiếc là cứ loay hoay mãi với việc người, việc ta mà khất lần bữa viết. Hoặc cảm thấy đã viết đủ điều nên viết, viết thêm chưa chắc đã khá hơn với giòng nghĩ vốn đã trầm cảm.
Nhặt tờ Phố Văn số 44 - tháng 10/2004, với chủ đề "Thu nói với người", chợt thấy mênh mông đời của mộng, cho dẫu muốn "gọi điêu tàn thức dậy".

Mộng dằng dặc, mộng nặng đầy
níu hồn trầm ý, đè gầy lời tâm!


Bật ra được hai câu thấm dòng hoang ngữ giữa chiều vơi, lại thấy nôn nao viết điều gì đó cho ta giữa khoảnh thời gian gác bút niệm đời!
Ấy vậy mà vừa đọc lời Trần Doãn Nho giới thiệu tập truyện của Lâm Chương: "Tôi để ý, càng ngày, Lâm Chương càng viết ngắn đi... càng ngày anh càng kiệm lời hơn". Ngẫm mà hay! Sự kiệm lời của một nhà văn chuẩn mực là muốn nâng niu từng hạt chữ cho nghĩa tỏa hương thơm. Thấy mà ham.
Tôi cũng muốn: thử xem một tháng thơ không viết/chữ nghĩa dư ra được bao nhiêu. Nín viết, kiệm lời thế mà mấy tháng qua, chữ dư ra không đủ lấp kín cái dấu hỏi em quăng vào mailbox của tôi: sao im lặng thế?
Giữa thời tress lây lan cùng khắp mặt địa cầu do tiếng vỡ của những đồng tiền rơi vào hố thẳm! Sự im lặng của chữ đồng nghĩa với sự khuất bóng của một nhân sinh. Và em thảng thốt nhìn khung trời vắng bóng chân thơ! Dẫu đã báo trước:
mai anh cùng chữ ẩn cư
rảnh, mời em ghé cội từ thăm anh.

Vậy mà vẫn sợ đóa hồng em chờ đặt vào không đúng chỗ, hoặc tôi như chưa từng có mặt trong đời! Mà tôi thì vẫn muốn mình hiện hữu dẫu chỉ là phảng phất:

chẳng thế, thời xưa buồn mất nẻo
bờ bến hồng hoang tự thuở nào
bia đá rêu xanh lời đáy mộ
đời lạnh mùa thương những khát khao

trăng đã vì đêm bàng bạc sáng
sao người không vì núi thẳm xanh


Hôm nay viết chừng ấy, để em biết tôi còn có mặt, dấu chân thơ còn trên lối xanh của một thảo nguyên xưa!

VA 4/4/2009
Cao Nguyên



trả lời


Chữ và Nghĩa


Cõi Thơ

Cám ơn những tiếng gõ truyền cảm. Từ gió đùa chiếc phong linh rung lên những tiết tấu hòa nhịp tim ta chạm nhẹ vào một khoảng không gian. Đến tiếng gõ trên keyboard kết những mắt xích thời gian xoắn lại tạo nên những nhịp rung, để mãi ta thấy mình còn tồn tại với những thương yêu. Tặng phẩm vô giá mà vật và người gởi đến cho nhau theo độ rung truyền cảm huyền nhiệm. Ngôn ngữ thơ tiếp truyền sự rung cảm đó đến chỗ vô cùng tận.
Em hãy nhìn đất thở, những rễ cây rung lên theo mạch nước lách len qua từng viên sỏi làm giòng suối tịnh yên cũng nẩy lên điều bất chợt trong ta với ý niệm tìm về một nguồn cội nguyên xưa.



Sự tương quan giữa vạn vật và lòng người, làm Hồn của những con chữ chạy qua Tâm thành lời, là nhịp thở nuôi sống ý thơ .
Cảm tạ sự bí nhiệm của Trời Đất tiếp truyền hơi thở để mình có đủ sức chạy theo sự cuốn hút của cầu vồng Chân Thiện Mỹ, vượt thoát những hệ lụy đời thường, đến với một cõi khác trong Đời - Cõi Thơ - Cõi có những tiếng gõ truyền cảm thanh thoát ngân lên từ nhịp tim phối âm đồng cảm tuyệt vời!

Cao Nguyên



trả lời


Chữ và Nghĩa


Từ "tu chợ" đến "cổ thi"
đường đi của chữ







nhắn người tu chợ


hỏi người hôm bữa vào tu chợ
còn nhớ mua vồng hoa cải xưa
lốm đốm hoa vàng như nắng vỗ
trải nếp thềm hoang che dấu mưa!

hỏi người trong bữa vào tu chợ
ngã giá đời mua bán vừa chưa
có vương vất chút gì duyên nợ
qua cân đong thừa thiếu không ngờ!

hỏi người sau bữa vào tu chợ
còn mấy đồng ken trong túi vui
còn mấy nụ cười len gió trở
thổi nồng tim qua buốt lạnh đời!

nhắn người mai mốt vào tu chợ
nhớ hỏi ta lấy chút lòng tin
làm bia chắn nét nhìn hoảng sợ
giữa lấn chen ngỡ chẳng còn mình!


Cao Nguyên


*****


Uyển Nhi Trang nơi kết tụ những tình cảm tốt đẹp của tất cả các bạn ...nơi có những Lá Thư Màu Tím chan chứa chân tình và những dòng thơ lãng mạn trữ tình thực đẹp từ ý thơ đến dáng thơ ...nên không chỉ LT mà hầu như ai đã ghé ngang đây dù chỉ một lần cũng không quên được.
Nói không quên được UNT " hốt nhiên " LT nhớ đến người bạn “ tu chợ “ – caonguyen - cũng đã có lần nói một câu với y... dù đi đâu rồi cũng trở về nơi đây ...nơi đầy “ ân tình chữ nghĩa “

--------------------------------------------------------------------------------



Dấu Yêu và anh Lang Thang thân mến,

Ngày nào tớ cũng về đây
Ngắm lời, đọc chữ nghe đầy nghĩa nhau
hihihi
Nhiều lúc cũng muốn "tu" mà duyên "chợ" cứ quẩn quanh với những dụ ngôn của chữ: Đêm nghe tình hát mộng từ chân duyên . Nên vẫn mơ một ngày được cùng nhau đối ẩm với "cổ thi".




cổ thi

phải chi ngày chẳng mệt nhừ
đêm nghe tình hát mộng từ chân duyên
quên đời vừa ngấp nghé nghiêng
chỉ hình đối bóng mà huyên thuyên lời

phải chi ngày dợm tốt trời
đêm dư sức vượt đời khơi khơi buồn
tha hồ thơ nõn nà buông
dọc theo thiên lý ngựa dòn vó qua

phải chi ngày góa phụ xa
đêm gom thư cảo ta bà đốt chơi
tàn tro chôn khuất lệ ngời
phẳng lì bia đá nhạt lời di ngôn

phải chi mai ửng trời hồng
bạn-ta đối ẩm ngẫm dòng cổ thi
rảnh tâm thăm cuộc triều nghi
ngắm trăng văn hiến tương tri khói trầm!

Cao Nguyên

*****

Gửi anh Cao Nguyên,

“ Ngắm lời, đọc chữ nghe đầy nghĩa nhau ” chỉ một dòng thơ này LT không biết nói sao diễn tả cho hết, cho trọn được cảm nhận xúc động của mình với
“ ân tình chữ nghĩa “ của CN!…. thôi chỉ còn biết mượn lời của LN : ” … hai câu thơ đẹp quá, ân tình quá! “

LT chiêm ngưỡng từng lời đẹp của “ CỔ THI “ và tâm tư cảm nhận từng chữ đầy nghĩa ân tình … Đúng như câu nói của CN :”… Nói về Chữ và Nghĩa, nó rộng bao la”

nên :

“nồng môi con chữ say mèm
ngã trong vực thở nhũn mềm vóc thơ! “(CN)

vì :

” Chữ Nghĩa và Thơ, Tâm của tôi
vốc hạt tình gheo thấm cõi đời
hạt rơi thăm thẳm vào trong đất
hạt vọng thênh thang khắp ngõ trời!” (CN)

Mình cũng như CN muốn " tu " mà lại luỵ duyên " chợ " đó !

LT cảm thấy vui khi chợt nghĩ trên đường “ tu chợ “ biết đâu sẽ tùy duyên khi duyên chợt đên...
để cùng“ bạn-ta đối ẩm ngẫm dòng cổ thi ”

Thân mến,
LT08


*****
Anh Lang Thang,
Nghĩ là:
tàn tro chôn khuất lệ ngời
phẳng lì bia đá nhạt lời di ngôn

Nhưng mỗi lần gió nổi, lời di ngôn dưới lớp tàn tro lại ngời lên dáng cũ, tình xưa:

người ơi vạn nỗi còn thừa độ ngân
nghĩ thôi chuyện của phong trần
tưởng là xa khuất vẫn bâng khuâng hoài!

Chiều qua, CN post lên trang bạn cái hình những con đường Sài Gòn lênh láng nước với tựa đề do CN đặt: "Sài Gòn tráng lệ", đã làm người bạn "chẳng biết trả lời sao?" . Vẫn là chuyện của "chữ nghĩa":

Nhìn lung linh con đường tráng nước
chợt nghe đời cay mắt lệ buông!




*****

Mến gửi anh CN,

‘Chữ Nghĩa’ thực mênh mông... và sự biến thiên ‘nghĩa chữ’ lại bao la vô cùng .. tất cả TUỲ TÂM nên 'nghĩa chữ ' cơ hồ như bất tận!... chính do tùy tâm cá biệt nên trước sự kiện đã có những góc độ nhìn hay cảm nhận có thể khác nhau!... rồi đi sâu vào ‘ân tình chữ nghĩa’ hẳn mong sao cảm nhận được tâm tư trong nhau qua ngôn từ và mong đạt được sự đồng cảm ... Ân tình chữ nghĩa phủ kín tâm tư ...… từ tình cảm với quê hương dân tộc, thu hẹp đến tình cảm với gia đình thân thương, rồi tình lứa đôi, tình bạn bè ... kể ra thì nhiều lắm!Có phải không CN?… Tình cảm thể hiện muôn màu, muôn hình vạn trạng và …
‘chữ nghĩa” ôi sao quá bao la! … chỉ giản dị một tấm hình CN post lên mà... hai chữ ‘tráng lệ’ khi tách rời đã không còn ý tâm tình ca tụng nguyên thủy nữa... lại trở thành thoát lên tâm tư khắc khoải đau thương cho quê hương dân tộc!Tấm hình đường phố Saigon ngập lụt mang tựa đề "Sài Gòn tráng lệ"... cảm nhận ngay được bàng bạc nét buồn thương về một Sài Gòn xưa:

“Nhìn lung linh con đường tráng nước
chợt nghe đời cay mắt lệ buông!”

Sinh hoạt cuộc sống bận rộn hàng ngày có đôi lúc tưởng những nỗi buồn đau quá khứ theo thời gian đi vào quên lãng …tưởng như “tàn tro chôn khuất lệ ngời “... nhưng thực sự có những buồn đau khi đã đi vào tim óc rồi thì không sao quên được
và lại nhớ thực nhiều, thực sâu nên:

“nghĩ thôi chuyện của phong trần
tưởng là xa khuất vẫn bâng khuâng hoài!”

Mỗi lần có dịp trò chuyen cùng CN thực quý mến ...… nghĩ đến CN là nhớ ngay đến 4 chữ “ ân tình chữ nghĩa “ ... bất giác LT nhớ đến những lời trong bản nhạc nhắc đến Tiếng Nước Tôi của Phạm Duy ;

“Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời,
Người ơi! Mẹ-hiền ru những câu xa-vời,
À ơi! Tiếng ru muôn đời...
Tiếng nước tôi.
Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi. Nước ơi!
Tiếng nước tôi.
Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi.
Thoắt nghìn năm thành tiếng lòng tôi. Nước ơi! “



trả lời


lên trên