1, 2  >                 Diễn Đàn                 <<< tìm >>>                 BÀI MỚI . muc luc . vào



Bông Hồng Cho Em


Bông Hồng Cho Em



Bạn thấy đấy, những bông hồng đỏ thắm vươn lên trên bầu trời xanh thẩm. Thật là đẹp phải không?
Những bông hồng nở từ một gốc hồng do tôi trồng và chăm sóc, sau hai năm đủ sức vươn lên trên cái giàn gỗ cao hơn hai mét, đã cho ra những đóa tuyệt vời.
Nhìn hoa, tôi liên tưởng đến những tài năng tuổi trẻ Việt Nam cho nở ra trên vạn dặm đất người những sáng tác cũng thật tuyệt vời. Những con cháu chúng ta lúc rời Việt Nam tuổi còn nhỏ xíu, hoặc mới sinh ra khi Ông Bà Cha Mẹ đã an cư nơi vùng đất lạ được gọi là quê hương thứ hai. Nhưng những tâm hồn trẻ ấy đã không vì những yếu tố khách quan khắc nghiệt của cuộc sống mà quên cái nôi Văn Hiến Việt Nam.

... nối tiếp bước cha ông, cùng đi tới
hãnh diện mình là giòng dõi Lạc Long
từng chặng đi, ngoảnh mặt nhớ phương đông
truyền tiếp lửa thắp hồng nôi văn hiến...
(Chúc Phúc - CN)

... Nghĩa trăm năm từng con Chữ nhớ
gọi vào Xuân rạng rỡ cùng đi
nối lời viết nồng nàn nhịp thở
Quốc Ngữ ơi ! Mãi mãi Xuân Thì!...
(Quốc Ngữ Xuân Thì - CN)


Cảm nhận được Chữ Nghĩa của Cha Ông như một tài sản vô giá, cần bảo trì và làm ngời sáng, bằng cách Học và Viết. Viết từ nguồn Nhân Ái Việt Nam, viết từ cảm thông những trăn trở của Cha Ông còn vương lại trên màu xanh của Núi Sông do nhẫn tâm của lòng người mà phai nhạt!

... em muốn hiểu Việt Nam bằng nhận thức
của một người không tham dự chiến tranh
có thể nào bằng ngôn ngữ chân thành
diễn tả hết những điều cần thấu triệt?

đời Cha khó, đời Cháu Con cũng khó
hiểu về mình không dễ phải không anh?
khi thế gian còn ngược đãi, bạo hành
thì lịch sử vẫn mãi là ... thế đấy ...!?
(Ngôn Ngữ Quê Hương - CN)


Không đâu, lịch sử vẫn đi lên và những tài năng trẻ sẽ tái tạo màu xanh cho Quê Hương. Như lời Chào Việt Nam của Phạm Quỳnh Anh



http://www.visualgui.com/motion/BonjourVietnam.html

Tôi muốn gởi đến mỗi tài năng trẻ một bông hồng như lời cám ơn sự tái tạo màu xanh bằng công cụ tuyệt vời của Chữ Nghĩa từ nguồn Nhân Ái Việt Nam.



trả lời


Bông Hồng Cho Em


CÔ BÉ HUẾ LÀM THƠ

TRÊN ĐẤT MỸ




Những đêm trở về nghe tay chân rời mỏi

Muốn ngủ yên như cọng lá giữa trời khuya

Em bây giờ mười tám tuổi rồi đó

Đi rong hoài cũng đến lúc già nua



Chim đêm vắng ngủ quên không hót

Em trở về buồn bã từng dấu chân

Thôi nhé Thư! Ngàn năm rồi cũng mất

Tình sẽ tan không dấu trong sương!



Cô nhỏ Huế theo “ngày tháng bềnh bồng” giữa sân trường University of Pacific, thành phố Stockton – California nhìn lại chính mình và “thấy mình đã lớn”. Trong thơ, Phạm Vũ Anh Thư không những đã “lớn” mà còn trưởng thành trong suy tư và cảm xúc. Giữa xa lộ sách đèn đủ mặt các sắc dân trên thế giới, cô bé Việt Nam, gốc Tây Lộc Huế, đã chọn một lối rẽ khá gian nan vào con đường mang vẻ đẹp diệu kỳ, nhưng cũng quanh co khúc khuỷu khó đi, đó là ngõ vắng đi vào thơ.

Bé Thư đến Mỹ vào lứa tuổi măng non. Gắng học để giữ gìn tiếng mẹ đẻ đã khó; giữ gìn, trau giồi tới trình độ làm thơ -- mà thơ hay nữa chứ -- thì quả thật cô bé Anh Thư đáng mặt tài hoa.

Thơ là sự cô đọng tột cùng của ngôn ngữ ; là sự thể hiện tuyệt mỹ tài năng vận dụng ngôn ngữ và quyền năng sáng tạo của thi ca và thi sĩ. Vũ trụ, con người và tình cảm đi vào thi ca mang vóc dáng của người nghệ sĩ un đúc thành thơ, nên văn là người mà thơ là trái tim của nó - như ý của A. Rimbaud.

Đối với người yêu thơ, đọc được một câu thơ hay là một niềm vui bất chợt và đọc được một bài thơ hay là một hạnh phúc... trời cho vì có khi cảm xúc bị ám ảnh đến giày vò hay cảm khái đến rưng rưng.

Có những bài thơ hay đã làm thay đổi cuộc đời và số phận của thi sĩ và khách yêu thơ. Lê Quý Đôn, Nguyễn Trãi, Phan Bội Châu, Tô Đông Pha, Tagore dùng thơ mà xây cuộc sống. Lý Bạch, Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Appolinaire quàng thơ mà đi qua từng thế kỷ. Khuất Nguyên, Ấm Thuyên, Cao Bá Quát, Robert Burns vì thơ mà khổ lụy một đời. Thơ không có điểm khởi đầu mà cũng chẳng có điểm cao cùng tột vì thơ tự nó là thơ, lung linh và lóng lánh giữa đời bằng vẻ đẹp chân thật mà mê hồn, bụi đời màkhuê các.

Một tác phẩm thơ đã ra đời là một giọt nước đã thành mưa, một đóa hoa đã nở, một ý niệm đã thành hình. Với nhân gian – dù nồng nàn hay bạc bẽo – thơ chỉ còn một lời mời gọi: “Nhận tôi đi dù địa ngục thiên đường!” Bởi thế, ngâm thơ, bình thơ, đọc thơ... cũng chỉ là những cách thế khác nhau để nhận thơ, sống với thơ và đưa thơ đến gần người đọc! Trang trọng mời người đọc đến với thơ Phạm Vũ Anh Thư cũng chỉ là một cách tiếp cận với thơ. Thơ Anh Thư sẽ không đổi thay vì người đọc và đứng ngoài giới hạn khen chê.

Như một loại “thánh ngữ” của tâm hồn, thơ không có tuổi. Đa số những thi nhân thời Thịnh Đường làm thơ từ thuở lên 5. Nghe một câu thơ đầy cảm khái, đọc một bài thơ hay, tôi không thắc mắc tác giả là bao nhiêu tuổi mà tôi chỉ thầm hỏi rằng, bản ngã của người thơ đó có đủ bản lĩnh để vật lộn trước sự khen che đầy gió bụi giữa cuộc đời hiện thực này không? Sự già dặn của bản lĩnh thi ca không nằm ở độ tuổi, cũng chẳng nằm ở số lượng mà nằm ở sự sáng tạo độc đáo (độc sáng) của thi nhân. Đọc thơ Phạm Vũ Anh Thư, người đọc sẽ bị đặt trước một nỗi bất ngờ lý thú: Những từ và cụm từ cổ kính, quý phái, phảng phất vẻ kiêu sa và lãng tử được sử dụng khéo léo gần như tự nhiên để diễn đạt một cách đầy gợi cảm những ý tưởng tươi mát, trẻ trung và thuần hậu của tuổi hoa niên:



Con chim họa mi năm nào

Bay vút cao cùng tiếng hót

Là chị, một thời tiêu dao

Dạo khúc hồ cầm phiêu hốt



... Cây đa gõ đoạn tình si

Nhịp phách lạc cơn trường mộng

Mây trắng ngút ngàn phương xa

Nỗi trôi một đời hoài vọng...

(Của Ngàn Mây và Tiếng Chim)



Thế giới thơ của Phạm Vũ Anh Thư cũng là một thế giới man mác hoài niệm về một quê hương “cố lý xa xăm”, nhưng Anh Thư không làm những khúc “mộ ca” đòi đoạn mà chỉ ngoái nhìn quê mẹ một cách đằm thắm, thiết tha để vững lòng vươn tới:



Cưu mang tâm sự thời lưu xứ

Mây khói xây thành mộng viễn du

Ngàn nỗi nhớ mang theo cánh hạc

Ruỗi dong tìm nguồn cội quay về



... Tài hoa thì cũng là con gái

Chắc đã giúp gì được bản thân

Nói chi cố quận sầu man mác

Nói chi trăng cuội lẽ tồn vong



... Bỏ nước ra đi bao kẻ sĩ

Sá gì ta một bóng lưu ly

(Tự Khúc Mùa Xuân)



Bản chất của thơ là nỗi buồn và sự lắng đọng trong cô tịch. Thơ của Phạm Vũ Anh Thư cũng không ra ngoài ước lệ đó, nhưng trong sự vắng lặng miên trường của cõi thơ, Anh Thư không chọn một thái độ triết lý để đối diện với hư vô như thế hệ những nhà thơ đi trước đã làm. Thư đã đem vào cõi thơ của mình những giới hạn đời thường rất gần gũi: Đó là quê hương, là thân phận, là Huế, là mẹ cha, là những thực tại có thể nắm bắt được trong hoàn cảnh mới nơi quê người.



Sông Hương

Nước chảy về thơ

Em

Cô bé nhỏ

Đôi bờ mắt xa

... Câu ly biệt

Chén quan hà

Buồn lên mắt

Vẫn nhớ

Là nhớ sông

(Sông và Em)



Thanh sắc thi ca có một vẻ đẹp diệu kỳ không quy ước. Khi tìm đến với thơ, có người thích thơ vì từ điệu hay nhạc ngữ; có người thích thơ vì hình tượng kỳ vĩ và tư tưởng sáng tạo lạ lùng; cũng có người thích thơ vì bắt gặp ở một nơi nào đó thơ nói lên tiếng nói bí ẩn của lòng mình. Những người đọc thơ Phạm Vũ Anh Thư có một cảm giác rất gần nhau là thơ Anh Thư rất phong phú từ điệu, nhạc ngữ và nhiều nét sáng tạo bất ngờ. Thể thơ phổ thông và dễ sáng tác nhưng lại rất khó hay trong Thơ Việt là thơ lục bát. Thấp một chút sẽ thành vè, cao một chút sẽ thành thơ “thiền” đầy bí hiểm. Thơ Anh Thư có nhiều thể loại khác nhau, nhưng tài hoa nhất vẫn là thơ lục bát sáng tác dưới dạng “ngắt từ”.



Mẹ

Là nguồn cội yêu thương

Là niềm cảm hứng

Tâm hồn

Của con

Là bầu vú

Sữa căng thơm

Dù thăng trầm

Vẫn ngọt tươm mạch đời...

(Mẹ là Nguồn Cội Yêu Thương)



Một mình, phố

Đứng trong mưa

Đợi ai?

Hay phố đợi mùa thu xa?

Mùa thu,

Hoa cúc quê nhà

Vàng sắc áo

Lụa Phù Sa

Thủa nào?

(Thu Phố)



Cảm quan nghệ thuật và năng lực sáng tạo thi ca của Phạm Vũ Anh Thư cũng “vượt biên” đến những chân trời mới khi Anh Thư làm thơ song ngữ: Tiếng Việt và tiếng Anh. Khác với những người làm thơ song ngữ đi trước, Anh Thư không làm công việc “dịch thơ mình” từ Việt qua Anh hay ngược lại. Thư đã thực sự sáng tạo. Thơ tiếng Anh của Anh Thư cũng đã thể hiện được nguồn xúc cảm, nét tài hoa và sự rung động chân thành như trong thơ Việt. Thư đã tự mình nói lên điều đó:



I bring forth

What is within me,

As a smile wafts to the breeze,

With the silent, invisible orchids



If the nature of those gentle flowers

Are to bloom,

I keep my soul vibrated

The kingdom of mystery

Dances

The whole twist

(Shall I Tell You)

Tạm dịch:



Ta mang đến

Niềm riêng ẩn dấu

Như nét cười thoảng gió ru êm

Với những đóa phong lan thầm lặng không tên



Nếu tinh túy của phong lan

Bừng nở

Ta thả hồn rung động miên man

Cả vương cung bí ẩn

Múa

Tưng bừng.



Dù sinh ra sau chiến tranh Việt Nam và cuộc chiến trên quê hương chỉ còn là chuyện buồn của quá khứ, nhưng khi nghĩ lại, cô bé Việt Nam bỗng cảm thấy tự hào nhớ về nguồn – Nguồn Cội Yêu Thương – khi đứng chen vai thích cánh với bạn bè giữa lòng thế giới.



I am

A Vietnamese Youth

Fixed on the land

Which feel my mind with prejudices!

Either major

Or minor

Prelude



Yet, I am not

I am the average

Beneath all camouflages,

Yearned for all my girlhood,

The Vietnamese,

The root

(The War Within)







Dù phương tiện tinh hoa nhất của thơ là ngôn ngữ phải vay mượn tiếng người, nhưng Phạm Vũ Anh Thư vẫn diễn cảm được nỗi lòng tha thiết với quê cũ của mình – Huế ơi! Quê Mẹ - bằng cái “đoạn trường tân thanh” đó.



Wandering aimlessly along the Huong River

Arecas in the full bloom, lingering, scented the evening air

As a ferryman sang, the moon declined

With a thousand straggling tones that tear...

(Hue, a Long Road Home)



Trong phần đất văn học nghệ thuật giới hạn của người Việt ở hải ngoại, hiện tượng xuất hiện quá phong phú của thơ làm cho những người yêu thi ca vừa vui mừng vừa quan ngại. Vui mừng vì dân ta hào sảng với thơ thì đã đành, nhưng cũng ưu tư vì sự ra đời ồ ạt của thơ không có nghĩa là vườn thơ hải ngoại sẽ khởi sắc theo bề dày của số lượng mà có khi còn ngược lại. Quang Dũng đi vào văn học sử một cách sáng chói chỉ bằng 4 bài thơ. Advers được thế giới biết đến và mến mộ chỉ có một bài thơ “Tình Tuyệt Vọng”.

Đọc tập thơ “Nguồn Cội Yêu Thương” mỏng manh của Phạm Vũ Anh Thư chắc hẳn niềm quan ngại vừa được trình bày ở trên sẽ vơi đi vì thơ của Anh Thư vừa mang đến cảm xúc rất tươi mới, vừa nói lên được một phần năng lực sáng tạo thi ca của tuổi trẻ Việt Nam nơi đất khách. Tập thơ đầu tay của Anh Thư cũng vừa là “chiếc cầu thế hệ” bắc ngang qua giòng sông văn hóa Việt Mỹ. Qua tâp thơ nầy, Phạm Vũ Anh Thư đã tự chứng tỏ được bản lĩnh của mình, đó là bản lĩnh của tuổi trẻ Việt Nam đang vững vàng tiến bước đi vào mảnh đất thi ca và văn hóa của dân tộc Việt nơi quê người. Đối với quê hương, Anh Thư đã về và đã thấy.



Trần Kiêm Đoàn

Sacramento, Thu 2005

http://www.art2all.net/tanman/cobehuelamtho.html



trả lời


Bông Hồng Cho Em


Lê Nam: Một Hiện Tượng Đặc Biệt
... Trong Nền Văn Hóa Hải Ngoại




(Hình) Lê Nam: ngôi sao trẻ được hết lời ca ngợi và là một hiện tượng đặc biệt trên bầu trời văn học thế giới hiện nay.

Hồi tuần qua, quyển sách có tên là The Boat (Con Thuyền) của nhà văn trẻ người Úc gốc Việt đã được Thủ hiến New South Wales, ông Nathan Rees trao giải thưởng văn chương quan trọng về thể loại truyện ngắn - và được xem là quyển sách hay nhất trong năm tại Úc. Giải này được mang tên là NSW Premier's Literary Awards. Đồng thời trong cùng ngày, quyển The Boat được giải thưởng Glenda Adams của Đại học Kỹ thuật Sydney (UTS) về sáng tác mới hay nhất. Chỉ một tháng trước, cũng quyển sách ấy đã đoạt giải thưởng văn chương tại tiểu bang Victoria, khi Thủ hiến John Brumby ca ngợi là quyển sách xuất sắc nhất trong năm của tiểu bang.

Đây mới chỉ là các giải thưởng tại Úc về quyển sách nói trên, sau khi quyển The Boat viết bằng tiếng Anh, được dịch ra tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, Phần Lan, Croatia, Do Thái, Thụy Điển, Nhật Bản, Triều tiên và dĩ nhiên là tiếng Việt.

Được biết nhà văn trẻ Lê Nam mới 29 tuổi, chào đời tại Việt Nam và vượt biên cùng gia đình đến Mã Lai, khi anh mới được 3 tháng tuổi. Lê Nam lớn lên tại Melbourne và hành nghề luật sư, thế nhưng do thú ham đọc sách nên anh cũng tập viết lách và quyển The Boat là tác phẩm đầu tay gồm 7 truyện ngắn, đã được xuất bản tại Úc hồi năm rồi. Kể từ đó quyển sách này đã leo lên vị trí số 1 trong danh sách Top 10, những sách bán chạy nhất trong tuần trên thế giới.

Trước đó quyển sách đã được phát hành tại Mỹ và đã được đón nhận nồng nhiệt. Nhà phê bình văn học của nhật báo New York Times là bà Michikio Kakutani, vốn được xem là một cây bút nổi danh ở Mỹ trong việc giới thiệu các tác phẩm, đã hết lời ca ngợi và đánh giá cao quyển sách The Boat như một hiện tượng đặc biệt và mới lạ, xuất hiện trên bầu trời văn học thế giới. Còn nhà văn từng đoạt giải Pulitzer ở Mỹ là Junor Diaz, nhận xét và không tiếc lời ca ngợi tác phẩm của Lê Nam. Những nhận xét có trọng lượng này của nhà văn nói trên, đã được trích đăng trên bìa quyển The Boat, vốn được tái bản hơn hai trăm lần chỉ trong thời gian ngắn ngủi một năm trời.

Lê Nam đã được đón nhận ngay từ khi tác phẩm The Boat ra mắt lần đầu tiên tại Melbourne ở Úc, hiện là biên tập viên thể loại văn xuôi của tạp chí văn học nổi tiếng ở Mỹ là Harvard Review, mặc dù đầu tiên các sáng tác lúc mới chập chững cầm viết của anh, là những bài thơ bằng tiếng Anh lẫn tiếng Việt. Trước đó anh được mời sang Mỹ để tham dự các trại sáng tác, cũng như nhiều học bổng của các trường đại học Mỹ cấp, quyển The Boat dường như được ra đời trong dịp anh tham dự trại sáng tác ở Philadelphia và sau đó được xuất bản tại Úc.

Thủ hiến New South Wales rất mực khen ngợi

Trong buổi lễ trao giải thưởng về văn chương tại Sydney, Thủ hiến New South Wales, ông Nathan Rees ca ngợi quyển The Boat là một trong những những sáng tác văn học gây nhiều ngạc nhiên trong tâm tưởng con người. Quyển sách này được công nhận là hay nhất trong năm tại Úc. Ông Nathan Rees được xem là người có thẩm quyền trong việc phê phán quyển sách, do ông đã tốt nghiệp Đại học Sydney với hạng danh dự về môn Văn Chương Anh. Trong bài diễn văn loan báo kết quả tuyển chọn hôm thứ hai tuần rồi, ông cho biết “Quyển The Boat là một tập hợp các truyện ngắn vượt biên giới quốc gia và các ranh giới về văn hóa, mang lại cho người đọc những kinh nghiệm về một loạt các quan điểm và tiếng nói khác nhau trên thế giới”.

Cũng trong ngày thứ hai tuần qua, quyển The Boat cũng đạt giải thưởng văn chương Glenda Adams của trường Đại học Kỹ thuật Sydney UTS, với số tiền tượng trưng là 5 ngàn đô la, chưa kể giải thưởng quyển sách hay nhất trong năm mang lại một số tiền khác là 10 ngàn đô la. Thực sự hai số tiền này có tính cách hết sức tượng trưng và danh dự, so với số sách bán được và đã dịch ra qua nhiều thứ ngôn ngữ khác nhau, khiến Lê Nam trở thành nhà văn triệu phú chỉ với một quyển sách đầu tay.

Những hy sinh để chọn ra con đường riêng cho mình

Lê Nam là một luật sư cộng tác trong một văn phòng luật sư tại Melbourne, sau khi anh tốt nghiệp đại học. Với sự nghiệp vững chắc của ngành nghề luật sư, anh có thể sống một cuộc đời yên bình tại xứ sở Miệt Dưới, vừa có danh vọng và cuộc sống được bảo đảm đầy đủ về mặt vật chất ở Melbourne. Đây cũng là ước mơ của hầu hết các gia đình người Việt tại hải ngoại, luôn mong muốn con cái của họ tốt nghiệp đại học và theo đuổi một ngành nghề nào đó an toàn và bảo đảm tương lai. Chính sinh viên tốt nghiệp ra trường cũng chỉ cầu mong tìm được công việc làm vững chãi, có chút ít danh vọng và rồi yên ấm bên vợ đẹp con khôn. Thế nhưng Lê Nam đã chọn con đường sáng tác văn chương làm hướng đi cho đời mình, khi từ bỏ công việc của một luật sư tại tòa Thượng thẩm Victoria để dấn thân vào nghiệp văn chương, qua việc tham dự các trại sáng tác tại Philadelphia và tại Iowa ở Mỹ.

Lê Nam chính thức bước vào việc sáng tác chuyên nghiệp, khi theo học chương trình Cao học về nghệ thuật kéo dài trong hai năm trời, tại Iowa ở Hoa Kỳ. Chính từ các trại sáng tác nhằm tạo điều kiện cho các tay viết trẻ, đã giúp đưa Lê Nam lên đài danh vọng với quyển sách đầu tay The Boat. Quyển sách đã thành công ngoài sự mong đợi của tác giả trên văn đàn thế giới, chứng tỏ con đường văn chương chữ nghĩa quả là hướng đi đúng hướng cho một người trẻ đã chọn, khi phải hy sinh những gì đã có trước mắt.

Vài hàng về tác giả người Úc gốc Việt

Lê Nam chào đời vào năm 1978, chỉ ba năm sau khi Saigon sụp đổ và cũng là năm người cha từ ngục tù lao cải trở về, sau đó ông tìm cách đưa cả nhà ra đi lúc Nam mới ba tháng. Sau thời gian tạm trú tại Mã Lai, gia đình Nam được nhận vào Úc định cư. Chú bé thông minh học giỏi từ bậc tiểu học ở trường Melbourne Grammar School lên đến Đại học Melbourne và tốt nghiệp ưu hạng với hai bằng Cử nhân Văn chương và Cử nhân Luật. Người thầy tạo nhiều ảnh hưởng nơi Lê Nam khi học về văn chương, là thi sĩ người Úc Chris Wallace Crabble. Nam là luật sư làm việc trong một công ty luật và là luật sư tòa Thượng thẩm Victoria trong năm 2003 và 2004. Thế nhưng vào năm 2004, Lê Nam quyết định hướng đi mới cho cuộc đời của mình, khi anh tham dự trại sáng tác ở Iowa tại Mỹ, đồng thời hoàn tất bằng Cao học trong lãnh vực Sáng tác Văn chương.

Anh được nhận làm biên tập viên cho tạp chí văn học nổi tiếng của Mỹ là Harvard Review. Vào năm 2006, truyện ngắn đầu tiên của anh được đăng trên Zoetrope, anh cũng được học bổng của Trung tâm Mỹ thuật tại Princetown và tại Phillips Exeter Academy một năm sau đó. Năm 2008, Lê Nam trở về Úc và xuất bản quyển The Boat, thế nhưng sau đó sang Anh quốc để nhận một học bổng khác tại Đại học East Anglia.

Được hỏi về nguồn cảm hứng khi sáng tác, Lê Nam không ngần ngại cho rằng “Tôi cảm xúc rất nhiều qua những chọn lựa và hy sinh của cha mẹ tôi. Những chuyện ấy vẫn luôn đậm nét trong đầu óc tôi”.

Vài hàng về tác phẩm The Boat

Quyển The Boat dày 272 trang với 7 truyện ngắn, lấy bối cảnh là chuyến vượt biên từ năm 1978 của gia đình Lê Nam từ Rạch Giá, vốn là nơi chôn rau cắt rốn của anh. Chiếc thuyền trôi giạt đến Mã Lai khi đó Lê Nam mới ba tháng và đang bị ốm nặng, do đó cha mẹ anh đã chấp nhận lời mời của phái đoàn để đi định cư sớm ở Úc nhằm chữa lành bệnh cho con, và có lẽ đó là nguồn cảm hứng khiến anh sáng tác quyển sách nổi danh The Boat. Nhân vật chính trong truyện là một cậu bé 6 tuổi, ốm yếu tên Trương, với cặp mắt sâu thẳm, u buồn, phảng phất nét suy tư của một cụ già. Bố Lê Nam là một sĩ quan trở về từ trại “học tập cải tạo”, sự kiện này cùng nhiều chuyện thật khác trong đời thường của tác giả, đã được lồng vào câu truyện thực hư lẫn lộn một cách tài tình của cậu bé tên Trương, qua truyện ngắn đầu tiên của sách mang tên “Love and Honor and Pity and Pride and Compassion and Sacrifice” (Tình yêu, Danh dự, Lòng Thương hại và Niềm Tự hào, Lòng Trắc ẩn và Sự Hy sinh).

Đây là những chủ đề mà các gia đình Việt Nam vượt biên, dù đến bất cứ quốc gia nào định cư cũng đều phải đối diện và tìm thấy chính mình trong đó. Những câu truyện khác tác giả dẫn dắt người đọc với các nhân vật qua thời gian và không gian khác biệt, từ Iowa đến Nữu Ước, từ Cartegena đến Hisoshima, rồi từ một làng đánh cá nhỏ ở Úc cho đến con tàu đánh cá vượt biên Việt Nam trôi dạt trên biển Đông; từ suy tư của một tay sát thủ trẻ 14 tuổi ở Medellin (Columbia) cho đến tâm trạng của một họa sĩ già yếu ngoại lục tuần ở thành phố Nữu Ước, luôn mong đợi người con gái đã chia cách 17 năm qua; từ tâm trạng khắc khoải của một cô gái Nhật Bản tuổi đôi mươi vào những giây phút khi quả bom nguyên tử nổ ở Hiroshima, tâm tình của một thiếu phụ người Mỹ bị phụ bạc cho đến tấm lòng sôi sục của một phụ nữ đối kháng ở Nam tư, bạn của thiếu phụ Mỹ, khi người này đến thăm bạn tại Teheran thủ đô của Iran, chuyện tranh giành gái đẹp của các học sinh Trung Học trong bối cảnh một gia đình người Việt tỵ nạn tại Úc.

Truyện cuối cùng là Con Tàu trở lại bối cảnh Việt Nam, trên một chiếc thuyền đánh cá chen chúc những người tỵ nạn với nhiều thảm cảnh diễn ra, trong đó người phụ nữ phải chấp nhận những quyết định hết sức đau lòng. Tất cả nói lên những tâm sự ray rứt và đau buồn lẫn tuyệt vọng của cuộc đời, của từng nhân vật trong các truyện ngắn khác nhau. Người đọc cuốn hút vào dòng chảy của quyển sách, nhập vai từng nhân vật trong truyện, với những buồn vui lẫn lộn theo từng lời văn tuyệt diệu của Lê Nam.

Vài thành quả của Lê Nam qua quyển The Boat
Ngoài các giải thưởng Lê Nam nhận được hồi trung tuần tháng nầy, như giải thưởng Văn chương của Thủ hiến New South Wales về quyển sách hay nhất trong năm, cùng giải thưởng của Đại học Kỹ thuật Sydney về sáng tác mới xuất sắc nhất, năm rồi quyển The Boat chiếm được giải thưởng cao quí là Dylan Thomas. Cũng trong năm 2008, quyển The Boat được giải thưởng về sáng tác hư cấu cho tác giả dưới 35 tuổi của National Book Foundation, ngoài ra, còn được giải thưởng truyện ngắn của Frank O'Connor International Short Story Award. Vào năm 2007, quyển The Boat được giải thưởng Pushcart Price và cùng năm, Lê Nam được giải thưởng của Michenner Copernicus.

Hiện nay, đã có hơn 8 nhà xuất bản ngoại quốc mua bản quyền của quyển The Boat. Ở Mỹ, sau khi nhà xuất bản nổi tiếng Alfred A. Knopf phát hành quyển The Boat, Lê Nam đã chiếm quán quân giải Pulitzer, một giải thưởng cao quí về văn chương, báo chí, truyền thông...

Tính đến nay quyển The Boat đã được 68 giải thưởng, cũng như được tuyển chọn là quyển sách số 1, từ khắp nơi trên thế giới và danh sách này có lẽ sẽ tiếp tục còn dài. Lê Nam quả là một hiện tượng hết sức đặc biệt của một cây bút người Việt trẻ tuổi trên văn đàn thế giới và mở ra một đường hướng sáng tác bằng Anh ngữ của các nhà văn Việt Nam, trên con đường tiến đến giải Nobel Văn chương, một mục tiêu mà mọi cây bút sáng tác trên thế giới đều mong mỏi.

Thạch Vũ (Văn Nghệ tuần báo Úc châu)

http://forums.vietbao.com/topic.asp?TOPIC_ID=52151&whichpage=27



http://www.amazon.com/Boat-Rough-Cut-Nam/dp/030726808X/ref=ntt_at_ep_dpi_1#reader



trả lời


Bông Hồng Cho Em




Nhà thơ nữ Vi Thuỳ Linh, một trong những đại diện của trào lưu sáng tác mới trong làng văn học Việt Nam. Photo courtesy VnExpress.

Phỏng vấn nhà thơ Vi Thùy Linh
Mặc Lâm, phóng viên đài RFA
2008-04-22



Vi Thùy Linh là một nữ thi sĩ trẻ tuổi, gây nhiều sóng gió trong dư luận và cô luôn tạo cảm giác bất ổn cho nhiều người qua những bài thơ nóng bỏng nhưng đầy ấp sáng tạo khiến thơ của cô đứng rất riêng và cũng từng bị cấm in trong nhiều năm. Vi Thùy Linh được biết đến như một hiện tượng thơ qua ba tập thơ: "Khát", "Linh" và tập cuối cùng là "Đồng tử".

Linh thổi vào văn đàn thơ mới một cơn lốc mãnh liệt với khát vọng tình yêu đắm say, cuồng nhiệt.
Mới đây Vi Thùy Linh tái xuất hiện trên thi đàn bằng tập thơ mới được in song ngữ Việt – Pháp với sự chuyển ngữ của các dịch giả nổi tiếng Dương Tường, Phạm Toàn (Châu Diên) và dịch giả trẻ bằng tuổi với cô - Cao Việt Dũng. Vi Thùy Linh cũng là nhà thơ nữ đầu tiên (sau hai nhà văn Nguyễn Huy Thiệp và Nguyễn Việt Hà) được Trung tâm Văn hóa Pháp mời giao lưu với độc giả tại L'Espace HN.

Xem tiếp bài phỏng vấn: http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/InterviewViThuyLinh_MLam-04222008095555.html




Tình tự Hà Nội
-Thơ Của Vi Thuỳ Linh
( 02.12.2009, 05:24 pm GMT-7 )




Đây là một bài thơ trích trong 29 bài ở tập thơ "ViLi In Love " chia ra làm 3 phần: Mãi mãi ngày thơ bé-Tình tự Hà Nội-Con và Paris của nhà thơ Vi Thuỳ Linh. Đây là một tập thơ song ngữ Việt - Anh do Dương Tường và Trịnh Lữ dịch...


ViLi In LOVE là tập thơ thứ tư của Vi Thùy Linh sau
Khát, 1999, nxb Hội Nhà văn, tái bản 2007
Linh, 2000, nxb Thanh Niên, tái bản 2007
Đồng Tử, 2005, nxb Văn Nghệ, tái bản 2006

***********

Trận mưa dài bằng đêm tặng vạn vật sự vuốt ve của nước
Nắng pha chế sương, mưa bốc hơi huyền ảo bụi màu
Nắng rợp xanh tán tán xanh trong
Ngả điệu valse điệu đàng xuống gương hồ
Đi tìm Hà Nội trong lòng Hà Nội.

Bắt đầu từ đâu? Từ tâm phố cổ
Rùa Thần nổi lên lại trao gươm báu
Trừ tham, diệt ác, ngu muội, vô lương.
Nhưng không ai dám nhận việc thiêng
Cuộc bàn giao lưu niên vào sợ hãi mơ hồ, thờ ơ, lãnh cảm!

Đi tìm người Hà Nội trong thành Hà Nội
Người cũ đi đâu, âm ngọng lói rát tai xe cộ
Người cũ đi đâu, nếp sống ngọng đau lòng phố cổ.
Đang đi mùa hè ốm, mà tiếc mùa xuân non
Đào đã mất rồi, trăm năm trăm năm Nhật Tân
Cánh tay nào bứng cả làng đào?
Chỉ có đàn xe ủi ầm ầm trả lời
Chữ ký hoá vàng đào phai đào bích
Đang phờ phạc nực nồm, thèm hít Tây Hồ
Vườn ổi, triền ngâu, sen trùm mặt nước
Chỉ thấy kè, doi đất, lều, cọc sắt chiếm hồ
Sóng đánh váng những lời chua chát

Đang xuyên qua hè, nhớ mùa thu quá!
Heo may về đâu, trên những quái nhà
Tầng cao đặc chóp, tầng thấp đua chen, vỉa hè nhếch nhác
Bộ hành đánh võng mặt đường
Xé thịt da tôi, khi lưỡi cưa hung bạo lia vào thân sấu, xà cừ trăm tuổi
Cây được sống thì cành cụt thảm thương
Đốn mau cây, lấy chỗ nhậu ồn ào, những quán ăn sát cống
Lá xanh, vàng hoảng loạn xa cành
Đinh to chi chít đóng phập thân
Giấy dán, lều treo, biển xe ôm mắc vào đinh nhiều như rác vứt ra đường thường nhật

Đi hết mùa hè, mong gió mùa đông bắc
Thèm gió bấc tháng chạp táp mặt
Để người bớt ra đường, hiếu chiến giao thông, ồn ào nói, thường trực cãi nhau, hồn nhiên văng tục
Để cây được yên lành trong rét căm căm sống tiếp can trường
Để ánh sáng trăng lạnh làm kỹ xảo, cho phố nằm bên phố mơ màng
Trò ảo giác tỉ mỉ của kỷ niệm ngàn năm đầy lên từng khắc

Cột điện sắt gày xưa cũ
Đánh lạc mình giữa chằng chịt đường dây
Nghiêng dốc nghiêng nhịp mái rêu dày
Ngói vảy cá, ngói ống hoàng lưu ly, gối lên nhau nức nở
Ngói sợ chẳng được sống bao lâu, sẽ ra đi theo nhiều ngôi nhà cổ
Sợ lịch sử ngàn năm đứt mạch phũ phàng
Chỉ có rêu nghe thấy lời ngói cũ
Rêu xanh rêu vàng phủ át xót xa
Giống như một kẻ an ủi thật thà

Hít hơi lạnh căng đầy lá phổi
Lâu lắm rồi mới được thở thoả thuê
Giá Hà Nội vắng như thời các thiếu nữ tân thời, dù một tuần thôi nhỉ?
Điều đó may ra chỉ tái hiện bằng điện ảnh!
Vì cả năm chỉ có 1 ngày:
Sáng mồng một Tết

Như những đêm hỗn mê, như những ngày ngổn ngang không kỹ thuật tốc ký hiện đại nào ghi kịp
Ta xuất phát về những mùa thanh lịch
Cái Đẹp quý phái, tinh tế bằng sự lịch lãm, kiêu kỳ
Thanh tao hào hoa hiện ra những gì Hà Nội
Ký ức âm thanh ùa về giọng nói
Trong khiết, bay bổng, biểu cảm rất sang
Hàng rong len lỏi, xôn xao rao rao
Sơn ca hót bay vòm phố
Lũ bồ câu vóng theo chuông chiều lễ

Những tương phản va đập của kiến trúc
Những tách - nhập giật mình phát khóc
Tourist Tây choáng váng rơi bản đồ
Khách hay chủ đều không giúp được nhau
23 giờ, tắt đèn, vào nhà, ngủ(!)

Đi qua mấy phố nghề
Búa gõ tôn, thùng chát chúa
Mắt toé lửa hàn, cảnh tượng còn lưu
Sáo sậu, chích choè thót mình bay, đậu
Những con chim nhỏ nhoi run rẩy
Đừng mong dự báo tâm trạng người đời
Hãy tìm độ cao an toàn mà làm tổ!
Mang sách tranh Bùi Xuân Phái đi tìm phố
Người đã khuất, phố ở đâu?
Những ngôi nhà, những khúc quanh tiếp nhau, đã thành điệu tango (1) giã biệt
Nếu không còn cây hồ, nhà cổ
Hà Nội sẽ ở đâu, Hà Nội ơi?

Thôi đừng suy nghĩ miên man, hãy áp giải ký ức về hiện tại
Làm dịu cơn đau Thăng Long bằng những vỗ về
"Đấy là cuộc cách điệu tổng thể long trọng không ngờ"(?!)
Trước gian nguy không sợ hãi, tuyệt vọng

áp tay mình lên từng gốc cây, từng ngôi nhà cổ
Anh đi tìm những kỉ niệm xưa, những hàng xóm cũ
"Người cũ đi hết rồi", bà hàng nước còn lại giãi bày, "toàn người các tỉnh về đây"
Nhớ căn gác xưa đầy đủ cha mẹ, anh em, tụ tập bạn bè, Anh lặng khóc
Làm gì được sau những lần mưa bão, hoa rã hương, táo ổi nhạt vị rồi
Thả thuyền giấy lần lượt ra khơi, khi Hà Lội ngập đường sau trận mưa khởi động
Anh đi tìm bạn cũ ở ngoại ô
Mông lung lắm, ngoại ô xưa bến chót tuyến tàu điện cửa ô Cầu Giấy, ngoại ô nay có cả núi
Ba Vì
Tu hú gọi thấp thỏm vụ bơ vơ
Bò nhai cả chuỗi chiều bịn rịn
Anh khứ hồi về phố cổ đi Anh!

Đừng hỏi kẻ ích kỷ về sự hy sinh
Hãy niêm phong những giọt nước mắt
Để mắt sáng trong mở phim tài liệu mới
Hà Nội trong mắt ai (2) sắc sảo, đắm say, tê tái
Hà Nội trong mắt người biết yêu

Trong mắt anh và em, Hà Nội của đôi mình
Của nhiều lứa đôi thích hôn nhau dưới gốc cây, trong góc tối
Của những cụ bà đảm đang chợ sáng, những cụ ông đọc báo tiếng Pháp ghế đá Bờ Hồ
Của những con chim ham sống lích chích làm tổ mới
Của những em bé hồn nhiên, mới tinh ước mơ
Của những người xa xứ coi đất thiêng là cội nguồn xứ sở, chốn gửi hy vọng trông về
Của những con đường, vỉa hè suốt ngày đêm không nghỉ ngơi, đào lấp, tôn nền, lát gạch
Của những rạp hát sáng đèn và nhiều rạp đã thành bãi bia, sàn nhảy
Của những hồ xanh, hồ hấp hối tiếng kêu chẹn họng
Của những bách hoá xưa thành plaza, siêu thị; những chợ cũ phá đi, xây trung tâm thương mại
Của những hiệu ăn nhái thương hiệu xưa, nhưng toàn dân quê nấu cho thực khách kinh kỳ, kẻ bưng bê mắng khách, cãi nhau với chủ
Của cầu sắt trên cao, đoàn tàu băng qua phố cổ, bánh sắt nghiến đường ray, “tiếng nói” hỏa xa - còi rúc hơi dài, hú lên báo hiệu sự hiện diện
Của những bà hàng rong mấy đời, giờ nơm nớp công an lao đao chạy trốn dân phòng…
Phố cổ chẳng nói gì
Ngoài ký ức hình ảnh, âm thanh đã qua và tiếp diễn
Người Đức sẽ nạo sạch hồ Gươm
Người Pháp sẽ trùng tu cầu Long Biên, khôi phục leng keng tàu điện
Những dự án tương lai sẽ thành sự thực
Để giữ lại Ngày xưa.
Còn người Hà Nội làm gì cho Hà Nội yêu dấu của mình?
Phố cựa quậy, những tiếng khóc chào đời
Đứng trước cửa 36 Ngô Quyền (3), nghĩ về lịch sử
Lịch sử thành phố, lịch sử những lớp người
Nhà hộ sinh già không còn hoạt động.
Bệnh viện sản quá tải các bà bầu
Bố mẹ lũ trẻ sung sướng khai sinh cho con: nơi sinh Hà Nội.

Đi qua phố nghèo phố giàu rồi cũng về phố cũ
Nắm bàn tay ấm đôi ta tìm lộng gió
Mùa không mùa chỉ có mùa tình
Lâu lắm mới được niềm vui xa xỉ
Lững thững trên cầu Long Biên, ngắm sông Hồng Hà Nội
Rồi ngồi bên nhau nhìn liễu hồ Gươm lẳng lơ
Anh ghé vào tai em một đôi môi
Không nói điều không cần nói
(Mình yêu nhau hơn vì yêu Hà Nội)

Không nói điều gì
Làn môi đọng lại lưng nhánh tai
Những biến hoá màu quang hợp không gian cổ kính
Từng dây nắng thơm vang từng phím lá
Sóng gợn hồ thiêng đưa cụ Rùa cất tiếng
Vọng vào Đất Trời lời kể trầm hùng
Về Thăng Long ngàn năm…
Chỉ có người biết yêu, mới biết!

Trước 1.8.2008
(Ngày Hà Tây nhập vào Hà Nội)

-----
(1) Điệu nhảy chuyển động liên tục, có nhiều bước ngoặt mạnh, chân dứt khoát
(2) Hà Nội trong mắt ai, phim tài liệu của đạo diễn, NSND Trần Văn Thuỷ làm năm 1982, bị cấm chiếu đến cuối 1987, gây ấn tượng mạnh mẽ, gai góc. Tại LHP Việt Nam lần VIII ở Đà Nẵng, phim giành Bông sen vàng cùng 3 giải cá nhân xuất sắc cho đạo diễn, biên kịch, quay phim.
(3) Hộ sinh A - 36 Ngô Quyền, quận Hoàn Kiếm, nơi tôi sinh ra



http://www.yahoovanhoaviet.com/news/index.php?act=view&code=post&pid=5&cid=28&id=27557

***


HƯƠNG LÁ MÙI – VI THÙY LINH
Xuất hiện như tín hiệu mùa vào tháng Mười âm lịch, khi những chiếc xe đạp chở phía sau xanh um những bó mùi hương quyến luyến các ngả đường, len vào từng ngõ phố. Loài cây như cô gái mảnh mai nói với tạo vật bằng hương thơm từ khi mới lộ trên mặt đất lá mầm xanh biếc, mùi hương làm nên ý nghĩa sự tồn tại của loài cây ấy, từ tên gọi: Cây Mùi.

Từ lúc xanh non đến khi già, mùi luôn được bó mớ. Lúc xuân thì, nó là rau sống, là gia vị mà ai cũng có thể ăn, thứ rau thơm kèm được với nhiều món mà không e khắc vị. Như gia vị, người ta bó mớ mùi ấy bằng sợi lạt nút mỏng; bằng bàn tay, thân mùi chừng 10 đến 13cm, để nguyên đoạn rễ (cả rễ cũng có mùi thơm), những chùm rễ trắng còn vương chút đất. Rau mùi không bao giờ thiếu trên quầy rau thơm, mẹt rau góc chợ, gánh hàng rong gánh phố trưa khê ngủ hay lúc buông chiều.

Như những loài cây gieo trồng bằng hạt, cây mùi có thời gian sinh trưởng ngắn, chẳng khi nào người trồng nhổ hết. Những luống mùi già, cao chừng bằng hai gang tay chi chít những quả nhỏ như hạt đỗ, cũng ngào ngạt mùi hương, như lá, như thân mùi. Đây chính là thứ “đặc sản” không thể thiếu trong những ngày Đông giá hay khi he hé Xuân về. Những vùng ven đô hay bãi phù sa sông Hồng quanh năm trở mình mùa vụ, vào độ cuối năm lại thơm một mùi thơm toả lan và khoáng đạt. Mùi của hoa, của đủ thứ rau thơm, mùi của phù sa ngàn năm bồi lở, mùi lá và hoa mùi cắt mình lên khơi luống lan chảy vào không gian trong giác quan cảm xúc của người.

Từ lâu lắm rồi, người phụ nữ Việt Nam vẫn gội đầu bằng bồ kết. Quả bồ kết nướng thơm, cho vào nồi đun sôi có thể đum thêm cả vỏ bưởi, rồi gội với chanh. Các cô cầu kỳ thích gội lá hương nhu hay đun nước cỏ mầm trầu cho tốt tóc, lại rắc thêm vài bông hoa bưởi vào độ tiết Xuân. Thời hiện đại, có biết bao loại dầu gội đầu: Sunsilk, Pantene, Essential, Enchanteur, Sifone, Clear, Head and Shoulders, Lux, Lifebouy, Mỹ Hảo, Daso.. nhưng bồ kết và hương lá mùi vẫn là loại “dầu gội” tốt nhất cho tóc, hiển lộ xuyên thời gian bằng việc vượt qua một cách ngạo nghễ bởi sự yêu thích của các cô, các bà. Mùi hương xuyên qua những thế kỷ như một trong những biểu hiện của đồng bằng Bắc bộ, của văn minh lúa nước sông Hồng, của chốn thôn làng qua bao biến thiên vẫn giữ được phong tục cổ truyền, đất lề quê thói.

Những cô gái đua nhau cắt tóc tém mà tôi thấy, bỗng nhiên lại nuôi tóc dài. Dường như mái tóc dài vẫn là mốt của mọi thời đại, người con gái nuôi tóc dài, để thấy mình nữ tính hơn trong gợi cảm mềm mại, dịu dàng. Nhìn những cửa hiệu gội đầu, những đầu tóc được chăm sóc bởi những ngón tay mơn trớn, bỗng thèm được thấy cảnh bến nước giếng làng…

Cây đa, bến nước, sân đình là ba hiện diện của làng quê vùng đồng bằng ngàn năm, nơi phản ánh đời sống tụ cư, tính cộng đồng gắn kết của người nông dân với quê hương, xứ sở. Hình ảnh những cô thôn nữ mặc yếm ra bến làng gội đầu chiều tất niên, bỗng thấy như huyền thoại, khiến ta như trở về ấu thơ với niềm tin một ngày được gặp những cô tiên giáng trần thường tắm gội vui đùa rồi thay xiêm y mới. Còn những-cô-tiên-tóc-đen trong tiềm thức ấy của tôi, thì đang bay khắp trần gian suốt mùa Xuân cùng hương lá và hoa quả quyến rũ. Quyến rũ, với những cảm giác thánh thiện, mơ mộng và ngọt ngào hơn tất cả những loại nước hoa đắt tiền, sang trọng. Tắm tất niên bằng nước đun với lá mùi gắn với tâm thức người Việt như một nghi thức tất yếu.

Người muốn tắm gội nước lá hoa mùi, đã được thoả mãn vào cữ tháng Mười, nhưng hầu hết tất cả mọi người đều thấy cần phải tắm gội thứ nước ấy vào chiều cuối cùng của năm (âm lịch). Cùng với việc dọn dẹp trang hoàng nhà cửa, ai cũng muốn thân thể mình sạch sẽ. Và nước lá hoa mùi, không chỉ cho người ta được sạch sẽ, gột rửa bụi trần, mà còn được tắm rửa tinh thần, để cả tâm hồn và toàn thân thể được tinh khiết, thơm tho, thanh thản trong cảm giác bay bổng, yên bình. Mùi hương của mùi ngấm vào thịt da, như thể con người vừa làm nghi lễ cho mình. Tôi cho rằng việc tắm gội lá mùi chiều ba mươi Tết là nghi lễ thuộc về văn hoá tinh thần. Nó tồn tại không nhất thiết phải hiện hữu trước mắt, mà trong ý nghĩ, hồi ức và hoài niệm của chúng ta. Hoài niệm về những cái còn, cái mát. Như những ngôi nhà cổ cuối cùng và những bức tranh phố cuối cùng còn lại ở Việt Nam của Bùi Xuân Phái. Như những khuôn mặt già nua của các bà hàng xén, hàng rau với mẹt rau có những mớ rau thơm bé xíu “lướt” vào chiều không gian xa ngái khi mà các siêu thị đang tới tấp mọc lên. Như bóng dáng ông đồ viết câu đối mừng năm mới. Như tiếng pháo nổ giòn trong truyện, thơ và ký ức…

Người với người gần nhau hơn, thân ái hơn, khi tắm lá mùi mùa Xuân và hương thơm làm người ta tĩnh tâm sau bao mệt mỏi của cuộc mưu sinh và vòng quay bon chen, tham vọng… Hình như khi một cô gái mang hương lá mùi trên thân thể, ai cũng muốn gần cô hơn. ý thức bản năng và giới tính trước mùi hương gợi cảm và tinh khiết, được bao bọc bởi niềm đam mê thanh sạch.
Tôi như thấy các mẹ, các bà trẻ lại, khi tắm gội nước lá mùi và hong tóc trước sân. Những sợi lá mùi vương vào mái tóc nhiều muối tiêu của bà gội xanh người về thời son trẻ.

Tôi vẫn tin ở sự bền vững của những tình yêu lớn lao và cao cả. Như vẫn sung sướng với niềm tin vào nghi lễ tắm gội lá mùi, một nghi lễ linh thánh gắn kết vĩnh viễn những cặp uyên ương, những cặp vợ chồng mãi là người yêu của nhau nhờ mùi hương vượt qua mọi giới hạn khi phu thê quấn quýt tắm gội cho nhau bằng nước lá mùi, để tình yêu không bao giờ có tuổi, lại thăng hoa trong cảm xúc tươi mới, hồn nhiên, đằm thắm vô bờ.

V.T.L

http://hoingovanchuong.wordpress.com/2007/05/25/h%C6%B0%C6%A1ng-la-mui-vi-thuy-linh/



trả lời


Bông Hồng Cho Em


Andrew X. Phạm



BIO

Male, single. Birthplace: Saigon, Vietnam 1967

Since I was a child, I had always thought that I would become a painter, but I was a dreamer and had a penchant for sky gazing. My father was a software engineer, so I became an aerospace engineer (UCLA, 1990).

After a brief stint as an aircraft engineer, I realized that I was inherently unfit for cubicle work. I quit my job to pursue an M.B.A. and an M.S. in Engineering; however, graduate schools could not dispel my restlessness. At last, I abandoned my studies, and, saddled with debts, I tried my hand at writing for a living. I dabbled in technical writing and editing and spent several wonderful years as a starving artist while working as a restaurant critic for a local newspaper.

It has been a long arduous road, filled with dark abysses, marvelous heights, gut-rotting doubts, exquisite joys, heartbreaks, memorable feasts, and long stretches of hunger. The view ahead seems to promise more of the same.

But I have enjoyed the journey immensely. There is some truth in the old proverb: The rewarding path is never easy, the easy path never rewarding.

Along the way, I’ve held a dozen different jobs and lived in eight cities scattered across four states. I have been traveling and living abroad since 2002.

In a way, I have become a painter of sort. Medium: words on paper. Subject: life as I see it.



BOOKS

My Travel Memoir:
Catfish and Mandala: A Two-Wheeled Voyage Across the Landscape and Memory of Vietnam, (Hardcover, FSG, 1999; Paperback, Picador, 2000; ISBN-10: 0312267177). After three years of struggling as starving writer, I set out for an adventure on a $250 bicycle, a year of riding in four countries. The book deals with family issues, identity, and reconciliation.

My Father’s Life:
The Eaves of Heaven: A Life in Three Wars, (Hardcover, Harmony, Random House, June 2008; ISBN-10: 030738120X). This book was conceived from years of talking and emailing with my father about his life and early childhood. I felt that it was important to preserve the views and experiences of his generation.

Translation:
Last Night I Dreamed of Peace: The Diary of Thuy Dang Tram, by Dr. Thuy Dang Tram, translation by Andrew X. Pham and Thong V. Pham, (Hardcover, Harmony, Random House, Sept. 2007; ISBN-10: 0307347370). A gorgeous, strange, noble, and heart-wrenching diary. I’ve shed more than a few tears while translating it.

Notables: Kiriyama Prize , Whiting Writer Award, Quality Paperback Book Prize, the Oregon Literature Prize, Guggenheim Fellowship, National Book Critics Circle Finalist, Guardian Prize Shortlist Finalist, a New York Times Notable Book of the Year, a Barnes & Noble Discovery Book, and a Border’s Original Voices Selection.

***
Eaves of Heaven (Tạo Hóa Xoay Vần) - Andrew X Phạm

23/09/2008

Tạo Hóa Xoay Vần (MP3 4.55 MB) - Nghe trực tiếp trên mạng (MP3)
Tạo Hóa Xoay Vần (MP3 4.55 MB) - Tải xuống (MP3)


Trong mục điểm sách do Ðào Trung Ðạo phụ trách kỳ này, chúng tôi xin giới thiệu cùng quí thính giả tác phẩm Eaves of Heaven - Tạo Hóa Xoay Vần của nhà văn Mỹ gốc Việt Andrew X. Phạm

Tạo Hóa Xoay Vần là truyện kể cuộc đời một thanh niên trí thức Việt thuộc thế hệ 30X sống trải qua ba cuộc chiến tranh từ thập niên 40s đến cuối thập niên 70s, những cuộc chiến tranh liên tục đã biến đất nước cũng như những gia đình Việt Nam thành những mản vụn. Nhưng giữa những thảm kịch đổ nát đó hình ảnh người phụ nữ Việt vẫn tồn tại như biểu hiện của tình yêu, sự hy sinh và niềm hy vọng

Mời quí vị bấm vào đường dẫn để nghe chương trình này.

http://www.voanews.com/vietnamese/archive/2008-09/2008-09-23-voa31.cfm

***


Catfish and Mandala
Andrew X. Phạm


Lời nói đầu

Bà Ngoại kể cho tôi nghe là một tu sĩ Phật Giáo người Việt đã chấm tử vi cho Chi ngay lúc chị mới sinh ra vào năm Dần là chị sẽ tự vẫn vào năm chị băm hai tuổi . Cả bọn tụi tôi ngôì trên chiếc giường của Ngoại trong căn phòng mà Chi đã tự treo cổ chết . Người ta đã đem sợi dây thừng đi rồi , nhưng tro nhang vẫn còn vương trên thảm và mùi nhang khói nguyện cầu vẫn còn đọng cứng ở trong phòng . Bà Ngoại ôm tay tôi , hỏi nhỏ xem tôi có muốn đọc tử vi của tôi không . Cũng cùng một vị tu sĩ ấy đã chấm tử vi cho tôi hai mươi bảy năm về trước . Ngoại ấn vào ngực tôi một cuộn giấy ố vàng , nhăn nhúm, tả tơi , cột bằng sợi nhau màu đỏ . Tôi nhìn cuộn giấy cũ mà lại mang một quyền uy đến từ một nơi nào thật xa xôi mơ hồ . Tôi thưa với Bà : " Dạ Không " . Sau đó tôi xin nghỉ việc ; và leo lên xe đạp đi về vùng sa mạc Mễ Tây Cơ .

Đọc tiếp: http://forums.vietbao.com/topic.asp?TOPIC_ID=28690&whichpage=1



trả lời


Bông Hồng Cho Em


Hải Việt & Hải Nam



"Năm trước khi có biến cố 911 xảy ra, nhà tôi có lần hỏi hai cháu lớn lên sẽ làm gì thì Nam bảo sẽ làm nhân viên cấp cứu paramedic cứu người bệnh hoạn, còn Việt bảo muốn làm lính cứu hỏa fire-fighter leo lầu xông pha vô cứu người bị kẹt lửa cháy, khi đó toàn trường mấy cháu được học về các gương anh hùng cảnh sát và nhân viên cứu hoả bên New York. Phần khác hai cháu có học thêm võ thuật thiếu lâm, nên các huấn luyện viên lúc nào cũng nhắc nhở những kỷ luật của võ sinh như giúp người, gan dạ và khiêm tốn. Tôi nghỉ đây là những yếu tố mà thanh niên rất cần cho cuộc sống...."
(Tôi cần một người Cha - Việt Hải)
http://vandandongtam.net/index.php?view=story&subjectid=1343&chapter=1

Cháu Hải Việt có làm một video clip như special project nộp cho trường học qua lời intro của cháu. Project phản ảnh ý thích của cháu. Hai cháu Hải Việt và Hải Nam được GPA 4.0 liên tục từ lớp 1 đến hiện nay (high school). Cả hai có đam mê võ thuật, 2 cháu theo hoc Kung Fu va Vovinam, còn muốn học thêm môn Wushu nữa. Khi còn nhỏ, Hải Nam thích những cú đá thần tốc và đẹp mắt của Jean Claude Van Damme, Hải Việt thích lối đánh tếu lâm nhào lộn của Jackie Chan hay xử dụng nhị khúc (nunchaku) của Bruce Lee.
Ngoài ra, Hải Việt chơi trong team basketball của trường, Hải Nam thích bơi lội, kỹ thuật scuba-diving.
Mời xem một video clip về 2 cháu.



Hải Việt & Hải Nam:
http://www.youtube.com/watch?v=ZbahJRiR5Eo



trả lời


Bông Hồng Cho Em


chuyển giao



thời cha mẹ oằn vai khốn khó
con khát thèm ngủ giữa nôi xanh
những lời hát ân tình thuở nọ
mong mai còn nơi đó, mái tranh!

con muốn ôm ngọn nghành tuổi nhớ
ghì yêu thương vào giữa lòng đời
chuyện cổ tích ngàn đêm nức nở
đừng bao giờ kể nữa, mẹ ơi!

cha cũng thôi ngừng buông tiếng vỡ
vào giữa thơ trầm khúc bi ca
thắp giùm con thật hồng ánh lửa
xuyên dòng đêm thiêu rụi xót xa!

con đang viết những lời hùng tráng
thay dòng thơ nứt rạn của cha
chữ nghĩa con sẽ như viên đạn
bắn vỡ lòng dối trá ngày qua!

hoa rừng trên mộ đời quá khứ
mai con thay bằng đoá hồng tươi
những di chứng anh hùng bất tử
chuyển giao sang trang sử rạng ngời!

Cao Nguyên



trả lời


Bông Hồng Cho Em


Tuổi Trẻ Hải Ngoại Ra Mắt Nhà Xuất Bản ‘Kết Ðoàn’

by Tuyết Mai

Virginia.- Hội Thanh niên, sinh viên "Kết Ðoàn" vùng Hoa Thịnh Ðốn đã tổ chức buổi ra mắt nhà xuất bản "Kết Ðoàn" vào lúc 2 giờ chiều ngày 7 tháng 5, tại Mason District Government Center , Annandale, VA. Kết Ðoàn là một hội trẻ gồm các thanh niên , sinh viên các đại học vùng HTÐ, Maryland và Virgnia, một trong những mục tiêu của hội là phát triển và bảo tồn văn hóa dân tộc. Ðể thực hiện mục tiêu này hội thành lập nhà xuất bản "Kết Ðoàn" , xuất bản Tạp Chí "Kết Ðoàn và đôi khi tổ chức giới thiệu văn thơ do các bạn trẻ thanh niên, sinh viên sáng tác.

Trong phần mở dầu, sau lời chào mừng quan khách, Cô La Hồng Lý Hội Trưởng Hội Kết Ðoàn cho biết việc hoàn thành một tạp chí có rất nhiều thử thách, từ việc xin tiền để xuất bản đến việc xin bài và mất rất nhiều thời gian để phát họa và trình bày. Cô rất hãnh diện là từ ngày Hội Kết Ðoàn được thành lập đến nay, hội đã thực hiện được nhiều công tác như tổ chức trại Hè, tổ chức tuyễn lựa Hoa Hậu "Nét Ðẹp Lạc Việt", nhưng điều quan trọng, đáng vui mừng hơn hết là dưới sự chịu khó của thi sĩ trẽ Võ Hoàng Anh Phúc, Hội dã xuất bản được bốn tạp chí "Kết Ðoàn" với nhiều bài vỡ thi văn tiếng Việt do các hội viên trẽ sáng tác. Ðây là một việc mà tuổi trẻ Việt Nam nên cố gắng để duy trì và giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc.

Cô La Hồng Lý nói tiếp, Hội Kết Ðoàn muốn thực hiện nhiều ước mơ trong đó có việc mở nhà xuất bản "Kết Ðoàn", những ước mơ này chỉ có thể thực hiện được với sự đóng góp của quý phụ huynh, quý vị mạnh thường quân và đồng hương. Cô ước mong được quý đồng hương tận tình gíup đở để hội có phương tiện duy trì truyền thống văn hóa tốt đẹp như tôn chỉ của hội đã đề ra.




Xem tiếp: http://www.ketdoan.org/?act=news&id=986&pid=71



trả lời


Bông Hồng Cho Em


Tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại và Cách Mạng Internet

(Trích: tham luận Đại Hội Văn Hóa và Truyền Thông – Tampa Hoa Kỳ 3-7-1998)


Trần Trung Đạo ký tặng sách


Trần Trung Ðạo quê quán Duy Xuyên Quảng Nam. Cựu học sinh Trung Học Duy Xuyên, Trung Học Trần Quí Cáp, Hội An. Cựu sinh viên Kinh Tế, Vạn Hạnh và Luật, Sài Gòn.

Vượt biên bằng đường biển năm 1981, tạm trú tại trại Palawan, định cư tại Mỹ trong cùng năm. Học điện toán tại Wentworth Institute of Technology và Boston University. Kỹ sư điện toán cho một công ty đầu tư tài chánh tại Boston.
Khởi động các sinh hoạt văn hóa, tuổi trẻ trong mạng lưới Internet từ cuối thập niên 80.

Ðóng góp tích cực vào nỗ lực xây dựng các phong trào trẻ tại hải ngoại từ đầu thập niên 90 đến nay. Thuyết trình về các chủ đề tuổi trẻ tại các cộng đồng Việt Nam, các hội nghị nhân quyền, đại học, tổng hội sinh viên, trại hè.


*****

... Cuộc cách mạng điện toán đã giúp các thế hệ Việt Nam vượt qua các khó khăn đó và Internet thật sự đã trở thành một chiếc cầu quan trọng nối liền khoảng cách giữa các thế hệ Việt Nam hải ngoại trong nhiều lãnh vực. Trong năm năm qua, không ít nhà văn nhà thơ quen thuộc ngoài Internet có cơ hội tiếp xúc hay làm việc trong môi trường điện toán, ý thức vai trò quan trọng của Internet, nên đã tìm cách nối liền hai sinh hoạt văn chương cũ và mới, trong và ngoài Internet. Một vài đóng góp đáng cho giới trẻ biết ơn và kính trọng như trường hợp nhà thơ Du Tử Lê trong nỗ lực đưa các tác phẩm của ông sang Anh Ngữ, dịch giả Hoài Văn Tử phiên dịch Lục Vân Tiên, Chinh Phụ Ngâm sang Anh Ngữ.

.....


Tuổi trẻ hải ngoại, phát xuất từ căn bản giáo dục Âu Mỹ, lớn lên với những khái niệm mơ hồ về lịch sử dân tộc mình, nguồn gốc văn hóa của chính mình, của quê cha đất tổ mình. Họ nhìn lên tìm kiếm một ngọn hải đăng chỉ để thấy ở đó là một vùng đầy bóng tối của tranh chấp, của phân hóa ngay giữa những các bậc cha chú họ. Cũng vì thiếu người dẫn dắt, con đường tìm về nguồn gốc văn hóa Việt của các em là một con đường mờ căm, xa xôi và đầy gai góc. Xin các bậc cha mẹ chú bác, đừng đợi tuổi trẻ tìm đến quý vị, hãy đứng đậy đi về phía tuổi trẻ, gõ cửa tâm hồn họ, thắp lên ngọn lửa niềm tin và hy vọng trong lòng họ, đi cùng với họ trên đường tìm đến suối nguồn văn hóa dân tộc. Các tổ chức cộng đồng cũng nên có các ủy viên đặc trách về Internet, đặc trách về khoa học kỹ thuật và nhất là đặt nặng việc phát huy văn hóa dân tộc trong các sinh hoạt cộng đồng cũng như trong khuôn viên đại học.

....

Mỗi thế hệ Việt Nam có những nhiệm vụ lịch sử để hoàn thành. Thế hệ của cha anh có những nhiệm vụ mà cha anh phải thực hiện và thế hệ trẻ cũng có những nhiệm vụ mà lịch sử đang chờ đợi họ. Học lịch sử không phải để phê bình, oán trách nhưng để làm lịch sử. Tuổi trẻ Việt Nam đang chôn dấu những suy tư về đất nước vào trong một ngăn kín của tâm hồn họ. Nếu quý vị có chiếc chìa khóa để mở cánh cửa tâm hồn của tuổi trẻ, quý vị sẽ khám phá ở đó một kho tàng quý giá của những tài năng dân tộc. Kho tàng đó sẽ là những vốn liếng và tài nguyên quan trọng để xây dựng lại căn nhà Việt Nam tự do dân chủ và giàu mạnh sau nầy.

Cái chìa khóa đó không cần phải vay mượn của ai, không phải tìm đâu xa, nhưng ở ngay trong truyền thống đạo đức, văn hóa của dân tộc chúng ta. Đó chính là tinh thần yêu nước, cần cù, thông minh, nhân bản, khai phóng mà tất cả người Việt Nam đã được kế thừa.

Trần Trung Đạo

Xem trọn bài viết:http://www.trantrungdao.com/?p=201



trả lời


Bông Hồng Cho Em


Tâm tình về “Tuổi Trẻ Ngày Nay”



Thảo luận với các bạn trẻ tại trại hè Kết Đoàn
chủ đề Tuổi Trẻ Ngày Nay Washington DC 8-9-03

Trần Trung Đạo

Các em thân mến.

Tuổi Trẻ Ngày Nay có thể là các em sinh ra sau cuộc chiến Việt Nam và sinh ra ngay trên nước Mỹ tự do này. Bức tranh thời thơ ấu của các em là một giòng sông màu xanh đầy hy vọng, không gợn lên một chút sóng, không bị khuất che bởi một áng mây mù. Tuổi đầu đời của các em được vỗ về bằng những câu chuyện thần tiên, bao giờ cũng chấm dứt bằng đoàn tụ, bằng hạnh phúc, bằng niềm vui, qua giọng kể nhẹ nhàng trầm ấm của cố tài tử Will Roger trong chương trình Mister Roger và Neighborhood nổi tiếng của ông. Các em lớn lên bằng những bình sữa tươi đầy đủ chất bổ dưỡng được các hãng Kroger, H.P. Hood chọn lọc kỹ càng. Các em đến trường có xe đưa rước, có cha mẹ đón chờ ở trạm xe mỗi ngày bằng vòng tay rộng mở và hai tiếng “con tôi” bao giờ cũng ngọt ngào, trìu mến. Và hôm nay các em đang học trong những trường đại học tốt nhất nước Mỹ.

Tuổi Trẻ Ngày Nay cũng có thể là những em vốn sinh ra ở Việt Nam. Các em có một thời thơ ấu nhiều tiếng khóc hơn nụ cười. Một số trong các em có thể đã từng lang thang trên hè phố Sài Gòn, Cần Thơ, Đà Nẵng, để lượm từng chiếc vỏ đạn, từng bao ny-lông, từng tờ giấy vụn. Các em đã một thời chịu đựng đói khát trong những căn nhà tranh không vách ở khu kinh tế mới Đồng Xoài, Sông Bé. Các em lớn lên khi cha phải còng lưng trên những chiê’c xe xích-lô già như tuổi của cha, khi mẹ phải ngày đêm buôn tảo bán tần. Thế hệ của các em cũng là thế hệ của những thuyền nhân tí hon, một thời trôi bình bồng theo sóng nước biển Đông trên những thuyền gỗ nhỏ, sống lây lất trong các trại tỵ nạn khắp vùng Đông Nam Á. Ngày nay các em đã lớn và đang ngồi trong các trường đại học Mỹ. Ký ức của tuổi thơ thường mau quên và những khó khăn thời thơ ấu thường cũng dể nguôi ngoai. Các em đang có cơ hội xây dựng lại cuộc đời sau những dở dang, mất mát. Tuổi hoa niên sẽ không bao giờ trở lại nhưng ít ra những chương sách trong cuộc đời còn lại của các em, chắc chắn sẽ đẹp hơn, nhiều hy vọng hơn những chương buồn đau trong quá khứ.

Dù rơi vào trường hợp nào trong hai trường hợp nêu trên, các em, thế hệ thứ nhất người Mỹ gốc Việt vẫn phải đương đầu với nhiều khó khăn. Các em đang đứng giữa hấp lực của xã hội và quy cũ của gia đình, của nếp sống Âu Mỹ phóng túng và truyền thống Á Đông nghiêm khắc. Nhưng dù khó khăn đến đâu, dòng văn hóa dân tộc, khi mãnh liệt, lúc âm thầm, vẫn tiếp tục truyền đi từ thế hệ nầy qua thế hệ khác. Tuổi trẻ hải ngoại dù chịu đựng nhiều mất mát cũng đã không ngừng học hỏi và giữ gìn những gì họ có. Từ Châu Mỹ đến Châu Âu, Châu Úc, nơi nào có người Việt Nam sống là nơi đó văn hóa Việt Nam được thể hiện, nơi đó sức sống của dân tộc Việt Nam bừng dậy. Nhìn từ phía tiêu cực chúng ta có thể nghe hàng trăm chuyện buồn, nhưng nếu nhìn từ phía tích cực, lạc quan chúng ta cũng có thể thấy hàng trăm mẫu chuyện hết sức cảm kích và vui mừng về những thành công của tuổi trẻ Việt Nam. Tuổi trẻ hải ngoại ngày nay như những con chim đang sải cánh trên bầu trời tự do. Tuy nhiên, so với các bạn cùng lứa tuổi với các em còn đang ở Việt Nam, các em là thế hệ nhiều may mắn. Bởi vì, trong khi các em đang sống êm ấm ở đây, bên kia bờ đại dương là một đất nước đói nghèo. Các em không phải chứng kiến cảnh mùa đông rét mướt mỗi năm, ở An Giang, Mộc Hóa, Cần Thơ, Rạch Giá, hàng ngàn đứa bé Việt Nam không có một chiếc quần đùi để mặc. Các em không phải chứng kiến hình ảnh một bà mẹ dang đôi tay ốm yếu che ấm cho bốn đứa con không quần áo trong một chòi tranh ngập nước ở miền Tây. Các em không phải chứng kiến hình ảnh của những đứa bé sơ sinh bị bỏ rơi trong thùng rác bên ngoài những nhà hàng sang trọng, những khách sạn 5 sao. Và các em không phải chứng kiến hình ảnh những bà mẹ sắp hàng chờ bán máu để kiếm tiền mua sữa nuôi con ở các ngân hàng máu Sài Gòn, Đà Nẵng. Và bao nhiêu cảnh đau lòng khác, như một cuốn phim bi thảm, mỗi ngày trong suốt 28 năm qua vẫn tiếp tục chiếu trong căn nhà bất hạnh và nghèo đói Việt Nam, căn nhà tranh có chiếc cỗng được sơn bằng sáu chữ rất đẹp “Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc”.

Xem tiếp : http://www.trantrungdao.com/?p=82



trả lời


Bông Hồng Cho Em


Union of Vietnamese Student Associations of Southern California






Organization Overview
The Union of Vietnamese Student Associations of Southern California (UVSA), a 501(c)(3) non-profit, non-partisan, community-based organization, was founded in 1982 as a mean for youths to organize socially and politically within the local community. Committed to cultural awareness, educating youths, and community service, the UVSA staff is composed of volunteers including UVSA alumni, young professionals, educators, and college and high school students. Encompassing the finest young leaders in the Vietnamese American community, UVSA strives to accomplish its goals of educational, charitable, and cultural programs.

Servicing the Vietnamese American community of Southern California, UVSA works collaboratively with local Vietnamese American youth organizations in the Southern California area. To these ends, we organize a wide range of social, cultural, political, and educational activities to help Vietnamese American youths develop a sense of their heritage and identity.

Our organizational goals include:



Bringing together students from different colleges and high schools to build unity and solidarity between Vietnamese American youths in Southern California, in the United States, and in the international Vietnamese community.
Representing the diverse and dynamic Vietnamese youth population by encouraging interaction, participation, and activism in the Vietnamese American community.
Promoting awareness of the Vietnamese culture, language, and history.
Encouraging a growth of leadership and service amongst Vietnamese youths.


***
Xem hình ảnh và video do Tổng Hội Sinh Viên thực hiên :
http://www.thsv.org/multimedia.aspx



trả lời


Bông Hồng Cho Em


Tường trình về đề án trong chương trình Vietnam-Diapora của Trung Tâm William Joiner :

Người viết trẻ trong Văn học Việt Nam hải ngoại tại Bắc Mỹ qua điện báo Internet: tồn tại, hội nhập và tương lai.

Nam Dao






Văn học Việt Nam hải ngoại nói chung, và tại Bắc Mỹ nói riêng, trong mười năm qua có những nét đặc thù so với những cộng đồng văn hóa của nhiều sắc tộc di dân khác. Ðó là :

· Thứ nhất, số lượng tạp chí văn học đang lưu hành rất lớn so với số người gốc Việt. Chúng ta có thể kể các tạp chí in ấn như Văn, Văn Học, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21, Việt, Thơ, Chủ Ðề, Phố Văn, Non Sông, Khởi Hành, Nhịp Sống... Những tạp chí này thường mỗi năm ra từ 2 (Thơ, Việt), 4 (Chủ Ðề), 6 (Hợp Lưu) đến 12 số ( Văn, Văn Học), mỗi số trung bình từ 160 trang (Văn, Văn Học), đến 280-320 trang (Việt, Thơ, Hợp Lưu), và ấn hành cỡ 500-1000 ấn bản một lần.

· Thứ nhì, sự xuất hiện của nhiều tờ điện báo từ khi Liên mạng Internet trở thành thông dụng. Chúng ta có thể kể Văn Học Nghệ Thuật liên mạng, Văn Nghệ Ngàn Phương, Suối Nguồn, Nhánh nhỏ, Hồn Quê, Tạp chí Thi Văn, Bút nhóm Ngàn Thông ... và các nhóm hội luận văn học như Quán Văn Nghệ, Diễn Ðàn Ô Thước... Những tờ điện báo[1] này thường tương đương cỡ 200 trang in, ra định kỳ một lần mỗi 1 hay 2 tháng.

· Song song với số lượng báo chí văn học là sự xuất hiện của những người viết ‘‘ trẻ ’’. Mươi năm trở lại đây, họ đang dần dần thay thế thế hệ những người viết ‘‘cũ’’, trở thành một hiện tượng đáng quan tâm.



Ðối tượng của dự án nghiên cứu trình bày sau đây là những người viết trẻ trong dòng Văn học Việt Nam hải ngoại. Trong dự án này, họ được qui định như những người tuổi dưới 45, có tác phẩm trong 5 năm trở lại đây, thường xuyên phổ biến trong các tạp chí văn học dưới dạng điện báo. Chúng tôi tập trung vào Bắc Mỹ, nơi cộng đồng Việt Nam đông đảo nhất, và cũng là nơi qui tụ được phần lớn những sinh hoạt văn hóa và văn nghệ.


Xem tiếp:http://amvc.free.fr/Damvc/Nam%20Dao/TapVan/NguoiVietTreVNTaiBacMy.htm#_ftn1#_ftn1



trả lời


Bông Hồng Cho Em


Ngày Khai Mạc Trại Họp Bạn Thế Giới HĐVN Thẳng Tiến IX



http://www.youtube.com/watch?v=eYGhLyRW3nc&feature=channel

Tóm lược LỊCH SỬ PHONG TRÀO HÐVN

1930
Trưởng Trần Văn Khắc thành lập đoàn Lê Lợi, đơn vị Hướng Ðạo đầu tiên, tại Hà Nội

6-1932
Ðoàn Lê Văn Duyệt được thành lập tại Saigon

1933
Tổng Cục Hướng Ðạo Nam Kỳ thành hình và xuất bản tập chí Hướng Ðạo

1935
Thành lập hội Hướng Ðạo Trung Kỳ.
Trước đó nhiều đơn vị được thành lập tại Vinh và Huế

1935
Trại họp bạn toàn quốc đầu tiên 'Huynh Ðệ' tại Saigon với 500 trại sinh

1936
Trại huấn luyện trưởng đầu tiên tại Ðà Lạt

1937
Thành lập Liên Hội HÐ Ðông Dương

1938
Trại trường Bạch Mã khai giảng khóa Thiếu và khóa Tráng

1940
Trại họp bạn Rừng Sát tại Bắc Ninh (Bắc Việt)

1941
Họp bạn Ðông Dương (Bắc, Trung, Nam, Ai Lao va Cao Miên) tại Huế

1942
Trại họp bạn Quảng Tế tại Bắc Việt

8-1944
Trại họp bạn Tráng sinh tại Qua Châu & Bảy Miếu

1945
Vì tình trạng chiến tranh và phân hóa, nhiều đơn vị tan rã, sinh hoạt của hội HÐVN bị ngưng trệ

1947
HÐVN tham dự Họp Bạn Thế Giới lần thứ 6 tại Moisson (Pháp)

1950
Nỗ lực hồi sinh Hội HÐVN tại Hà Nội

1954
Trụ sở của Hội HDVN được đổi vào Saigon sau hiệp định Genève

1955
Trại Dự Bị Tráng tại Tùng Nguyên (Dalat)

8-1956
Trại trường Hồi Nguyên (Bảo Lộc) khai giảng các khóa Dự Bị Ấu, Thiếu và Tráng

4-1957
Hội Nữ HÐVN được thành lập

1957
Hội HÐVN đư(r)c nhận làm hội viên chính thức của Tổ chức HÐTG

1958
Trại trường Tùng Nguyên (Ðà Lạt) khai giảng khóa BR Tráng đầu tiên

1959 :
HÐVN tham dự Họp Bạn Thế Giới lần thứ 10 tại Makiling (Philippines)

12-.1959
Trại họp bạn quốc gia 'Phục Hưng' tại Trảng Bom với 2500 trại sinh

1966
Hội Nữ HÐVN được nhận làm hội viên chính thức của Tổ chức Nữ HÐTG

1969
Họp bạn Tráng sinh tại (Ðà Lạt)

1970
Trại họp bạn quốc gia tại Suối Tiên (Thủ Ðức) kỷ niệm 40 năm HÐVN

1971
HÐVN tham dự Họp Ban Thế Giới lần thứ 13 tại Nhật bản

1974
Trại họp bạn quốc gia 'Tự Lực' tại Tam Bình Gia Ðịnh

5-1975
Do sự thay đổi chế độ chính trị, HÐVN bị ngưng hoạt động

7-1983
Hội Nghị Trưởng tại Costa Mesa (Hoa Kỳ) thành lập HÐTU/HÐVN

8-1985
Trại họp bạn 'Thẳng Tiến' tại Jambville (Pháp)

8-1988
Trại họp bạn 'Thẳng Tiến II' tại Everton (Canada)

7-1990
Trại họp bạn 'Thẳng Tiến III3' tại Santa Cruz (Hoa Kỳ)

8-1993
Trại họp bạn 'Thẳng Tiến IV' tại Le Breuil (Pháp)

1994
Trại huấn luyện Tùng Nguyên 2 tại California

12-1995
Trại họp bạn 'Thẳng Tiến V' tại Gleenfield, Sydney (Úc) với sự hiện diện của
Tr. Chủ Tịch HÐTG và Tr. Giám Ðốc Vùng Á châu & Thái Bình Dương của HÐTG

8-1996
Trại huấn luyện Tùng Nguyên 3 tại Gilwell Park (Anh quốc) với 139 trại sinh

6-1998
Trại họp bạn 'Thẳng Tiến VI tại Lake Fairfax Park, Virginia (Hoa Kỳ)

7-2000
Trại Họp Bạn Kỷ Niệm 70 năm HDVN tại San Jose, California, Hoa Kỳ

6-2001
Trại huấn luyện Bằng Rừng Tùng Nguyên IV (BSA) tại Camp Tanah-Keeta, West Palm Beach, Florida

6-2002
Trại họp bạn 'Thẳng Tiến VII. Houston, Texas, Hoa Kỳ

11-2002
Khóa huấn luyện truyền thống I tại Pháp

04/2003 Khóa huấn luyện Truyền Thống II tại Úc Đại Lợi.
11/2003 Khóa huấn Luyện Truyền Thống III tại Pháp.
12/2003 Khóa huấn luyện Truyền Thống IV tại California, Hoa Kỳ


07/2004 Hội Nghị Quốc Tế Trưởng HĐVN tại Florida, Hoa Kỳ.

http://www.hdvietnam.net/hdtu/index.html



trả lời


Bông Hồng Cho Em


CÁC TRUNG TÂM VIỆT NGỮ NAM CALIFORNIA
THE ASSOCIATION OF THE VIETNAMESE LANGUAGE
& CULTURE SCHOOLS OF SOUTHERN CALIFORNIA


Khóa Huấn Luyện & Tu Nghiệp Sư Phạm Kỳ XIX Hè 2007


Hằng năm, Ban Ðại Diện Các Trung Tâm Việt Ngữ Nam California (BÐDCTTVN.NC) tổ chức Khóa Huấn Luyện & Tu Nghiệp Sư Phạm (HL&TNSP). Trong thời gian qua, BÐDCTTVN.NC đã tổ chức được 18 Khóa HL&TNSP, mỗi khóa có khoảng hai trăm khóa sinh. Ðây là công việc rất thiết thực và hữu ích trong phong trào giảng dạy Việt Ngữ, bảo tồn và phát huy văn hóa Việt Nam mà BÐDCTTVN.NC đã cố gắng tổ chức liên tục và đều đặn.
Theo tinh thần Thông Báo của BÐD vào ngày 28 tháng 5 năm 2007 (được phổ biến trên Cali Weekly), Khóa HL&TNSP Kỳ 19 hè năm 2007 với chủ đề “Cội Nguồn Ta Trong Tiếng Nói Việt Nam” được tổ chức trong 3 ngày 27, 28 & 29 tháng 7 năm 2007 trong khuôn viên đại học Orange Coast College (OCC), 2701 Fairview Rd., thành phố Costa Mesa, California.
Khóa HL&TNSP được sự cộng tác nhiều giáo sư đã giảng dạy tại các đại học Sài Gòn, Ðà Lạt, Huế trước năm 1975, nhiều giáo sư giảng dạy tại các đại học Hoa Kỳ hiện nay tại CSU Long Beach, CSU Fullerton, UC Irvine, UCLA, UC San Diego, OCC, Goldenwest College, Coastline và các học giả, nhà văn, nhà báo hằng quan tâm đến việc bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc tại hải ngoại. Thành phần Ban Giảng Huấn năm nay với nhà văn Phạm Quốc Bảo, GS Trần Huy Bích, GS Quyên Di, GS Trần Ngọc Dụng, TS Trần Mỹ Duyệt, Chánh án Nguyễn Trọng Nho, GS Nguyễn Lâm Kim Oanh,, GS Bùi Vĩnh Phúc, GS Nguyễn Hữu Phước, BS Nguyễn Xuân Quang, thầy Ðặng Ngọc Sinh, nghệ sĩ Chí Tâm, GS Phan Tâm, GS Trần Minh Tâm, Cô Lê Gia Thuận, nhạc sĩ Hồng Trang, GS Trần Chấn Trí, thầy Văn Tường...
Nội dung chương trình gồm hai phần Huấn Luyện & Tu Nghiệp; trong đó phần Huấn Luyện chiếm nhiều đề tài hơn để khóa sinh áp dụng trong việc giảng dạy. Và, mỗi năm có thay đổi một số đề tài để các khóa sinh đã tham dự khóa học trước có cơ hội tham gia khóa sau.
Gần 200 thầy cô ở Hoa Kỳ, Canada và Nhật Bản đã tham dự trong Khóa HL&TNSP nầy. Nhờ sự quảng bá của các cơ quan truyền thông, năm nay, danh sách các Trung Tâm, Trường nhiều hơn các năm trước, gồm có: Trung Tâm Văn Hóa H Hồng Bàng, TT VH Việt Nam, Liên Ðoàn Hướng Ðạo Quang Trung / Ngọc Hồi, TT Giáo Dục Thế Hệ 2000, TRung Tâm Việt Ngữ (TTVN) Ánh Sáng - San Diego, TTVN Dũng Lạc, TTVN Giáo Lý St Lucy - Long Beach, TTVN Huệ Quang - Richmond, VA, TTVN Lac Việt - San Diego, TTVN Minh Ðức, TTVN Nữ Vương Việt Nam - Ontario, TTVH Hồng Bàng, Trường Việt Ngữ (TVN) Trùng Dương, TVN & GL Phanxico - CÐ Thánh Giuse - Vista, TVN Calgary - Canada, TVN CD Costa Mesa, TVN CÐ Ðức Mẹ LaVang - Miami, FL, TVN CÐ Thánh Linh - FV, TVN C? Westminster, TVN Cơ Ðốc, TVN Cộng Ðồng VN New Mexico, TVN Ðắc Lộ - Seatle, WA, TVN GÐPT Pháp Vân, TVN GX Ðức Mẹ Ban Ơn Lành, TVN Hai Bà Trưng - Rosemead, TVN Thánh Tôma Trần Văn Thiện - New Orleans, TVN Hai Bà Trưng - San Diego, TVN Hội Thánh Tin Lành Escondido, TVN Huyền Quang - TX, TVN Chùa Văn Thù, TVN Kitô Vua - Ft Worth, TX, TVN Nguyễn Bá Tòng, TVN Phan Bội Châu - Anaheim, TVN Phổ Ðà, TVN Saddleback, TVN San Fernando, TVN Tam Biên - Garden Grove, TVN Tiếng Mẹ - Arizona, TVN Trí Ðức/ Chùa Quan Thế Âm - San Jose, TVN Tustin, TVN Văn Lang - Portland, OR, TVN Van Lang - Westminster, TVN Về Nguồn - Ventura, TVN Về Nguồn - San Jose, Viet Language & Culture of UCLA, Westminster High Shool...
Ðặc biệt, trong Khóa HL&TNSP nầy có hai khóa sinh Nhật Bản trong trang phục truyền thống với bộ kimono, cô Kitayama Natsuki trước đây đã theo học tại đại học ở San Diego và đã tham dự Khóa Khóa HL&TNSP trong năm 2005 với cô Takahashi Kayoko. Natsuki cộng tác tại NGO Vietnam in Kobe. Kobe thuộc tỉnh Hyogo, và Ban giáo dục tỉnh nầy hỗ trợ chương trình giáo dục tiếng mẹ đẻ cho các em gốc nước ngoài. Cô đã tham gia trong Hội Trẻ Em Tokkabi (tổ chức NPO) xuất bản sách học tiếng Việt để giảng dạy. Cô Ari Nakano dạy tại Trường ngoại ngữ Keio ở Ðại học Văn khoa Wasda, rất thông thạo tiếng Việt, đang dịch tác phẩm bằng tiếng Việt sang Nhật ngữ.
Lễ Khai mạc được diễn ra vào chiều thứ sáu, 27 tháng 7 tại giảng đường của trường OCC theo nghi thức truyền thống để phù hợp với chủ đề mỗi năm, chủ đề năm nay là Cội Nguồn Ta Trong Tiếng Nói Việt Nam. Cũng như mọi năm, GS Quyên Di chủ trì nghi lễ trong buổi khai mạc. Sau nghi thức chào cờ Việt Mỹ và Lễ Dâng Hương, đại diện các khóa sinh mang hai chậu trúc tượng trưng cho tinh thần nhà giáo, “tiết trực tâm hư”, ngay thẳng, trong sáng và ba bình nước tượng trưng cho ba dòng sông ở ba miền đất nước: sông Hồng, sông Hương và sông Cửu Long, đứng bên cạnh bàn thờ Tổ Quốc. Mọi người hiện diện trong giảng đường lần lượt cầm cành hoa cắm vào bình nước. Slide show trình chiếu hình ảnh những di tích lịch sử và địa danh của ba miền, vang vọng ca khúc Hội Trùng Dương của nhạc sĩ Phạm Ðình Chương.
Thầy Nguyễn Văn Khoa (Chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị BÐDCTTVNNC) giới thiệu tất cả khóa sinh của Trung Tâm, Trường ở Hoa Kỳ và hải ngoại. Ðây cũng là dịp để các khóa sinh được quen biết nhau trong bầu không khí vui tươi và thân mật.
Thầy Vũ Hoàng, Chủ tịch BÐDCTTVNNC, trưởng ban tổ chức, tuyên bố khai mạc và ngỏ lời cảm tạ quan khách cùng quý thầy cô hằng quan tâm, dấn thân trong phong trào giảng dạy tiếng Việt cho con em tại hải ngoại. Tiến sĩ Phạm Thị Huê, GS Orange Coast College, nói về tầm quan trọng của cội nguồn dân tộc trong công việc bảo tồn văn hóa và phát huy tiếng Việt cho thế hệ con em đang hội nhập trong xã hội hiện tại ở hải ngoại hiểu được truyền thống văn hóa Việt Nam và ngôn ngữ của đất nước mình. GS Lưu Trung Khảo, Chủ tịch Hội Cựu Giáo Chức VN Nam California, khái quát về truyền thống văn hóa Việt Nam và vẻ đẹp trong tiếng Việt.
Trưa thứ Bảy, 28-7, trong buổi ăn trưa, khóa sinh tham dự sinh hoạt văn nghệ, giải trí trong khung cảnh thiên nhiên ở khuôn viên OCC, nghệ sĩ Chí Tâm, nghệ sĩ Nga My và Trần Lãng Minh, nhà thơ Ngô Văn Quy trình bày và diễn giải, rất sinh động và hữu ích.
Năm nay, Ðêm Chia Sẽ không tổ chức tại hội trường OCC mà được thực hiện ở nhà hàng King Harbor Sea Food, thành phố Garden Grove. Gần 400 quan khách và khóa sinh tham dự, GS Quyên Di và cô Diệu Quyên điều khiển chương trình. Vừa văn nghệ giải trí vừa là dịp để quan khách và khóa sinh tâm tình, chia sẻ với nhau trong công việc giảng dạy, vấn đề duy trì và bảo vệ văn hóa dân tộc.
Trưa Chủ Nhật, 29 tháng 8, trong buổi ăn trưa và sinh hoạt văn nghệ như trưa thứ Bảy, do nhạc sĩ Nguyễn Châu và Ðoàn văn nghệ Lạc Hồng trình bày và diễn giải.
Chiều Chủ Nhật, 29 tháng 8, Lễ Bế Mạc, sau phần nghi thức, ban tổ chức đúc kết tổng quát những điều ghi nhận được và trao chứng chỉ hoàn tất Khóa HL&TNSP Kỳ XIX. Ngỏ lời trước quan khách và khóa sinh, thầy Vũ Hoàng quá xúc động, không cầm được nước mắt khi nói về sự hy sinh của quý thầy cô với thiên chức và tấm lòng vô vụ lợi để cùng nhau đóng góp trong Khóa HL&TNSP nầy.
Trong Ðêm Chia Sẻ đã trình chiếu slide show về hình ành Lễ Khai Mạc và trong Lễ Bế Mạc cũng trình chiếu lại những hình ảnh đã qua, như món quà lưu niệm.

Trước giờ chia tay, quan khách, ban tổ chức và khóa sinh cùng hát bài ca giã từ và đi nhiuề vòng chung quanh hội trường.
Từ khi lưu vong ở hải ngoại, các thầy cô đã dấn thân trong công tác dạy tiếng Việt, trải qua hai thập niên các thầy cô mong ước phong trào nầy được phổ biến và lan rộng. Và, tại Nam California. Ban Ðại Diện Các Trung Tâm Việt Ngữ được hình thành nhằm tạo môi trường thuận lợi, tổ chức Khóa HL&TNSP để các thầy cô nắm vững được phương thức giảng dạy. Hiện nay, ở các Trung Tâm, Trường Việt ngữ có nhiều thầy cô trẻ xuất thân từ các lớp học tiếng Việt. Ðây là điểm son trong và đáng khích lệ cho thế hệ kế tiếp dấn thân.
Trog những năm qua, Ban Ðại Diện Các TTVN Nam California đã ấn hành bộ sách Giáo Khoa Việt Ngữ từ cấp Mẫu Giáo đến cấp Sáu và sẽ ấn hành cấp Bảy trong năm nay. Bộ sách nầy có trên 130 Trung Tâm, Trường... ở hải ngoại giảng dạy.

Vương Trùng Dương

http://www.caliweekly.com/sinhhoat/Khoahl&tnsp19.htm



trả lời


Bông Hồng Cho Em


Tuổi trẻ Việt Nam và Cộng Đồng

Madison Nguyen

Trước hết tôi xin bày tỏ lời cám ơn chân thành Ban Tổ Chức và các thành viên ban Chấp Hành Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại đã mời tôi tham dự buổi buổi họp mặt ngày hôm nay. Tôi được yêu cầu phát biểu về sự tham gia của giới trẻ trong cộng đồng chúng ta. Đề tài này tôi nghĩ không những đáng chú ý mà còn hợp thời nữa. Tôi khởi đầu bằng con đường tự nguyện làm công tác từ năm 14 tuổi và tới nay vẫn tiếp tục. Xin cám ơn quý vị cho tôi chia xẻ một vài quan điểm của tôi.

Đêm đã thật khuya, qua khung cửa sổ mở, có một sợi dây kết bằng khăn trải giường thả xuống. Chúng tôi chạy tránh màn mưa và mặt chúng tôi đầm đìa nước mắt. Lênh đênh trên những con thuyền thô sơ trên mặt biển sóng gió để trốn khỏi sự độc tài, đi tìm tự do. Đó là hình ảnh những người trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt chúng ta. Trải qua ba thập niên, cộng đồng Việt Nam vẫn tiếp tục phát huy và bồi đắp nếp sống sinh động Hoa Kỳ tại đây và đồng thời họat động không ngừng nghỉ để bảo tồn nền văn hóa, tổ chức cộng đồng, tiếng nói chính trị và tính nhân bản.

Khi lần đầu tiên chúng ta đến xứ sở này, vấn đề định cư thật là cấp thiết. Trên con đường ổn định, chúng ta phải tìm một việc làm chắc chắn, hoc Anh ngữ và bảo đảm là con cháu chúng ta học học ở những ngôi trường có giá trị nhất. Chúng ta hoạt động như thế là do bản năng cơ bản của con người. Chúng ta sẵn có một tinh thần sinh tồn và làm việc hăng say để hòan tất mục tiêu của chúng ta. Hôm nay đây chúng vừa tiếp tục qua cơn thử thách gay go và vừa xây đắp một nền móng vững chắc. Chúng ta đang xây dựng một nền văn hóa, hợp nhau lại để phát triển một cộng đồng vững mạnh, đoàn kết dưới một danh nghĩa: Cộng đồng Việt Nam.

Cộng đồng Việt Nam thường được nhậïn diện bằng nhìn cái nhìn khác nhau. Từ những giới trí thức có nền học vấn cao cho đến những thương nghiệp chuyên môn, đến những người họat động dấn thân, chúng ta mong có cơ hội để học hỏi,chia xẻ và trao đổi ý kiến với nhau. Thêm nữa, điều làm tăng niềm tin là vì chúng ta phải xa đất nước, chúng ta đã xác định được thế đứng trước xã hội, chính trị và văn hóa trong công tác tự nguyện và phục vụ cộng đồng. Với một tổ chức như Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngọai với nhiều Trung Tâm và Ủy Ban khắp Hoa Kỳ, Pháp, Úc, Gia Nã Đại tiếp tục đóng một vai trò tích cực để kết hợp nhau lại.

Là một người Mỹ gốc Việt trưởng thành, mẹ tôi luôn luôn nhắc nhở tôi một câu: “Là một người không phải người da trắng, con phải làm việc gấp đôi họ để được bình đẳng với họ”. Tôi thực hiện quan niệm này nhiều lần suốt thời non trẻ và cho đến bây giờ ý tưởng đó đã thấm sâu vào đời sống trưởng thành của tôi. Là một người họat động cho cộng đồng nhiều năm, tôi thấy rằng vẫn có sự bất bình đẳng và thiếu thăng bằng trong việc chia xẻ quyền lực về kinh tế, xã hội và chính trị trong xứ sở này. Tuy nhiên, điều tôi không chấp nhận cho rằng chúng ta chỉ là một nhóm dân nhỏ bé, không thể thay đổi được gì cả. Bao lâu chúng ta còn thiếu nguồn lực thì chúng ta vẫn còn chưa có khả năng tiến tới, chúng ta thiếu người đại diện đúng mức dù cộng đồng Việt Nam là một tổ chức tranh đấu đòi hỏi những thay đổi xã hội và hợp hiến.

Người ta thường tin rằng không thể tạo được sự thay đổi do một nhóm nhỏ cá nhân hoặc là do giới trẻ, vì họ cảm thấy thiếu tài năng cần thiết, thiếu kinh nghiệm để lãnh đạo. Ngược lại, tôi tin rằng vào thời đại mới sự lãnh đạo phải tạo ra được thay đổi ở đại học và trong các cộng đồng địa phương, sơ khởi hướng dẫn bằng những người trẻ có trình độ đại học, họat động tích cực, xuất phát từ từ những tổ chức, cộng đồng nhỏ bé. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta đã chịu ngưng ở đó.

Xem tiếp: http://vwa-pen.org/vanhoa/SHvanhoa-080804/TuoiTreVN.htm



trả lời


lên trên