1, 2  >                 Tác Giả và Tác Phẩm                 <<< tìm >>>                 BÀI MỚI . muc luc . vào



Sau Lưng Cuộc Chiến




sau lưng cuộc chiến

Thưa các anh chị em văn thi hữu bốn phương, trong giao tình văn học, hãy cùng với Cao Nguyên gởi vào chủ đề này những sáng tác làm hiện hình cái tầm vóc hùng tráng của một Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mà chúng ta đã dự phần chiến đấu vì Tự Do, Bác Ái, Nhân Quyền . Bảo vệ Quốc Gia và Chính Nghĩa .
Đồng thời nhận chịu một thảm nhục bi thiết phải tan rã, phải giam mình trong ngục tù Cộng Sản, phải thất tán lưu vong!!!Nhưng mãi mãi mong một ngày Việt Nam hồi sinh: thanh bình, bác ái, tự do, dân chủ và thịnh vượng.
Sự có mặt của những nhân chứng xác tín về Quân Sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ có giá trị vĩnh viễn trong hành trình giữ và dựng nước của một Dân Tộc.
Qua những sáng tác của mỗi nhân chứng sau một thời gian góp lại, chúng ta sẽ sắp sếp theo từng chủ điểm của tác phẩm (tạm lấy tên là “SAU LƯNG CUỘC CHIẾN “), với dàn bài gợi ý qua bài thơ “dựa lưng nỗi chết” :

dựa lưng nỗi chết


dựa lưng Người, dựa lưng nỗi chết
nghe Người về kể tiếp chuyện thời qua
thơ tôi viết lời phù sa trộn máu
gởi ngàn sau thiên trường sử lệ nhòa!

chương thứ nhất - viết về bia mộ
từ những gốc cây, vách đá ven rừng
lưỡi lê khắc thấm sâu dòng chữ:
"Người Lính Cộng Hòa Vệ Quốc Vong Thân!"

chương thứ hai - viết nỗi lòng thiếu phụ
ôm xác chồng ru ngủ giấc thiên thu
dưới ánh hỏa châu, dưới bóng cờ vàng rũ
nước mắt Người mãi chảy, chảy về đâu!

chương thứ ba - viết trước cửa ngục tù
theo tiếng thét thoát qua vòng xiềng xích
lời ngân vang qua biết mấy đời người
về một thời quê hương buồn phế tích!

chương thứ tư - viết theo lời sóng biển
chuyện đoàn người vượt nguy hiểm trùng dương
đi tìm tự do, xa xóm làng vĩnh viễn
vì bạo quyền đang hủy diệt tình thương!

chương thứ năm - viết di ngôn huyết sử
của những anh hùng bất tử Việt Nam
khi ra đi vào hành trình quyết tử
chữ nghĩa Núi Sông nhắn nhủ cháu con!

dựa lưng Người, dựa lưng nỗi chết
thơ viết tròn chương kết - cuộc hồi sinh
thời lưu vong gian nan rồi sẽ hết
vào một ngày Non Nước Việt quang vinh!

Cao Nguyên

Ngoài những sáng tác của những thân hữu mà CN quen biết, sẽ xin trích lại một số sáng tác của các văn thi sĩ khác mà CN và các anh chị thấy cần nên đưa vào tác phẩm vừa làm giàu tính văn học, vừa làm giàu nguồn sử liệu . Mong rằng các các văn thi sĩ có bài được trích đưa vào tác phẩm thuận tình chấp thuận vì lợi ích chung . Dĩ nhiên, trong điều kiện có thể liên lạc với văn thi sĩ để xin phép được trích bài thì càng tốt .

Rất mong các anh chị em văn thi hữu hưởng ứng dự án ước mong này .
Trân trọng,
Cao Nguyên .


@@@

Góp Ý về Tuyển Tập

Để quí anh chị và các bạn nhìn rõ hơn hướng đi của Tuyển Tâp. CN nhật tu vào đây những GÓP Ý từ quí anh chị và các bạn liên quan đến tuyển tập. Đây cũng là tài liệu tham khảo cần được quan tâm cho những bước đi kế tiếp với mục đích và nội dung của tuyển tập.

1/ Góp ý của anh Song Thuận:
Cùng anh Cao Nguyen va cac ban,

Toi nghi day la mot du anh lon, tuy nhien ta co the cat ra tung phan. Thi
du
tap 1: noi ve doi song Hau Phuong khi tieng sung no vang troi.
tap 2: noi ve canh buong sung ..., di tu cai tao
tap 3: canh vuot bien
tap 4: doi song o trai ti nan voi nhung du tinh tuong lai
tap 5: khi moi toi My (hoac cac nuoc Tay Au...) dinh cu.
Tap 6: doi song ti nan va con cai lon len.
Tap 7: niem dau ve To Quoc
Tap 8: ve huu, ta lam gi?
Tap 9: The he 2,3...

Song Thuan

2/ Góp ý của anh Bùi Xuân Cảnh:

Kinh gui anh Cao Nguyen,
Toi lay lam vinh du duoc cac anh em moi cong tac. Toi se viet theo kha nang cua minh. Ve cai dan bai anh phac thao, toi rat dong y. Nhung toi co y kien la chung ta se khong gioi han bat ky de tai nao. Chung ta se viet theo dan bai da phac thao, nhung cung viet bat ky bai nao theo cam xuc cua chung ta ve cuoc chien nua the ky, tan dan hai nuoc, voi ket cuc bi thuong. Cha` ! cong viec nay xem ra se hoanh trang va do xo biet chung nao! Chung ta cu viec viet theo cam hung. Chung ta se gom gop, xem xet cac bai viet, va neu can, chung ta se dat ra cac de muc moi. Dan bai co' khi nhu mot chiec ao mo+'i, dep, nhung khong chac da vua voi suc lo+'n cua dua con tinh than cua chung ta. Hay bat dau bang nhung cai gi chung ta da co. Khi khoi dau thi cai dan bai phac thao cua anh la mot tieu chi can co de chung ta huong toi, nhung nhu toi da xin gop y, chung ta se noi rong, sua doi neu can.
Toi cung nghi: Hung Su Viet khong chi la Van Nghe, Tho, Phu. Trong tam la Su Viet. Lich Su Viet ma chung ta dinh ta^m se viet, chinh la lich su cua giai doan bi tham trong cuoc doi cua chung ta. Chung ta co tham vong ghi lai dau tich mot thoi binh lua, mot thoi nhieu nhuong, mot thoi voi nhung doi thay kinh khiep ma tien nhan ta chua tung trai qua. Ghi lai duoc bao nhieu la tuy tai nang va kinh nghiem cua chung ta. Hay lam phan viec nho be cua minh de gop chut cong vao viec ghi lai Lich Su Oai Hung va bi thuong cua giong gio^'ng Viet. Mot lan nua, xin cam on cac anh em ve cam tinh muon moi toi gop suc.

BXC

Cám ơn anh Song Thuận và anh Bùi Xuân Cảnh về ý kiến chung: mở rộng nội dung và phát triển tuyển tập về sau này.
Nếu được vậy thì quá tốt, chỉ e mình không đủ nhân lực và tài lực để thức hiện. Trừ khi có sự đồng tâm góp sức của quí anh chị về việc "Biên Tập", về bài viết dành cho tuyển tập..., có sự trợ lực của quí Mạnh Thường Quân...
Theo ý CN, tạm thời thực hiện "sau lưng cuộc chiến" với phương tiện online như tuyển tập thơ "thao thức của Cao Nguyên đã thực hiện. Vừa để hình thành tổng thể tác phẩm, vừa vận động tác giả, mạnh thường quân yểm trợ cho chương trình văn học sử này.

Mong chờ những ý kiến khác của quí anh chị.
Trân trọng,
Cao Nguyên

VA Mar 2005



trả lời


Sau Lưng Cuộc Chiến


Tham gia vào tuyển tập:

Giữa giao điểm thời gian 2007 - 2008, Cao Nguyên mở cửa phòng sinh hoạt cho dự án thực hiện tuyển Tập Thơ Văn "SAU LƯNG CUỘC CHIẾN". Để tiếp bước cùng các Văn Nhân Thi Sĩ trên hành trình đi vào giòng Sử Việt oai hùng. Thế hệ Trẻ tiếp nối thế hệ Già giữ vững mạch núi sông và giòng giống Việt Nam. Bước tiếp bước từ những nhân chứng hiện diện trải qua cuộc chiến Giữ và Dựng nước chuyển lại Cháu Con một tổng thể bi tráng trong tầm nhìn của nhũng người trong cuộc trực tiếp hay gián tiếp dự phần.

Mời Quí Vị Văn Thi Hữu đóng góp ý kiến về chủ đề, về nội dung và hình thức tuyển tập.
Như trong phần giới thiệu, và tâm thư của Cao Nguyên. Tuyển tập gồm những nội dung như dự thảo. Tuy nhiên sau thời gian vận động, tùy theo số Thi Văn Hữu tham gia và số lượng cùng nội dung các Tác Phẩm nhận được. Sẽ phối trí tuyển tập theo nội dung để cân bằng tác phẩm hài hòa theo hình thức và khuôn khổ được đề nghị.

Mọi tin tức sinh hoạt Quí Vị và bài gởi vào tuyển tập,chuyển qua email bentrang06@yahoo.com hay điện đàm sẽ được cập nhật trên trang web này.

* Điều kiện tham gia vào tuyển tập:
Các Văn Thi Hữu nào thấy thích thú và có bài viết tương ưng với chủ đề đã nêu, đều được mời tham gia vào tuyển tập.
Là một việc làm tự nguyện vì lợi ích chung,tuyển tập được thực hiện qua sự đóng góp bài viết và đóng góp tiền in ấn, phát hành tuyển tập.(Sẽ có thông báo riêng)
Kể từ hôm nay, Cao Nguyên giới thiệu đến Quí Vị các Tác Giả tham dự vào Tuyển Tập.
Mỗi Tác Giả được giới thiệu với 1 bài Thơ hay 1 trích đoạn Văn.

* Gởi bài viết vào tuyển tập:
Với chủ đề đã nêu, các bài viết phải thực hiện theo 2 tiêu chuẩn chính:
- Tiếng Việt trong sáng và chuẩn mực, giúp thế hệ tiếp sau dễ hiểu và đánh giá được thuần chất ngôn ngữ Việt Nam.
Để giúp cho Ban Biên Tập đỡ mất thời gian đọc bài để sửa lỗi chính tả, các tác giả cần hoàn chỉnh tác phẩm trước khi gởi bài về Ban Biên Tập.
- Giữ tính sử liệu chân thật và khách quan.
- Mỗi tác phẩm được chọn in vào tuyển tập sẽ được thông báo đến các tác giả, và nhật tu trong phần Tác Giả và Tác Phẩm.

* Thời gian ghi tên tham gia và gởi bài:
- Ghi tên tham gia vào tuyển tập:
Thời hạn chót: Cuối tháng 2/2008.
- Gởi bài vào tuyển tập:
Thời hạn chót: Cuối tháng 5/2008

Trên đây chỉ là những điều lệ dự thảo. Cần sự góp ý của các Văn Thi Hữu để hoàn chỉnh bản điều lệ, nhằm nâng cao giá trị của các tác phẩm và tuyển tập.


Mong rằng ước mơ đầu năm sẽ được thực hiện tốt đẹp trong tinh thần hợp tác nhiệt tình của Quí Văn Thi Hữu.
Chúc Quí Vị và Thân Quyến Năm Mới Thân Tâm An Lạc.

Thay mặt Nhóm chủ biên
Cao Nguyên.



trả lời


Sau Lưng Cuộc Chiến


Tác Giả và Tác Phẩm

Bản Thông Điệp Tình Người

Vợ chồng người Việt Nam
Vào tham quan nghĩa trang Arlington
Nơi cải táng những liệt sĩ Mỹ Miền Nam thua trận
Trong thời chiến tranh Nam Bắc
Cách nay hơn một trăm bốn mươi năm.

Mấy trăm bia mộ sơn màu xanh
Xếp quanh tượng đài vòng cung
Nhìn xa như tòa nhà Quốc Hội

Trên đỉnh
Nổi bật hình một thiếu phụ quàng khăn sô
Tượng trưng cho các bà mẹ Mỹ Miền nam
Có con hy sinh trong phe lâm chiến
Chấp nhận thua cuộc, đầu hàng.

Dưới vách bệ tượng đài
Khắc nổi mấy vần thơ chữ Mỹ. Đại ý

“Ở đây chẳng có vinh quang hay tưởng lệ
Ở đây chẳng có binh đòan hay cấp bậc
Ở đây chẳng có tham vọng hay mưu cầu
Ở đây chỉ đơn thuần là nhiệm vụ
Những người nằm đây hiễu rõ
Họ phải trải qua gian khổ hy sinh
Liều mình và sau cùng là đã chết . . .”(*)

Xem chưa hết bài thơ
Người đàn bà Việt Nam bật khóc!
Người chồng rút khăn giấy chặm nước mắt vợ
Nhỏ giọng thì thầm an ủi

“Bình tĩnh chứ em . . .”

Người vợ bất hạnh nói một mình như rên rỉ
“Phải chi họ có chút tình người
Nghĩa trang Biên Hòa đâu bị đào bới đập phá
Mồ mả con trai mình đâu đến nỗi rời rã nát tan !”

Người chồng cắn môi, lắc đầu
Dằn một cơn đau vừa nhói lên trước ngục, bảo vợ

“Phải chi họ có tình người ư ?
Ảo tưởng làm gĩ để tự chuốc lấy thất vọng hở em!"

Bất giác ông đưa tay vịn lấy tượng đài
Mắt nhìn ra rừng mộ ngòai xa, rồi cất giọng như một diễn giả
Lời ông chẳng những làm người vợ nín khóc
Mà cả khách viếng nghĩa trang cũng im lặng đứng nhìn.

“ Em xem kìa !
Đây mới là bản thông điệp hòa hợp lịch sử của nước Mỹ
Họ viết thật kỷ, lâu dài , công phu và bằng mực tình người…
Viết từ tiếng kèn đón tiếp viên tướng tư lệnh Miền Nam
Phi ngựa đến doanh trại quân thắng trận Miền Bắc ký văn bản đầu hàng.
Bằng thâm tình của hai viên tư lệnh Bắc - Nam ôm nhau
Bằng binh sĩ thua trận không một ngày cải tạo
Bằng hằng ngàn nghĩa trang phía đầu hàng khắp nơi luôn được chỉnh trang . . .
Bằng tòan dân Mỹ đều hiểu rằng“Một người Mỹ bị nhục
Dù Mỹ miền Bắc hay Mỹ miền Nam, thì cũng là người Mỹ bị sỉ nhục . . .”

Ông cao hứng dịch luôn những tâm ý từ tim óc của mình ra tiếng Mỹ
Nhiều khách viếng nghĩa trang vỗ tay tán thưởng đồng tình . . .
Người chồng nắm tay vợ, ôm bó hoa hồng đứng lên
Nghiêng mình cám ơn . . .rồi đi chậm rãi đến từng ngôi mộ
Họ đặt lên mỗi vách bia một cành hoa . . .
Nắng đã lên. Gió xuân từ triền núi thổi ngang. Bầu trời ấm , mát.

Vợ chồng người Việt Nam đi sát vào nhau
Ông lại cất tiếng ngâm một đọan thơ thuộc lòng mà ông cho là bất hủ
(Của thi sĩ Thanh Nam dành cho tử sĩ Nghĩa Trang Biên Hòa)
Tiếng ông ngâm rất khẽ. Có lẽ chỉ dành riêng cho mình vợ ông
Một người mẹ Miền Nam Việt Nam mất con nghe . . .
Mà cũng có thể để cho hồn thiêng con trai ông nghe nữa!

“Ta như người lính vừa thua trận
Nằm giữa sa trường nát gió mưa
Khép mắt cố quên đời chiến sĩ
Làm thân cây cỏ gục ven bờ
Chợt nghe từ đáy hồn thương tích
Vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa” (**)

*

Bây giờ thì đến lượt người chồng
Âm thầm nuốt nỗi đau u uất . . .vào lòng!
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

SÔNG CỬU
__________________________________________________________

( ** Trích ở truyện “Bài Học Từ Cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ” của tác giả Giao Chỉ)



trả lời


Sau Lưng Cuộc Chiến


dòng thơ lưu vong

Người ta in thơ ra rồi mới bán
tôi bán thơ trước khi in ra
vì muốn biết còn bao người thích đọc
dòng thơ lưu vong viết gởi quê nhà

vì muốn biết bạn bè ở quanh ta
có bao nhiêu người mang nỗi lòng Do Thái
dựng trong tim một dãi Sơn Hà
sống ở đâu cũng nhớ về Đất Tổ


người ta in thơ ra rồi mới tặng
tôi tặng thơ trước khi in ra
vì muốn biết còn bao người say đắm
được ngắm mình trong ngôn ngữ Mẹ Cha

vì muốn biết giữa điệp trùng tiếng động
còn bao người nghe trầm sóng dòng sông
đang luân chuyển tấm lòng thơ mở rộng
vào mạch quê hương khát vọng tự do

*

sự chênh lệch giữa thơ mua và tặng
giá ước chừng hơn một tách cà phê
chữ để đọc hay chỉ là để ngắm
cũng bâng khuâng từ mỗi cuộc đi, về

người muốn mua thơ hay thích tặng
kẻ làm thơ cũng trân trọng cám ơn
vì đã biết còn tấm lòng cảm nhận
những yêu thương trên mỗi chặng căm hờn!

*

trân trọng viết hai chữ Việt Nam
nơi trang bìa của "dòng thơ lưu vong"
trên nền vàng của phi trường, cửa biển
nơi vẫy chào vĩnh viễn những tấm lòng

những tấm lòng đi viết thơ trên đá, cát
mỗi dòng thơ khao khát nghĩa hòa bình
viết mãi miết theo hành trình gió hát
những bài ca hùng tráng thuở bình minh!

Cao Nguyên



trả lời


Sau Lưng Cuộc Chiến


NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM CỘNG HÒA

* Tặng toàn thể Đồng Môn chiến hữu.
*Riêng tặng người lính N-D-CẬN,
*Họa Sĩ SMC, và Chị LINH ĐẮC
.


“ ĐÂY LÀ TIẾNG NÓI NƯỚC VIỆT NAM
PHÁT THANH TỪ THỦ ĐÔ SÀIGÒN...”
Cho đến nay, tiếng nói đó vẫn còn
Vang vọng mãi trong trái tim “Người Lính”
Là hình ảnh của một thời ổn định

Là tiền đồn của Thế giới tự do
Của miền Nam nước Việt rất ấm no
Là thành lũy mang hồn thiêng sông núi.

Người Lính ” trẻ đã một thời rong ruổi
Đem Tình Người, Tình Lính trấn biên cương
Vẫn một lòng chung thủy với quê hương
Dù oan nghiệt đời rẽ trăm ngã hướng.

“Người Lính” chúng tôi không Sinh Vi Tướng
Cũng hiên ngang chấp nhận Tử vi Thần
Trọn một lòng chỉ vì Nước, vì Dân
Dâng hiến cả đời mình cho Tổ Quốc.

Từ Quảng Trị rét căm mùa gió bấc
Đến Cà Mau mưa, lũ ngập đồng sâu
Vết giày saut lội bất cứ nơi đâu
Để mang lại Tin Yêu và Lẽ Sống.

“ Người Lính” chúng tôi mang trái tim hào phóng
Của tuổi đời đẹp nhất : lúc đôi mươi
Làm niềm vui nơi tuyến đầu lửa bỏng
Trong gian truân vẫn nồng ấm nụ cười.

Dù đôi lúc có hoang mang phẫn nộ
Hay chán chường vì dấu ấn chiến tranh
Nhưng nỗi buồn cũng tan biến rất nhanh
Khi đối diện với kẻ thù ngoài mặt trận.

Rồi cũng đến lúc chào thua số phận
Khi tàn vong đành nước mất, nhà tan
Vì thế cùng, lực tận phải sang bang
Thân nhược tiểu, xót thầm, ôi ngang trái.

“Người Lính” chúng tôi không hề chiến bại
Chỉ chào thua định mệnh đã an bài
Bởi cô thế đành nương thân hải ngoại
Chờ bình minh quang phục của ngày mai.


Huy Văn



trả lời


Sau Lưng Cuộc Chiến


Hòn Vọng Phu

“ Người vọng phu trong lúc gió mưa , bế con đã hoài công để đứng chờ. Người chồng đã đi bao năm chưa thấy về. Đá mòn nhưng hồn chưa mòn giấc mơ, có đám cây trên đồi gióng trông trong mơ hồ……”

Đã một thời có biết bao nhiêu người vọng phu ôm con chờ chồng trong mỏi mòn vô vọng. Cái thời đó, may thay đã đi qua .
Một ngày trên đường đi làm về, mở đài phát thanh 1600 AM, một nữ thính giả đang gọi lên kể chuyện của mình. Giọng người đàn bà mềm mại nhưng trĩu nặng nước mắt, có lúc chừng như nghẹn ngào không nói được.’’ Năm 75 VC chiếm vào, chồng tôi bị đi cải tạo. Lúc đó tôi còn rất trẻ, mới lấy chồng được một năm và đang mang bầu đứa con đầu lòng được mấy tháng. Khi sinh đẻ tôi về nhà má ruột để ở, vì thật ra nhà bên chồng đối với tôi chưa quen thuộc, mà lại không có chồng ở nhà. Đứa con được sinh ra vào thời buổi khó khăn đủ thứ. Tôi phải bươn chải đi kiếm sống từng ngày mà chờ trông chồng về, vì họ nói đi cải tạo 10 ngày thôi, nhưng lúc đó đã hơn năm chẳng thấy về và chẳng biết ở đâu .
Sau đó được biết chỗ ở của chồng, tôi bồng con đi thăm chồng tuốt trên núi, đi mấy ngày mới gặp được mặt chồng. Đường đi khó khăn mà tay phải bế con, tay phải xách một ít đồ ăn mặn cho chồng . Gặp nhau không nói được gì vì lúc nào cũng có mặt bộ đội đứng canh. Khi về đến nhà bịnh hết mấy ngày, con thiếu sữa bú. Gia đình thấy cực khổ quá , khuyên tôi bỏ chồng cho rồi, nó là ngụy. Lại thêm trong gia đình có người đi tập kết về xúi vào, xúi ra. Tôi nhứt định không nghe theo, còn năn nỉ mấy người kia bảo lãnh cho chồng về sớm, họ dửng dưng nói để học tập cho tốt rồi về.
Gia đình cứ bắt tôi bỏ chồng hoài, nhưng tôi không thể làm chuyện ấy được. Chúng tôi lấy nhau vì tình yêu, hơn nữa khi chồng trong cảnh tù tội, cơm không đủ no, áo không đủ ấm, tôi chẳng thể nào làm chuyện vô lương tâm đó được.
Gia đình cứ chì chiết hoài, tôi quyết định ôm con ra khỏi nhà, sống riêng để lo cho chồng. Tôi chọn con đường khó khăn nhất với quyết tâm sắt đá nhất. Tôi phải nuôi và chờ chồng đến khi anh được về. Sống trong miền quê, ai mà không biết nhau. Những người tử tế thì cũng chẳng dám công khai an ủi mình, những người xu thời thì tha hồ xỉa xói nào là vợ ngụy quân, ngụy quyền. Khi con đi học lớp một đã bị cô giáo và bạn học gọi là con ngụy. Tôi phải gởi con để đi mua đi bán kiếm tiền nuôi con và dành dụm chờ có giấy thăm nuôi của chồng để đi thăm anh. Đi đâu cũng phải lên xã xin giấy đi đường, mỗi lần như vậy là phải bấm bụng chịu sự nhiếc mắng của những viên chức xã, mà trước năm 75 chỉ là những người làm thuê, ở đợ.
Cuối cùng chồng tôi cũng đuợc về trong thân tàn ma dại, xanh mướt vì sốt rét, mình đầy thẹo vì ghẻ lở.
Chồng tôi lại tìm đường vuợt biên. Tiền tôi dành dụm gom hết cho chồng. Vượt biên đến lần thứ 9, anh mới qua tới đảo. Lúc đó đã đóng cửa trại. Và chồng tôi đã ở đó 7 năm, sau đó tình nguyện trở về để được đi diện “Rô”. Khi chồng tôi cải tạo về chúng tôi có thêm 2 đứa con nữa. Cho nên khi chồng tôi ở đảo
7 năm, tôi cũng chỉ một mình nuôi 3 đứa con và một mình gánh hết gánh nặng lên vai. Tôi là người đàn bà ốm yếu, chưa bao giờ quá 32 ký.
Cuối cùng gia đình 5 người chúng tôi được đi Mỹ
Qua đây chưa được 5 năm chồng tôi mất vì bịnh ung thư. Tôi lại tiếp tục một mình lo cho con .”
Tiếng người đàn bà nghẹn lại tại đây. Cổ tôi cũng nghẹn, cố nén mà nước mắt vẫn trào ra.
Tiếng cô xướng ngôn viên cũng nghẹn ngào "dì làm cháu cũng phải khóc theo, cám ơn dì đã chia xẻ cùng thính giả của đài,và cho phép cháu được chia xẻ những đau buồn của dì cũng như của những người vợ đã một thời ôm con đợi chồng về như hòn vọng phu xưa trong sử sách, cám ơn dì ."
Chưa có một thời nào mà người đàn bà Việt Nam cao cả như thời đại sau ”giải phóng”
Trên tấm thân mảnh mai gầy còm, họ bỗng như tượng đồng vai sắt gánh hết những oan trái của một thời đại đen tối nhất .
Ngày xưa, người vọng phu còn có một tiền phương che chở cho họ, và họ chờ chồng ôm con trong trong một hậu phương đầy ắp tình đồng bào. Nhưng những người vọng phu sau 75 không may mắn như vậy, trước mặt là trùng trùng bóng tối, sau lưng là vực thẳm, chung quanh là hèn thù đê tiện. Ngay trong gia đình, đôi khi, không là chỗ dựa lưng êm ái, mà còn đẩy họ ra cho muôn vàn khó khăn dày xéo thêm lên.
Nếu để xây một bức tượng tôn vinh sự hy sinh, thì hãy xây một bức tượng người vợ việt nam. Nguời ấy đứng giữa hoang tàn đổ nát của lòng người, nhỏ những giọt nước mắt lên đám cỏ đã cháy khô vì hận thù. Hận thù của chiến tranh, hận thù của giai cấp, hận thù của ý thức hệ .
Nhưng dù sao, giọt nước mắt ấy, cuối cùng đã xanh lên mầm cỏ, đã nuôi con vào đời, đã mang con vào một tương lai sáng ngời nơi xứ nguời.
Nơi đây, xứ người, những đưá con lớn lên trong giọt mồ hôi nhục nhằn một thời của mẹ, đã trưởng thành, đã biết phân biệt đâu là chân lý, đâu là tà thuyết, đâu là giả trá đâu là chân tâm, đã biết yêu kính di sản trong tim của mẹ, của cha, những di sản đó có khi là một lá cờ cha từng đổ máu để bảo vệ, là một con đường cha đã từng đi. Di sản đó là văn hóa cha mẹ mang theo, là ngôn ngữ cho con tiếng nói đầu đời, là chữ Việt cho con gìn giữ .
Là một góc quê hương với cây quế, cây chanh mẹ trồng trong vườn, trái bí trái bầu, mẹ chăm sóc từng ngày, một góc quê hương mẹ mang theo để nhớ .
Trước khi xây tượng một người vợ việt nam, thế hệ thứ hai hãy xây tượng đài đó trong tim mình trước đã .

…”ngày nào tròn trăng lại nhớ đến tích xưa,
khi tướng quân qua đồi kéo quân quân theo cờ,
đoàn cỏ cây hãy còn trẻ thơ
đến bây giờ đã thành đoàn cổ thụ già ,
mà chờ người đi như mất từ ngàn xưa .
nàng đứng ôm con xem chàng về hay chưa …”

Hoàng Định Nam



trả lời


Sau Lưng Cuộc Chiến


Xuân Ly Hương


Lại một cái tết xa quê hương, lại một day dứt nhớ mong nơi xứ người... nơi nào đó Xuân đến, Tết về, nơi nào đó hoa mai, hoa đào nở rộ cánh, nơi nào đó có tiếng cười, có những lời chúc xôn xao, có những cái bắt tay mừng rỡ?... và nơi nào đó có ai ngồi đăm chiêu nhìn lại những năm tháng qua đi, cái dĩ vãng vừa lui lại đàng sau để nhớ đến người ở xa để ngậm ngùi, để tiếc nuối?...
Nơi đây mùa Đông hay mùa Xuân? sao cái giá lạnh cứ bám víu thịt da, cái lạnh xe thắt co ro trong những chiếc áo dầy cộm, cái lạnh hà hơi thành sương khói, cái lạnh cô đơn, cái lạnh muộn phiền...
Người người dắt díu nhau về bên kia đại dương, hồ hởi với những gì trước mặt, muốn quên đi tất cả nơi này để lao vào những cái tạm bợ trong chốc lát... Người nơi này dõi mắt trong theo, hay quay lại đằng sau để thấy những ngày xuân tươi đẹp thuở nào đã qua đi trên cuộc đời mình... Nhớ thương, bần thần đến không đủ tỉnh táo để nhớ, để biết rằng hôm nay là ngày mấy của bên kia bờ đại dương? Ngày mai là ngày gì bên kia đồi?... Cỏ bên kia đã xanh chưa hay còn đang héo úa? giòng sông xưa nước đã trong trở lại hay vẫn còn đục ngầu? Đôi mắt nào xám buồn đã tươi màu trở lại? Nắng có vàng để nhảy múa trên ngọn cây trên lối đi? và gió, gió có còn ghẹo hôn những mái tóc dài, có còn vui đùa với những tà áo lộng bay?... Tết, Xuân, cành mai, hoa đủ màu sắc tươi nở, bánh chưng, phong pháo đỏ, tất cả ở nơi nào? tất cả có day dứt mòn mỏi về một sự xa cách nào đó?
Lòng người buồn rười rượi, ly rượu nào ai mời đêm giao thừa? tiếng nhạc nào buồn rơi trong đêm để sáng ra đón được lời chúc nào cho năm mới? Những lời chúc đó liệu có chuyên chở được những ước mơ, hoài vọng của người ly hương, của người ở lại?...
Tất cả chỉ còn lại một tiếng thở dài... Một tiếc nuối...


Nguyễn Thị Tê Hát



trả lời


Sau Lưng Cuộc Chiến


CHIỀU THU BIÊN GIỚI


Mỗi bước đi xa, là mỗi lần tôi nghe âm vang của từng chiều thu đầy sương mờ, rơi trên những hàng thành quách cũ. Những hàng thành quách cũ, tự ngàn năm còn vang vọng cung đàn luyến nhớ hương xưa. Như lâu rồi, tôi đi trên chuyến đò xuôi giòng sông quê mẹ. Chợt nghe vang giọng hò lý chim quyên: “ Chiều chiều ra đứng bờ sau. Trông vời quê mẹ ruột đau chín chiều.” Như hôm nay, tôi đắm mình giữa chiều thu biên giới ở Nuevo Laredo, tưởng vẫn là hôm qua thấy mẹ về trong mùa gió chướng, vạt áo đầm đìa nước mắt nhớ chồng thương con suốt mười hai tháng của cuộc đời.

Laredo, thành phố nằm ngay biên giới Mỹ-Mễ. Bên kia là Nuevo Laredo, cái tên không khác mấy. Nhưng khi bước chân vừa đặt lên chiếc cầu phân chia tô giới, có nghĩa là ta đã thành du khách, đã đi sang một nơi không còn là Mỹ Quốc, đã phải đưa giấy thông hành, để nhân viên quan thuế nhận dạng, đã có cảm giác thương nhớ mênh mang, khi nhìn đàn chim bay lượn khắp khung trời. Và tiếng ngân nga bing boong..., vang lời kinh chiều rơi trên tháp chuông của ngôi giáo đường cổ kính, khiến tôi bàng hoàng nhận ra mình thật đã đi xa từ lâu lắm...! Cuộc lữ hành không ngừng nghỉ, suốt gần mười năm phiêu bồng đất khách. Như bánh xe pháp luân, đưa phận đời trôi trên bến luân hồi thương cảm. Để gió thu sầu thấm đậm dấu Si bémol, thẫn thờ biến tấu trên bản đàn chiêu hồn quá khứ.

Tôi lang thang dọc theo từng con đường nhỏ ở Nuevo Laredo. Nước mắt rơi đầy tâm tưởng, khi nhận ra phố xá nơi đây có cưu mang ảnh hình của thành đô quê cũ. Những cửa tiệm nhỏ, ngổn ngang hàng hóa. Những chiếc xe nước bán rong, đặt quanh lề đường đông người qua lại. Những chiếc kệ bé xíu, bày la liệt đủ món tạp nhạp trên vỉa hè...Quang cảnh ấy nói lên sự nhọc nhằn của những người một nắng hai sương, cố mong buôn may bán đắt để trả tiền thuê nhà đầu tháng, để mua sữa cho con, mua gạo cho mẹ, mua thuốc cho chồng...Nhưng muôn người hy vọng bán, mà không thấy vạn người hăm hở mua. Số cung nhiều hơn số cầu. Cán cân kinh tế, thật không thể tự tạo ra quả cân đồng lượng.

Mặc kệ hàng quán kề sát bên nhau. Mặc kệ những con người tội nghiệp, đăm đắm trông chờ quí khách. Đoàn người xuôi ngược chung quanh, cứ lầm lũi đi. Vì họ cũng đang đói cơm rách áo, cũng đang không biết tìm đâu ra tiền để sớm mai đưa con đi bác sĩ. Làm sao dám dừng chân uống chai nước mát, ăn một ly kem, hay mua món đồ chơi dù rất rẻ, cho đứa con bé bỏng vẫn luôn ao ước có.

Nhìn người phụ nữ cứ lau đi lau lại từng trái cam, từng trái táo, từng chùm nho trên xe hàng của chị. Tôi tưởng như chị cố lau chùi cát bụi ven đường, cố lau chùi thân phận cùng khốn có trong cõi người ta, với hy vọng khi tàn ngày xe hàng cũng vợi nửa, để có tiền sinh sống. Gió chiều nay buông tiếng than trên cành cây ngọn cỏ, sao nghe sắt se thống thiết. Bởi gió không nhà, nên gió than thân phiêu lãng. Hay bởi thu đã về, mà lòng người vẫn không ấm áp niềm tin tưởng, nên gió đành thương vay khóc mướn chỉ vì đời.

Tiếng lòng của gió ở Nuevo Laredo, tôi đã cảm nhận khi vừa khôn lớn. Năm 1975, lúc quê hương xảy ra chính biến, cha tôi đi vào trại học tập, một chuyến đi vĩnh cửu, không bao giờ về. Từ đó, trên cõi đời có thêm anh chị em chúng tôi là trẻ mồ côi. Từ đó, trên cõi đời có thêm mẹ tôi biến thành thân cò lặn lội. Để từng giòng nước mắt nhớ chồng chảy ngược vào lòng. Cho hồ lệ thương con đẫm ướt vạt áo sờn vai, suốt mười hai tháng của cuộc đời.

Mẹ tôi, giống như những người bán buôn dọc trên vỉa hè Nuevo Laredo, cũng đã phải chắt chiu đồng tiền ít ỏi kiếm được để mua thuốc cho con, mua gạo cho gia đình. Mẹ tôi cũng đã đăm đắm trông chờ quí khách ghé vào hàng quán, cũng đã kiên nhẫn lau chùi từng món hàng mình bán, với hy vọng khi chiều về quán hàng vợi nửa, để có tiền sinh sống qua ngày. Mẹ tôi cũng đã từng quay lưng, không dám nhìn con búp bê xinh đẹp được bày trong tủ kính, dù mẹ biết tôi, đứa con bé bỏng nhất nhà, vẫn luôn ao ước có.

Những điều tôi nhìn ra ở Nuevo Laredo, giống như một giòng đời đã rất xa xôi, khiến tôi lại thấy bóng tôi ảo hóa trong khúc quanh ngặt nghèo của thân phận. Ở đó, anh chị em chúng tôi là những cánh chim non mới ra ràng, đã bị sự đố kỵ của định mệnh, ném vào một khung trời đầy phong ba bão táp. Ở đó, mẹ tôi là hình ảnh thê lương của đời cô phụ, lấy giải khăn sô để tang chồng làm tín vật tình yêu, can đảm lướt trên đầu sóng ngọn gió mà đi, vất vả trăm chiều cố nuôi đàn con khôn lớn.

Để tôi hôm nay, đắm mình giữa chiều thu biên giới ở Nuevo Laredo. Tưởng vẫn là hôm qua thấy mẹ về trong mùa gió chướng, vạt áo đầm đìa nước mắt nhớ chồng thương con, suốt mười hai tháng của cuộc đời.

Hoàng Nhất Phương



trả lời


Sau Lưng Cuộc Chiến


Mờ dần đi

Tháng 11 mỗi năm, vào ngày quốc lễ Veterans' day, hội cựu chiến binh Hoa Kỳ tổ chức một buổi diễn hành tại trung tâm thành phố. Đây là dịp để tất cả cựu quân nhân thuộc mọi quân binh chủng đã từng tham chiến dưới ngọn cờ của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ gặp lại nhau, ôn lại một thời tuổi trẻ đã qua, nhớ lại các đồng đội đã hy sinh, mặc lại bộ quân phục đã phai mầu, cùng đi trên một đọan đường yên ả, không tiếng đạn bom mà nghĩ đến một đoạn đường chiến binh đã đi qua trong quá khứ.

Những ngừoi lính mái tóc đã không còn xanh, lưng đã không còn thẳng, diễn hành tại trung tâm thành phố San Jose, bắc California, không phải là hình ảnh của người lính trẻ còn oai hùng, hiên ngang, mà là hình ảnh của những chiến binh đã già, đã một thời oai hùng, hiên ngang. Họ là những cựu chiến binh.

Đại Tướng Douglas Mac Arthur đã 71 tuổi khi ông ra điều trần trước quốc hội Mỹ vào năm 1951. Đứng trước Tổng Thống và quốc hội Mỹ, ông trích dẫn một câu trong bài hát được sáng tác từ thời thế chiến thứ nhất:

- Người lính già không bao giờ chết, họ chỉ mờ dần đi.Câu trích dẫn nổi tiếng này, nay đã trở nên bất tử. “Old soldiers never die; they just fade awaỵ”

Những người lính được ông nhắc đến lúc ấy là những người lính đã hy sinh tuổi trẻ để bảo vệ quê hương, để phục vụ cho lý tưởng tự do của nhân loại trong thế chiến thứ hai. Thế giới khi đó, đang kinh hòang với những đoàn xe tăng của chủ nghĩa độc tài, phát xít, diệt chủng, đang cày nát Âu châu, những đòan quân SS đang tàn sát hàng triệu người Do Thái trong các trại tập trung, hàng trăm triệu người dân từ Âu sang Á đang điêu đứng.

Khi đổ bộ lên bờ biển Normandi của nước Pháp, hay khi nhảy dù xuống phòng tuyến của Đức Quốc Xã, họ là những người được cả thể giới trông cậy vào họ, và họ chỉ biết trông cậy lẫn vào nhau. “The world depends on them, and they depend on each other.” Họ có lúc đã chiến thắng, cũng có lúc đã chiến bại, nhưng rồi cuối cùng thế giới đã thóat khỏi hiểm họa Phát Xít, nhân loại an hưởng thái bình.

Thời thái bình không được bao lâu đã có những đám mây đen bao phủ.Hiểm họa cộng sản như vết dầu loang đang làm lở lóet địa cầu. Tại Âu châu, mảng đỏ cộng sản khởi đi từ nước Nga, chùm lấp xâm chiếm các lân bang, tạo thành liên bang sô viết, ở Á châu Trung cộng cho đòan quân chí nguyện cùng quân cộng sản Bắc Hàn ào ạt xâm chiếm miền Nam Hàn tự do. Không lâu sau đó, cộng sản Bắc Việt với cả khối thế giới cộng sản hết lòng hậu thuẫn và yểm trợ cũng đã gieo tang tóc cho hàng chục triệu người dân miền nam Việt Nam.

Những cựu chiến binh bảo vệ lý tưởng tự do trong 2 cuộc chiến ở Đại Hàn và ở Việt Nam để chống lại chủ nghĩa cộng sản cũng có lúc đã chiến thắng và cũng có lúc đã chiến bại, nhưng cuối cùng chủ nghĩa cộng sản, một vết nhơ của nhân lọai cũng đã bị đánh bại và lụi tàn.

Như thường lệ, hàng năm hội cựu chiến binh Hoa Kỳ đều mời hội cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa tham gia diễn hành.Các chiến binh đã một thời chiến đấu bên nhau, nay lại cùng chung đứng dưới quân kỳ như không bao giờ quên được thời tuổi trẻ tươi đẹp đã qua.Hai mươi năm chiến đấu bảo vệ quê hương, hai mươi năm ngăn chặn giặc thù, hai mươi năm mang hạnh phúc cho trẻ thơ khôn lớn, cho học sinh đến truờng, cho nông dân ấm no, cho thành thị phồn thịnh, cho một nền văn hóa nhân bản phát triển, những người lính Việt Nam Cộng hòa đã không ngại đổ máu xương, đã không ngừng hy sinh, những hy sinh vô bờ bến.

Và bây giờ thế giới lại đối diện với cuộc chiến chống khủng bố, để bảo vệ nền văn minh và an ninh thế giới. Cuộc chiến này đang được đặt trên vai những người lính thế hệ tiếp nối. Những người lính trẻ này đang ngàn dặm xa xôi trên chiến trường Trung Đông để bảo đảm cho cuộc sống an bình, tiện nghi, tự do, dân chủ và tiến bộ của chúng ta trên đất nước Hoa Kỳ. Không ít những người lính trẻ này là con em người Mỹ gốc Việt chúng ta.

Vâng người lính già chỉ mờ dần đi, họ không bao giờ chết, hình ảnh họ luôn hiện diện trong chúng ta, những người luôn luôn còn một món nợ phải mang với người lính chiến.

Nếu không có chồng đã là lính, đã chiến đấu, đã bị thương ngoài mặt trận, những vết sẹo còn khắc trên da, tôi sẽ không biết viết đọan văn trên, đoạn văn dính líu đến một khía cạnh cuộc đời tôi chưa từng biết, chưa từng nếm thử - chỉ biết nhìn lơ đãng hay cùng lắm chỉ biết nói chuyện nhớ thương phản chiến.

Lần diễn hành này, đã vắng đi hai người cựu quân nhân đã từng phục vụ trong thế chiến thứ hai, tôi nhớ họ vì mỗi năm tôi đều tìm ra họ. Ông Mike ngồi trên chiếc xe lăn bên vệ đường Market vẫy chiếc cờ chào đoàn người diễn hành đi ngang. Sau lưng ông là một bảng gỗ, kết những huy hiệu ông gìn giữ, miếng kim loại khắc tên bạn hữu, và con chó nhỏ xíu có mang cờ trên lưng, con chó thông minh biết làm nhiều trò, biết đứng chào nghiêm nghị, biết quì trên hai chân trước, nói chuyện với ông, cám ơn ông, ông vui lắm. Người thứ hai là ông Brown, mặc bộ quân phục đi trong đoàn diễn hành, ông sung sướng khoe với tôi, bộ quân phục ông mặc là bộ đồ ông đã giữ được sau trận chiến, nó còn vệt màu không tẩy được, đó là vết máu của bạn ông. Lần diễn hành nào, tôi cũng thấy ông phải đi bộ một đoạn đường, khi nào thật mệt ông mới chịu lên xe.

Năm nay tôi đã không ngăn được giòng nước mắt, khi một đoàn người cùng những bức hình của những chiến sĩ đã hy sinh trong trận chiến Irac đi ngang qua. Đòan người đông quá, vùng vịnh Bắc California mất đi nhiều người quá, những mất mát thật buồn. Ánh mắt những người vợ trẻ, đẩy xe cho con, những đứa con chưa biết mặt cha, chiếc áo lính thay chăn đắp cho con biết có đủ thay hơi người cha đã khuất. Cha mẹ cùng nâng ảnh con đi thật chậm, chiếc ảnh lắc lư theo nhịp bước, nụ cười lung linh. Bạn bè nâng ảnh bạn, tên trường trung học, tên trường đại học được tô đậm dưới chân dung. Những chiếc ảnh to quá, làm thành gió lay bao lá phong hai bên đường tuôn đổ, những chiếc lá xoáy vòng tròn quyện theo bước chân người.

Tôi nhớ bốn năm trước, có một chiếc xe chở những góa phụ mặc toàn quần áo màu đen, khăn voan trùm kín, một biểu ngữ đòi chấm dứt chiến tranh để vợ không mất chồng con không mất chạ Những góa phụ trên ấy chỉ là một hình nhân giả. Năm nay không có chiếc xe ấy, mà là đoàn người mất con, mất chồng, mất cha thật, họ không mang biểu ngữ gì cả, chỉ là những tấm hình và lẳng lặng đi.

Chiến tranh có đạn bom, máu lửa, sống chết nhưng nước mắt của những người phụ nữ đợi chờ - góa bụa với tôi là quan trọng hơn hết, đau đớn hơn hết.

Ấu Tím



trả lời


Sau Lưng Cuộc Chiến


Trên Con Đường Thế Hệ

Anh vẫn nhớ những con đường quê cũ
Cong theo chiều của tổ quốc yêu thương
Nghìn sao lạ sáng soi bờ liễu rũ
Thời hoa niên theo giấc mộng vô thường

Còn ở đó một quê nghèo nắng bỏng
Vết chân mòn trên những cánh đồng khô

Chiều viễn xứ anh ngồi nghe tiếng sóng
Đời mười năm chưa hết nợ giang hồ

Anh muốn hát bài ngợi ca đất nước
Sao ý tình như lạc chốn xa khơi
Đôi tay nhỏ, một tâm hồn tập bước
Làm sao anh ôm hết mộng trên đời

Thơ anh đấy vẫn sẽ buồn như thế
Vẫn một màu sương khói giữa chiều lam
Thơ anh viết cho cuộc đời dâu bể
Cho niềm đau chất chứa ở trong lòng

Anh mơ viết ngàn lời thơ tuyệt đẹp
Cho bạn bè cho tổ quốc Việt Nam
Gởi qua đấy một tấm lòng sắt thép
Trong như gương và thắm tựa hoa hồng

Anh đã nguyện đi trên đường thế hệ
Sẽ không buồn vì có các em theo
Đi đi nhé chẳng bao giờ quá trễ
Để muôn đời lịch sử tiếng thông reo.

Trần Trung Đạo



trả lời


Sau Lưng Cuộc Chiến


Tấm Giấy ra trại

Khoảng thời gian mà tôi cầm Tấm Giấy Ra Trại, mọi phương tiện giao thông trên toàn Việt Nam gần như kiệt quệ, Phương tiện di chuyển từ Bắc vào Nam thịnh hành vẫn là xe đò, hoặc xe lửa, nhưng xe gì cũng phải mua chợ đen, giá tăng gấp đôi, những ngườI không tiền, phải ra bến xe xếp hàng từ 1, 2 ngày trước .

Phương tiện di chuyển liên tỉnh chỉ có xe đò, ngày chỉ có 1 chuyến xe, 40 chổ, nhưng mấy bác tài xế có thể nhét thêm 10 người nữa, cộng thêm hàng hoá, xách tay, qủa là rất vất vả cho hành khách, cho nên ít ai đi lại đó đây. Hơn nữa, người dân muốn đi từ Nam ra Bắc phải xin giấy Thông Hành của Thành phố hay Tỉnh cấp, phải làm đơn xin phép trước 1 hay 2 tuần, đi lại trong phạm vi những tỉnh trong miền Nam, thì xin giấy Đi đườngcủa cấp Quận hay Huyện.Không có Giấy đi đường, không thể mua được vé xe, không thể xin tạm trú ở nơi đến.

Đặc biệt đối những người xin phép đi thăm tù cải tạo, những người đã từng làm việc cho chính phủ Việt Nam Cộng Hoà, việc xin Giấy Thông Hành không khác gì trước năm 1975 xin đi xuất ngoại du học.

Một đêm trước ngày tôi được tha, bạn bè đẵ dặn trước là coi chừng bị ăn cắp, nhất định phải ngủ lại ở bến xe ít nhất vài ngày, từ trại tù cải tạo tôi ra đến bến xe đã 5 giờ 30 chiều, nhìn 4 hàng người ngồi la liệt trước phòng vé đã có hơn vài trăm, tôi thầm nghĩ đến phiên tôi chắc là phải vài ba hôm sau nữa mới mong mua được vé. Bỏ ba-lô xuống hàng thứ 4 sau cùng, tôi ngồi xuống, có gì dơ đâu mà sợ, chiếc ba lô nhà binh, bộ quần áo tù, ai nhìn tôi cũng hiểu thân phận rồi, nhưng lạ thay, hầu như ai cũng nhìn tôi rất thân thiện, không giống như những điều tôi hàng ngày vẫn nghe cán bộ nói "không phải Đảng và nhà Nước không muốn tha các anh, mà chỉ tại các anh là những người có nợ máu, kẻ thù của nhân dân, tha các anh về, chỉ sợ chưa đến nhà, các anh đã bị nhân dân đánh chết ngoài đường". Một số các hành khách lớn tuổi, còn hỏi thăm tôi về đâu, có khỏe không, gia đình có biết được tha chưa..., trong lúc tôi đang lo trả lòi các câu thăm hỏi, thì 2 cô, chú Bảo vệ đến cạnh tôi hỏi:

- Chú đi học tập được tha phải không?
- Chú mua vé về đâu ?

Tôi chưa kịp trả lời thì cô Bảo Vệ hỏi tôi giấy ra trại. Qủa thạt tôi có 1 chút lo, vì từ trong traị cải tạo, chúng tôi đã nghe danh đám công an, cán bộ 30, chuyên môn hà hiếp người, nhất là đối với những sĩ quan đi học tập cải tạo trở về. Tôi đưa tấm giấy ra trại cho cô Bảo Vệ, chừng 10 phút sau cô trở lại trả cho tôi tấm giấy ra trại và vé xe 6 giờ 30 sáng mai về Sàigòn, ghế số 2 với giá qui định. Chú Bảo vệ dặn tôi: "chú đừng lo, các cháu đã nói với tài xế xếp chổ cho chú, chú không phải trả tiền cước Ba-lô đâu, chú vào quán trọ số 5 ngủ tạm đêm nay, 6 giờ sáng, chú ra đây là được rồi, chúc mừng chú đoàn tụ với gia đình". Tôi cám ơn hai người bảo vệ mà lòng đầy xúc động. Những hành khách đang xếp hàng cũng chúc mừng tôi, tôi đã gặp lại tình người, tình của những người dân đối với lính.

6 giờ 30 sáng hôm sau, xe bắt đầu lăn bánh và chạy cho đến 12 giờ trưa thì ghé vào ăn trưa ở 1 quán bên đường, hành khách xuống xe để ăn uống. Người tài xế ngồi lại chờ cho hành khách xuống hết, rồi xuống xe sau cùng với tôi,

- Chừng 6 giờ hơn mình sẽ đến Sàigòn, người tài xế nói với tôi.
- Hơn 12 tiếng đồng hồ, tôi hỏi ?
- Vâng, đưòng xá bây giờ tệ lắm, mấy ổng đâu có sửa sang gì, chỉ là lấy của dân thôi, mai mốt về Sàigòn rồi ông sẽ thấy.
- Xe này là của ông hay của nhà nước ?
- Xe của tôi, nhưng nhà nước quản lý, hư hỏng thì tôi sửa, tiền là tiền lương, vì vậy buộc lòng chúng tôi phải lấy tiền cước hàng hoá của hành khách để tu sửa xe. Ông biết mà, để được cầm lái chiếc xe này, nói thật là tôi phải làm đơn lạy họ, mới được gia nhập Nghiệp đoàn xe khách, nếu không thì họ đã lấy mất xe rồi. Còn nhiêu chuyện lắm, bây giờ thì ai cũng biết cả, nhưng rồi làm sao. Hôm nay, chúng tôi mời ông ăn cơm trưa với chúng tôi, tôi hay là các xe khác đều cũng vậy, hễ có sĩ quan tù cải tạo về là chúng tôi mời ăn cơm ở dọc đường, ông cũng hiểu rồi, bây giờ thì chúng tôi chỉ có thể làm được như vậy đối với người mình.

Hành khách đã xuống hết, ông và tôi vào quán, ngồi xuống 1 bàn đã dọn sẳn, người lơ xe đứng dậy kéo ghế cho tôi,

- Bác ở trong đó lâu không ?
- Cho đến hôm qua.
- Ba cháu và anh cháu cũng chưa về.
- Ba cậu ở đâu ? Trại Ðưng, Thanh hóa.

Lâu lắm rồi, tôi không trông thấy canh cá lóc, không nhìn thấy thịt sườn, nên bữa cơm hôm nay là bữa cơm ngon nhất trong đời tôi. Trong khi chúng tôi đang ăn thì bà chủ quán đến nói với tài xế:

- Anh Tám này, đây là chút tình, bà vừa nói, vừa nhìn tôi.
- Cám ơn chị Sáu, rồi ông đưa cho tôi 1 bao thuồc lá trong đó có 73 đồng, ông nói: "như thường lệ, là quán nào cũng vậy, xe nào cũng vậy, đều có quà cho những tù cải tạo trở về, nếu họ đi trên đường này, và bất cứ là cấp bậc gì, xin ông đừng ngại".

Tôi đứng lên cám ơn bà chủ quán và người tài xế, nhưng không nói ra lời, 1 bác hành khách ngồi bàn bên cạnh quay lai vổ vai tôi như thông cảm tâm tình tôi lúc đó.

- Đây là tâm ý của chủ xe, chủ quán và hành khách trong xe, ông đừng ngại.

Trong khi đó một em bé bán kính đến mời chào mọi người trong quán:

- Cháu có đủ kinh râm, kính mát, kính lão, kính cận thị, mời ông bà mua giùm.

- Giải phóng mấy năm rồi, mắt bác đã sáng, đâu cần mang kính nữa, cả quán cùng cười. Tôi quay lại nhìn về hướng đó, 1 người đàn ông ngoài 50 đang nhìn em bé bán kính và cười.

Thật là 1 câu khôi hài và ý vị.


Nguyễn Định
(trích: Ban Mê Thuột - Ngày đầu cuộc chiến)



trả lời


Sau Lưng Cuộc Chiến


TÌNH NHỚ THA HƯƠNG


Mùa xuân cuối núi ở MINH LONG.
Sông nước trôi đi, lững lơ dòng.
BA TƠ tiền tuyến, đâu nào biết,
TƯ NGHĨA tình tôi, trông ngóng trông.

A SAO hiền đức, bên vồng luống,
TƯ HÀNH lệ ướt, ngóng trông con.
MỘ ĐỨC chinh nhân, mẹ mỏi mòn ...
NGHĨA HÀNH sum họp những chờ mong.

Thương đàn em nhỏ thả diều bông,
Ngước mặt nhìn lên bầu thinh không.
Giữa hai phương trời cách biệt. Nhớ.
Hoảng loạn kiếm tình thương. Mênh mông ...

Qua dòng TRÀ KHÚC, buồn tám hướng.
TRỊ BÌNH theo làn mây viễn phương.
SA HUỲNH biển nhớ. Cho tôi gửi:
Mộng tình xanh, kính tặng QUÊ HƯƠNG.

Ái Ưu Du



trả lời


Sau Lưng Cuộc Chiến


Cuối Đường Chinh Chiến

( Cảm tác khi đọc Lá Thư Từ Rừng Trường Sơn
gởi cho HĐĐ ở Seattle)

nhận quà bạn lòng bồi hồi xúc động
cảm chân tình cay mắt thấm rưng rưng
hăm mấy năm, sao biết tôi còn sống
giữa Trường Sơn khuất xó núi hốc rừng

ngày rã ngũ tôi quay về phố thị
ngỡ thanh bình hạnh phúc sống yên vui
đòn thù hận dập vùi cay đắng vị
cuộc tang thương sông núi thấm ngậm ngùi

sau tù tội lê thân tàn lang bạt
giạt trôi về góc núi đá cằn khô
hoa tình nở thắm khe rừng bát ngát
lửa thương yêu che khuất mộng sông hồ

ở lại đây, nhà sàn, lấy vợ thượng
khố ngang mông, trần trùng trục quanh năm
khói thuốc vàng răng, bắp khoai bếp nướng
núi rừng thâm trời đất biệt mù tăm

mụ thượng cộng, vợ tôi, xưa du kích,
đào hầm chông, bắn sẻ, bẫy chúng ta
không chủ nghĩa, chẳng hận thù quá khích
xem chiến tranh như đốt rẫy vun cà

người sơn cước hồn đơn sơ lá núi
tan đao binh, tưởng no ấm yên lành
lời hứa cuội, tàn bay vèo gió bụi
đói lạnh hành, gian khổ nghẹn rừng xanh

xóa chiến tuyến, nhịp tim đồng tiếng gọi
hạnh phúc vui, thương gió núi trăng cài
hẩm hiu, mấy chục năm dài, no đói
xẻ chia nhau từng hạt bắp miếng khoai

xưa hào hùng mang giày “xô” áo trận
rừng cao nguyên, in dấu vết ngang tàng
nay chân đất, trần truồng, vòng khố quấn
lòng yên vui, cũng hạnh phúc bình an

mỗi năm đầu mùa mưa cao nguyên đổ
Sâm băng rừng lặn lội, ghé thăm tôi
nhà sàn tả tơi, reo mừng hội ngộ
rượu hàn huyên ba bốn bữa tuyệt vời

cả buôn thượng cảm kích tình bằng hữu
ấm tim tôi nắng hạnh phúc ươm vàng
vô tận thời gian , kiếp người ngắn ngủi
còn nhau đây, lòng dào dạt miên man

những đêm mưa, sét xé trời chớp giật
vết thương xưa lại rỉ máu trong hồn
dòng lịch sử, được thua, ai còn mất
tôi đào mồ quên lãng dấu vùi chôn

mỗi rằm trăng, đứng triền cao đá lộng
tôi hú dài vang vọng dãi Trường Sơn
gọi hồn oan, bắc nam hờn ảo mộng
chết âm thầm xương trắng núi cô đơn

có những khuya mưa rừng cuồng thác đổ
lòng hoang mang hư thực quãng đời qua
như giấc mộng, hào hùng ngày tháng đó
nỗi đau còn xé ruột, mấy phôi pha

lần về Huế đi qua đường Thượng Tứ
lòng bùi ngùi nhà cũ bạn còn đây
kỷ niệm ngày xưa trong tôi đầy ứ
không hơi men, chếnh choáng bước chân gầy

có thương nhớ quay về thăm đất nước
nhắn tin, tôi sẽ lội suối băng ngàn
gặp lần cuối, rượu rót tràn say khướt
lãng quên đời - tình bằng hữu chứa chan

Tràm Cà Mau



trả lời


Sau Lưng Cuộc Chiến


Dáng Núi Sông

Nắng một thuở rất hồng mắt ngọc
Áo bay cánh mộng trắng sân trường
Có bước chân theo về lối nhỏ
Mắt gửi trao cho lòng vấn vương

Tim xôn xao nhận thư trao vội
Lòng rộn nghe nhịp bước chim di
Đi bên người nghe hồng màu má
Nắng trên cao trải mộng xuân thì

Rồi anh bỏ trường vào đời lính
Áo trận giầy saut dáng núi sông
Rồi em vào đời làm cô giáo
Áo tím buồn thăm thẳm đợi mong

Một ngày người đến nhà gõ cửa
Trả lại cho em dáng núi sông
Trả em giấc mơ tàn cuộc chiến
Trả em màu mắt tím vợi trông

Nhận về em giấc mơ đã trắng
Nửa đời còn lại trống mênh mông
Anh đi mang theo màu mộng thắm
Sao để lại chi dáng núi sông!

Vương Hồng Ngọc



trả lời


Sau Lưng Cuộc Chiến


Xuân “Thái Lai"

Ô! Xuân... Mùa Xuân này
Rắc hồng lên ngọn cây.
Búp xanh chồi nẩy lộc
Ríu rít chim kêu bày.

Phải rượu đâu mà say?
Mắt người yêu đong đầy
Má anh đào khoe sắc
Là tình, ngây dại ngây.

Ố! Xuân... Mùa Xuân này
Cuộc chiến nào qua đây?
Dễ chừng non thế kỷ
Bỏ sau lưng tháng ngày

Quăng súng, ta cầm bút
Lửa đỏ mấy tầng mây
Trái tim thành thép nguội
Chiến đấu ngày từng ngày...

Mắt em thơ rực lửa
Mắt mẹ già khói mây
Ta đồng không cỏ cháy
Chờ mục nhánh thân gầy

Ô! Xuân... Mùa Xuân này
Bao năm biệt tăm hơi
Ta mê man chờ đợi
Gươm dáo muôn trùng vây

Cỏ xanh nhô cọc nhọn
Hoa đào giăng kẽm gai
Đông giá, hè nung nấu
Thu vọng khúc lưu đầy!

Ô! Xuân...Mùa Xuân này
Bây giờ mới tới đây?
Trễ quá! Nhưng chưa muộn
Ta còn nụ hoa tươi

Tặng mẹ già quá khứ
Tặng em thơ tương lai
Vườn hồng nhân ái nở
“Bĩ cực” rồi “thái lai”! (1)

Vương Sinh
(Muà Xuân Mậu Tí – 2/2008)



trả lời


lên trên