Tác Giả và Tác Phẩm                 <<< tìm >>>                 BÀI MỚI . muc luc . vào



Mẹ Tôi






Mừng Thọ Bách Niên

gần xa, con cháu tựu về
chúc mừng bà Cố thọ tề bách niên
Xuân Hồng trai trưởng ưu tiên
rượu nồng kính chúc Mẹ hiền vạn an

Xuân Dương, Xuân Thúy, Nha Trang
Khánh Hòa, Yến Tuyết, Hoài Ân, Liên Trì
tặng quà bánh mức, hoa trà
thêm son hồng thắm để Bà tô môi ..

Cháu Con Dâu Rể nước ngoài
ai không về được gởi lời mừng chung:
Chúc Bà Cố An Khang Trường Thọ
Đẹp Nụ Cười rạng rỡ Bách Niên

Cao Nguyên

Sài Gòn - November 30, 2013




Gia Tài Của Mẹ

Hình ảnh mơ hồ đầu tiên của mẹ đến với tôi lúc tôi chừng ba hay bốn tuổi trong khuôn viên an bình và thênh thang của tòa tỉnh Quảng Ngãi vào những ngày cuối thập niên 50s. Quảng đời thơ ấu đó hình như mãi trôi một cách bình thường, cho đến khi tôi lớn lên thì mới rỏ đằng sau cái vẻ bình thường đó cuộc chiến tàn khốc đang âm ỉ được chuẩn bị với đám người đi đêm từ Bắc vô Nam. Cuộc chiến mà đã đưa đẩy gia đình tôi, cũng như hàng vạn gia đình dân vô tội khác, vào một cuộc chạy trốn bom đạn không ngừng nghỉ và những phân ly tứ tán khắp bốn phương trời.

Trong cái bối cảnh êm đềm đó, mẹ tôi hiện diện với một dáng người mảnh khảnh, với cái búi tóc cổ truyền không có gì đặc sắc. Tôi không hề có ý niệm mẹ tôi trở thành một người có tầm vóc quá lớn lao, cái tầm vóc của một người mẹ và một người cha hợp lại trong đời của anh chị em tôi. Cái khung hình nhỏ bé của bà là sự tương phản của một tấm lòng bao la, một kiên nhẩn và chịu đựng vô bờ bến, một ý chí kiên trì vừa cứng rắn vừa mềm mại mà gần như một tay một mình, bà đã dìu dắt, đưa đẩy anh chị em tôi đến bờ đến bến.

Biến chuyển lớn nhất trong đời của anh chị em tôi làm tôi mang máng hiểu những cá tính hiếm hoi của mẹ tôi. Trong những ngày năm 1960, mẹ tôi dắt hai chị em tôi đi nuôi ba tôi ở Sài Gòn với căn bệnh nan y mà cuối cùng đã cướp đi người bạn đời của bà quá sớm. Một buổi sáng mẹ tôi về chậm rải báo tin ba tôi mất. Hai chị em tôi chỉ hình dung mơ hồ một cái gì không may, một tin chẳng lành, nhưng chưa hiểu hết được cái ảnh hưởng của nó cho mãi đến những năm thăng trầm kế tiếp. Cả hai tình cờ nhìn thấy cái bong bóng màu xanh bay vuột lên trời không níu kéo lại được. Trong cái mất mát lớn lao đó, tôi không nhớ là đôi mắt sáng của mẹ tôi đã hoen nước mắt. Cử chỉ trầm tỉnh của bà như là một lời tự nhủ, tự trấn an để nhìn vào con đường trước mặt, để dìu dắt 8 đứa con, một tay một mình ở cái tuổi 45.

Hình ảnh người góa phụ trẻ cùng hai đứa con nhỏ hai ngày ba đêm trên toa xe lửa xuyên tỉnh từ Sài Gòn đem quan tài chồng về Quảng Ngãi, ngọn đèn dầu hiu hắt dưới quan tài ba tôi để xua đuổi ma tà, cảnh chuyến xe bị chậm bởi đường sắt bị phá, và cái hình hài nhỏ nhoi kiên chịu của mẹ tôi sống mãi trong tôi. Người góa phụ trẻ với áo sô đầu chít khăn tang dẫn một đàn con đưa quan tài chồng về nơi an nghỉ gần chân núi Ngự Bình để lại trong tôi hình ảnh chịu đựng vô bờ bến của mẹ Việt Nam đích thực.

Những năm kế tiếp gia đình tôi vượt qua thăng trầm không đếm hết, như là mẹ con tôi đang đi theo vận nước nổi trôi. Gia đình tôi phải dọn ra khỏi khuôn viên tòa tỉnh Quãng Ngải. Mẹ tôi xin được hóa đơn bán gạo. Những biến cố chính trị trong những năm kế tiếp đã đưa đây gia đình tôi về quê ngoại ở Vỹ Dạ. Ngày tháng êm đềm của tuổi nhỏ trốn ngủ trưa đi hái thơm nhà hàng xóm (mặc dù vườn nhà mình không thiếu gì thơm!), đi bắn chim sẻ, đi đổi cá lia thia pha lẫn với những nổi lo mà tuổi nhỏ không phải chịu. Mẹ tôi có dạo lại mở cái quán nho nhỏ bán bún bò Huế ban đêm để kiếm sống, phải đi từ Vỹ Dạ lên đến sân vận động đá banh mỗi ngày. Có đêm tôi được đi đón bà, lại được ăn tô bún bò và miếng kẹo đậu phụng. Ăn vừa ngon mà vừa lo. Lo là nếu bà bán không hết phải đem về ăn thì làm sao kiếm đủ sống! Không biết bao nhiêu lần tôi đã mở nắp thùng gạo để xem có đủ gạo cho vài ngày tới. Tôi không chia xẻ nổi lo với ai mà chỉ nhìn mẹ tôi như là phương cứu cánh. Tôi biết là bà cũng lo, nhưng không một lần bà lộ mặt để làm chỗ con cái lo hơn.

Rồi những ngày trốn bom đạn Mâu Thân, nhà cửa ông ngoại tôi bị hư hại, Vỹ Dạ không còn an ninh để ở, mẹ tôi lại dắt díu đám con chạy đạn tìm sống. Gia đình tôi ở nhờ ông bà Khương bên kia Đập Đá, bên quốc gia, bên tương đối yên tỉnh, bên không có khủng bố bắt cóc, xử tử hình lúc đêm về. Cuộc chiến vẫn còn sôi nổi ngoài thành phố Huế. Mẹ tôi có hôm dẫn tôi từ Đập Đá qua chợ Đông Ba để mua một thùng bánh biscuit về vừa ăn vừa bán kiếm lại vốn. Tôi không nhớ rỏ là mình đã đi qua cái cầu Trường Tiền đã gãy, hay đã đi đò từ Đập Đá. Hai mẹ con chỉ nhớ đến mấy cái xác người vẫn còn nằm trong chợ. Mẹ tôi nắm tay tôi thật chặt như một cách bảo vệ lấy cái trí óc của thằng nhỏ 12 tuổi.

Cuộc hành trình tìm một nơi dung thân tương đối an toàn cho đám con tiếp diễn. Tôi không nhớ làm sao gia đình đi được vào Nha Trang, nhưng chỉ nhớ là lại phải dựa vào bà con để có cái mái trên đầu. Mẹ tôi lại tiếp tục cuộc đời tận tụy vì con. Những đêm tôi thường lội bộ đi học thêm về tối, lúc nào cũng có mâm cơm mà có lẽ miếng cá để lại là miếng ngon nhất. Có một đêm tôi về rất trể và dĩ nhiên là không báo cho ở nhà được, không điện thoại công cọng, không cell phone. Tôi ở lại trường cố tìm cho được chiếc xe đạp bị mất cắp - cái tài sản hiếm hoi của cả gia đình! Mẹ tôi đứng chờ ngoài hiên, không một lời trách móc, không một chút tiếc nuối!!! Cái cảnh đưa con về Sài Gòn đi học lại đến. Sau khi tôi đổ tú tài II, mấy anh chị em tôi đã vào Sài Gòn hết. Chỉ còn hai mẹ con lấy xe đò Nha Trang-Sài Gòn mà đi. Cả hai mẹ con, cả gia tài chất trọn một chiếc xích lô!!! Thanh thản, gọn gàng.

Đời mẹ tôi tưởng sẽ ổn định với mấy đứa con học hành kha khá có thể giúp bà vào tuổi già. Tôi vào được Y khoa mừng hú vía bởi đi thi tuyển phần sinh ngữ ngồi đọc câu hỏi mà như đọc kinh Tây Tạng. Anh thứ hai tôi vừa du học ở Mỹ về, chị tôi vừa tốt nghiệp sư phạm. Tháng Tư Đen 75 một lần nữa làm vật đổi sao dời. Anh chị tôi, người chạy bạt mạng từ Cao Nguyên về, rồi người đi học tập, người trốn chui chốn nhủi. Tôi bỏ trường mà đi để không phải vào bộ đội. Trong những ngày tối tăm muốn ngộp thở bởi cái tương lai tương đối vững chắc đã vuột ra khỏi tầm tay, mẹ tôi lại một lần nữa cùng tôi đáp một chuyến tàu lửa khác. Lần này không phải để tiển đưa người chồng về nơi yên nghĩ mà là đưa một đứa con đổi mạng đi tìm lại những gì đã bị cướp đoạt khỏi tầm tay. Mấy chục năm đã qua từ ngày tôi cùng mẹ đi chuyến xe Sài Gòn-Quãng Ngải. Chiếc xe đã khác, đầy những dấu tích không được bảo tồn, đầy dấu mệt mỏi. Mẹ tôi dù đã già hơn nhưng không thay đổi gì. Vẫn cái nhìn bao dung và có sức trấn tỉnh người đối diện, vẫn dáng người nhỏ nhoi với sức chịu đựng tiềm tàng, với ước mong che chở cho con không sờn mỏi.

Còn rất nhiều, rất nhiều nữa những hình ảnh của người mẹ cam tâm, kiên trì nuôi đám con. Hình ảnh mà lúc nào cũng đầy ăm ắp trong tiềm thức tôi, mà giấy viết không tả hết. Hình ảnh tôi sẽ mang theo suốt cuộc đời. Có lẽ một lúc nào đó khi tôi an tâm tỉnh trí, khi bận rộn của cuộc sống giảm đi, tôi sẽ chia xẽ hình ảnh mẹ tôi trong tâm tưởng cho anh chị em tôi và con tôi nhiều hơn.

Có lẽ trước cả khi tôi biết suy nghĩ, mẹ tôi đã chắt chiu dành giụm cả một gia tài cho anh chị em tôi. Gia tài của mẹ không là lầu cao cửa rộng, không là vàng bạc ngập đường. Mẹ tôi thật sự không có một cái nhà cho đến năm bà 65 tuổi, đến lúc người anh đầu của tôi mua cái nhà mà giờ này bà đang yên nghỉ. Bà không có tài sản vật chất để lại cho anh chị em tôi. Đời bà đầy nỗi thăng trầm, thăng ít trầm nhiều. Nhưng gia tài của mẹ không phải là cuộc đời buồn, không phải là một nước Việt buồn như một cố nhạc sĩ đã viết, không phải là những lời than trách số phận. Với những cử chỉ ân cần, những bát cơm manh áo, những miếng ăn ngon vật lạ mà bà đã cho anh chị em tôi, bà đã gói trọn vào hành trang của mổi đứa con những niềm yêu thương đùm bọc lấy nhau, những tấm lòng biết chia xẻ, những cách sống đơn giản trọng tình người, những cách sống thanh liêm, đói cho sạch rách cho thơm. Không phải qua câu nói mà qua những cử chỉ nho nhỏ, bà đã chuẩn bị hành trang cho anh chị em tôi gói kín những điều dạy bảo, để mổi người trong chúng tôi sẽ tiếp tục cuộc hành trình bà và ba tôi đã vạch. Không phải bằng lời nói mà bằng cái nhìn, bà như nhủ thầm với chúng tôi "Đi đi, con cứ đi đi, nhưng nhớ hãy gieo những hạt mầm thương yêu bất cứ nơi nào con đến." Hai chị tôi đã ở lại bên bà. Xin cám ơn hai chị đã một đời chăm sóc mẹ. Những anh chị em khác của tôi đi bốn phương tám hướng, có lẽ không ai bảo ai, nhưng ai cũng đang ráng gieo cái mầm yêu thương, cái tính cần mần, cái chí kiên trì mà mẹ đã gói trọn vào hành trang. Ai cũng cố gắng gieo những hạt mầm vô giá cho thế hệ sau. Xin cám ơn ba mẹ đã cùng nhau xây cái nền tảng cho gia tài này. Xin cám ơn mẹ đã một đời tận tụy xây mãi cái gia tài vô giá này. Gia tài của mẹ là gói hành trang ăm ắp tình thương và đủ đạo làm người. Gia tài của mẹ để lại cho con không có tiền rừng bạc bể nào sánh tới.

Hình hài mẹ tôi bây giờ đang nằm yên nghỉ, không cười, không nói, yên bình. Không bao lâu nữa cái hình hài này sẽ hòa với luống đất Việt Nam để vun xới cho những bông hoa nở bên đường mà những người mẹ sau đang tiếp tục. Nhưng mẹ tôi đã không ra đi, bà chỉ trở về như đứa con rể út thầm lặng ít nói đã làm một bài thơ tặng bà.

Mạ không ra đi, Mạ về với suối
Mạ chẳng rời xa, Mạ chỉ bình yên
Mạ không chia tay, Mạ về đồng nội
Mạ chẳng từ ly, Mạ chỉ đón chờ

Mạ là bao la, để con nhỏ bé
Mạ không ra đi, Mạ chỉ trở về.

Mẹ tôi không ra đi bởi hình bóng bà, cử chỉ ân cần, câu nói thanh thao, lòng yêu con vô tận, tính kiên trì khó ai quá sẽ sống mãi trong chúng con. Nó sẽ không bao giờ phai mờ. Trong cái nghĩa này mẹ tôi không ra đi, mẹ tôi không chia tay. Mẹ tôi chỉ trở về với suối, với mây, với đồng nội.

Và mẹ tôi chỉ trở về với ba tôi. Tôi thấy mơ hồ đâu đây hình bóng ba tôi đang đứng ở một ngưỡng cửa mở ra một chân trời khác, một thế giới khác. Tôi nghe thoang thoảng tiếng ông thì thào vào tai mẹ "Cuối cùng bà đã về lại với tôi. Xin cảm ơn bà đã ở lại thêm 54 năm nữa để chăm sóc cho con, để luyện cho chúng nó thành người." Tôi nghe thoang thoảng đâu đây tiếng cười nho nhỏ của ba mẹ tôi. Tay trong tay, ba tôi dắt mẹ bước qua khung cửa vàng. Tay trong tay, ba mẹ tôi bước vào miền vĩnh cửu.

Xin tạ ơn đời, tạ ơn trời đã cho anh chị em chúng tôi một người mẹ không ai sánh được. Cuộc đời của bà đã làm những danh từ trừu tượng như Mẹ Trùng Dương, Mẹ Việt Nam mang một ý nghĩa rất rõ rệt cho tôi. Xin tạ ơn đời, tạ ơn trời, tạ ơn Mẹ.

Nguyễn Xuân Dương
Virginia, April 27, 2014



Mẹ Trùng Dương
https://www.youtube.com/watch?v=X8IHc2in710



trả lời


Mẹ Tôi




Tiễn Mạ Về Trời

hôm nay con cháu lại về
tiễn Mạ ra khỏi bộn bề thế gian
Mạ đi nhé Mạ, bình an
Cháu Con Nội Ngoại chịu tang nguyện cầu

Mạ đi không vóc thân đau
Mạ đi thư thái qua cầu Nại du (*)
tinh anh thanh thoát nụ cười
thắm tình con cháu sắc đời từ tâm

Mạ đi vào cõi vĩnh hằng
cùng Ba phúc hạnh trên tầng nguyệt khai
phong linh bặt tiếng quan hoài
khi Trời Đất mở vòng tay đón Người

Mạ đi vui nhé, Mạ ơi
hương trầm kính bái khắc lời hồng ân
lưu ơn Mạ suốt thăng trầm
vượt qua dâu bể nuôi con nên người.

Mạ đi, Mạ đã về Trời!

Cao Nguyên
Washington,DC - April 28, 2014
(*) thong dong qua cầu Nại Hà


[img][/img]



trả lời


Mẹ Tôi



LỄ NHẬP QUAN




Vĩnh Biệt Mạ


Mạ ơi,
1995 con về thăm Mạ lần đầu. Con đã khóc, Mạ cười cười mà rằng “Chi rứa mi, cái thằng!”.
2014 con về, con cũng khóc, nhưng Mạ có nói chi mô.
Lần trước con khóc, thấy mặt trời chiếu sáng. Lần này con khóc, vì bóng tối vây quanh.
Mạ ơi, con mất Mạ vĩnh viễn rồi... Căn nhà này từ nay con về, sẽ chẳng thấy bóng dáng Mạ đâu.
Con vẫn biết Mạ chẳng ở đâu xa, Mạ ở trong lòng. Con cũng tự an ủi Mạ đã trăm tuổi, ra đi là hợp với sự tuần hoàn của tạo hóa, nhưng Mạ ơi, mất mát này quả quá lớn lao!
Cái giường Mạ nằm, chiếc gối Mạ kê, cái mền Mạ đắp, cái ghế Mạ ngồi, cái khăn Mạ lau tay, cái chuông Mạ bấm, cái quạt Mạ gõ khi cần giúp đỡ đêm hôm. Tất cả còn đây, nhưng Mạ đã không còn. Làm sao mà không đau đớn, làm sao mà không xót xa!
Mạ ơi, con đã mất Mạ, người Mẹ tận tụy với chồng, lận đận nuôi đàn con với tình thương bao la, nghị lực phi thường, lòng can đảm tuyệt vời.
Nợ trần ai Mạ đã trả dứt, xin Mạ hãy thơ thới về chốn tiên cảnh, nơi Mạ sẽ gặp Ba.
Vĩnh biệt Mạ. “Mẹ có biết hay không? Biết gì? Biết rằng con thương Mẹ lắm không?"
Vĩnh biệt Mạ, Mạ ơi!

Nguyễn Xuân Thúy
Sài Gòn 28/4/2014







trả lời


Mẹ Tôi





PHÂN ƯU

Vô cùng thương tiếc nhận được tin buồn:

Cụ Bà Nguyễn Xuân Sung

Khuê Danh Đặng Thị Lệ Chi

Thân mẫu của các Chú:

Nguyễn Xuân Hồng, Xuân Thúy, Xuân Dương và các cô Yến Tuyết, Khánh Hòa,Nha Trang, Hoài Ân, Liên Trì
đã qua đời ngày 26 tháng 4 năm 2014 tại Sài gòn, Việt Nam hưởng đại thọ 99 tuổi.

Kính xin chia buồn cùng các chú, các cô
và tang quyến trước nỗi mât mát lơn lao nầy.

Xin thành kính góp lời nguyện cầu HƯƠNG LINH
Mợ Đặng Thị Lệ Chi kính mến


được THANH THẢN về MIỀN CỰC LẠC.


Vì xa xôi không thể đến tiễn đưa Mợ được, nên có nhờ chú Lê Duy Châu thay mặt đến phúng điếu, chia buồn cùng các em.

Gia đình anh chị Lê Sơn Thanh & Túc
Anh Nguyễn Xuân Thiệp
Gia đình anh chị Lê Khắc Huyền & Mộng Hoa




trả lời


Mẹ Tôi



Khúc Dương Tà
(thương mến gởi các em tôi)

phòng Mẹ trống mà lòng em đầy chật
những ưu tư giữa được mất vô thường
nhìn chăn gối còn vương hương tóc bạc
ôm bóng hình nghe ủy thác yêu thương

cứ xem như Mẹ ngủ say em nhé
mỗi se lòng khe khẽ bước vào ra
lời ru nhẹ hong lụa là bớt lạnh
như gió thu ru lá khúc dương tà!

Cao Nguyên

Maryland - May 2, 2014




trả lời


Mẹ Tôi




MẠ

Thời niên thiếu, là con gái rượu, chắc Mạ đã có lắm ngày hạnh phúc, vui tươi bên cạnh ông bà Ngoại. Nhưng kể từ khi bước chân ra lập gia đình, tạo “giang sơn” riêng, cuộc đời Mạ đã trãi qua nhiều buồn hơn vui, khổ đau hơn hạnh phúc.

Thời gian ở Huế, có thể được xem là giai đoạn u ám trong sinh hoạt gia đình mạ gánh vác. Lương Ba chỉ đủ cho 5 con sáng cơm nguội nước mắm, trưa tối rau dưa, thịt cá thỉnh thoảng được ‘xén’ bớt từ bữa ăn “sang trọng” dành cho Ba thêm sức. Mạ hai lần nấu cơm tháng kiếm chút lợi cho con cái có thêm ổ bánh mì, trách cá kho. Mạ cặm cụi khâu vá quần áo đã sờn rách để chuyển từ lớn xuống nhỏ, chỉ dịp tết nhất mới có được bộ “đồ vía” mà dù thiếu thốn, Mạ vẫn xoay xở sắm cho. Khỏang năm 1951- 1952, Ba và con cả bệnh nặng, phí tổn thuốc men, thời ấy rất đắt, đã góp phần làm gia đình nghèo thêm. Mạ đã “xé vạt vá vai”, vay mượn để chi dùng, nợ nần chồng chất đến kiệt quệ, phải nhờ tòa án phân xử, phần nào trả nợ, phần nào nuôi con.
Năm 1956, Ba tình nguyện nhận việc ở Quảng Ngãi để được hưởng lương cao hơn, giá sinh hoạt thấp hơn ở Huế. Những năm 1956-1960 là t hời gian khá tươi sáng. Nợ nần đã trả dứt, con cái đầy đủ hơn. Rồi Ba được cất nhắc, có chút địa vị, Mạ có thêm chút an nhàn, thoát cảnh chưa xong hôm nay đã lo đến ngày mai. Tháng 10 năm 1960, dù ít khi rời khỏi nhà, Mạ hân hoan vô Sài Gòn tiễn chân con cả “đi Tây”. Đó là niềm vui lớn, trước khi Mạ gánh chịu thảm họa ghê gớm trong đời. Tháng 5 năm 1961, Mạ dắt theo Út Em, Cu và Xíu đưa Ba vô Grall để biết kết quả thử nghiệm gan của Ba. Không còn phương chữa trị, Ba qua đời trong giấc ngủ ngày 14 tháng 8 năm 1961. Ở tuổi 45, Mạ vừa chịu đựng nỗi đau thương khôn cùng, vừa mang nặng niềm ưu tư, lo lắng rồi đây sẽ phải tay chống tay chèo nuôi con. Bằng hưu bổng khiêm nhường của Ba, sự giúp đỡ tận tình của Ông Tất, Mạ nhận được vài “đặc quyền kinh tế”., của O Chú Thảo trong việc điều hành buôn bán, chút lợi từ nấu cơm tháng (lại nấu cơm tháng) cho mấy ông giáo sư trường trung học, Mạ đã vén khéo để 7 con được có ăn, được đến trường. Sau năm 1963, không còn muốn lẻ loi ở Quảng Ngãi, Mạ đưa gia đình về Huế rồi 1968 chuyển vô Nha Trang, đến Sài Gòn năm 1972. Lúc này Mạ chỉ còn lo cho 3 con út. Gánh nặng trên vai đã giảm đi phần nào. Ngoài Anh Cả đang ở xa, Mạ trở lại sum họp với con cái, thêm vài đứa cháu nội, cháu ngoại. Cuộc sống đang dần dà ổn định thì biến cố 1975! Hưu bổng của ba không còn, con cái mất việc làm, chuyện học hành của Út Em, Cu, Xíu chẳng biết đi về đâu. Mạ lại thêm một lần lao đao, lo lắng. Để có tiền đổi 200 bạc của chế độ mới, Mạ phải bán thốc bán tháo “gia tài” duy nhất vỏn vẹn 2 chiếc xe đạp Ky, Cu vừa “lắp” xong, định gởi ra Huế tiêu thụ kiếm lời. Lo ngại cho tương lai con cháu, Mạ mượn vốn đi buôn, một việc làm hoàn toàn xa lạ và không hề thích hợp với Mạ. Hy vọng qua cơn hiểm nghèo, chẳng những không thành, Mạ còn gánh chịu lời ong tiếng ve, tánh ngay thẳng, lòng lương thiện của Mạ bị ngờ vực khi chẳng may số tiền vay mượn bị đánh cắp.

Những xáo trộn năm 1975 rồi cũng lắng dần, con cái lớn đã kiếm được lợi tức. Cùng với sự đóng góp tận tình từ con cả, đời sống gia đình tươi sáng hẳn lên. Mạ trở thành người giàu có, giữa những kẻ khốn cùng. Năm 1982, Mạ thêm niềm vui ngoài mong đợi, khi với tài chánh do con cả chu cấp, Mạ mua được căn nhà lớn. Ở tuổi 66, Mạ lần đầu tiên được làm chủ “cơ ngơi” của chính mình, chấm dứt bao năm ở đậu, ở thuê, con cháu được thảnh thơi vô ra “nhà Mạ”, không còn sợ bị ghét bỏ, tị hiềm.
Tuổi tác đã làm hao mòn sức khỏe Mạ. Sau mười mấy năm chống chọi, ngày 29 tháng 4 năm 2014 (28 tháng 3 năm Giáp Ngọ) Mạ an bình ra đi, thọ 99 tuổi, trên chiếc giường của Mạ, trong căn nhà của Mạ, đúng theo ý muốn, để lại bao tiếc thương cho con cháu.

Bằng nghị lực, lòng can đảm, sức chịu đựng vô biên, Mạ đã vượt qua bao gian lao, đau đớn, ngay cả khi hay tin kinh hoàng: bệnh của Ba không còn chút hy vọng qua khỏi. Mạ bình tĩnh chấp nhận số mệnh không oán trời trách đất, âm thầm chịu đựng nỗi đau một mình, lặng lẽ ngày đêm hết lòng săn sóc chồng, tuy biết rằng sinh tử chỉ đếm được bằng ngày. Nghiệt ngã đến vậy, Mạ vẫn có đủ sức mạnh để trấn an, tạo cho chồng niềm tin mình sẽ qua cơn hiểm nghèo để trở về. Trên toa tàu thuê bao từ Sài Gòn cùng 3 con nhỏ, 1 chiếc quan tài, chắc chắn lòng Mạ đã quặn thắt khi mất chồng,chắc chắn Mạ đã lo sợ khi trên tay còn 7 đứa con cần nuôi dưỡng. Vậy mà nơi sân ga Quảng Ngãi, trong tiếng khóc tức tưởi của con cái, của quyến thuộc, của những người không quen, Mạ tiều tụy trong tang phục, má lõm sâu, mắt thâm quầng, bước xuống cùng 3 con nhỏ, không một tiếng nấc, không kể lể ai oán, không vật vã khóc than. Chỉ đến khi ngồi bên cạnh huyệt, tay cầm mấy viên đất ném lên nắp áo quan, mới thấy Mạ hai hàng nước mắt chảy dài . Vĩnh viễn chia tay người bạn đời, Mạ không bày tỏ nỗi đau xót tột cùng như thường tình. Bao nhiêu đêm Mạ trăn trở thương tiếc chồng, bao nhiêu ngày Mạ lo âu rồi có nuôi nỗi đàn con chăng, Mạ giữ riêng cho mình, không hề thổ lộ cùng ai. Thật khó mà tưởng tượng được rằng bên trong cái thân thể mảnh dẻ, nhỏ thó đó lại chứa đựng một sức mạnh tinh thần không dễ có.

Tuy Mạ không đi chùa, không tụng kinh, nhưng Mạ có sẵn Phật tánh, lòng nhân từ và thấm nhuần triết lý vô thường. Những ngày hàn vi ở Huế, Mạ dang tay đón nhận cháu chắt bên chồng. Vô tới Quảng Ngãi, Mạ cũng mở lòng bao dung đối với anh chàng võ sĩ Ba mến tài, cho một chân thư ký để có phương tiện nuôi dưỡng mẹ mù lòa, vợ sắp sanh, được tá túc cho đến khi đủ lông đủ cánh, với những phạm nhân hàng ngày lao động trong khuôn viên tòa hành chánh, được trồng luống rau sau vườn, được ra vô nhà bếp nấu nhờ nồi cơm, rang nhờ nhúm đậu, thỉnh thoảng còn được cung cấp cho ít thức ăn. Tuy túng thiếu, Mạ đã không phàn nàn khi Ba san sẻ cho bạn bè gần hết số khoai sắn, mươi lon gạo Ba ky cóp chở về bằng xe đạp từ làng An Thuận trong nạn đói năm Ất Dậu. Mạ góp phần tương trợ bà con, người túng quẩn, không chút đắn đo, tính toán.
Mạ không tranh cãi với ai, không ác khẩu, không phê phán, coi thường hay tâng bốc ai. Mạ cũng không lắm lời giải thích, phân bua dù bị hiểu lầm, bị đáng giá sai. Mạ không buồn tủi khi nghèo hèn, không hãnh diện, làm cao khi có chút địa vị. Mạ cũng không mưu cầu tư lợi, không tham lam của cải, không luyến tiếc khi của cải mất đi. Ngoài đạo đức, lễ nghĩa, mọi thứ đối với Mạ chỉ là phù du.

Mạ nuôi con cái bằng sữa Mạ, bằng miếng cơm Mạ mớm cho sau khi nhai nhuyễn. Mạ lưu tâm đến con cái từ tấm bé cho tới lúc lớn khôn. Mạ trìu mến móc túi cho Hòa, Ky, mỗi đứa 5” dát” sau buổi học, 2, 3 ngày, vạch tóc bắt chí cho 3 Phi, cẩn thận dặn dò cái bánh, miếng chả ni để dành cho con Út em, thằng Cu, con Xíu. Mạ biểu đi tìm thằng Cu, đêm Noel đi chơi đã quá khuya chưa thấy về. Mạ ân cần hỏi tin con ở nơi xa, thều thào nhắc thằng Ky rửa chưng đi, chưng đen thùi, khi hắn đã 70!
Mạ chỉ xưng hô Mạ con với” mấy đứa” khi con cái còn nhỏ. Lớn thêm 1 tí thì gần gũi, ấm áp “mi tau”, con cái đã trưởng thành thì nói trổng, thỉnh thoảng “tui anh”. Mạ không đánh con, cũng không can ngăn khi con bị đòn. Mạ chẳng bao giờ lớn tiếng hay nặng lời với con cái, ngay cả với con trai thứ, lúc nhỏ được xếp loại “hoang”, phá phách, sài cung sài kiện. Có la rầy thì cũng từ tốn, răng mi lì rứa, Ba mi đánh cho trận nào trận nấy nên thân mà mi cũng không tởn, nắng mấy hoa cũng không héo. Hay chỉ nhẹ nhàng rằng tau nói hoài mà mi không nghe, cứ leo trèo, có ngày bổ cho một cái u đầu sức trán thì mi mới thất kinh.

Anh Hòa có nhắc chuyện bà Mạnh Mẫu không dám nuôi con gần chợ, Mạ thì đã 2 lần nuôi con ngay cửa chợ mà các con Mạ vẫn nên người. Mạ đã dẫn dắt, dạy dỗ các con bằng chính cuộc sống lương thiện, giản dị, đầy nhân từ và đạo đức, lễ nghĩa của bản thân. Mạ thắp bó đuốc soi đường cho các con đi.
Cả đời Mạ chỉ muốn quanh quẩn bên con cái, xem như một niềm hạnh phúc. Vậy mà rồi Mạ cũng phải đành rời xa các con. Mạ vui mừng tiễn chân con cả đi xa, nén đau lòng thúc dục trai út bỏ nước mà đi năm 1978, rồi trai thứ năm 1984. Thập niên 90 thì đến Xíu, Phi Chị, Phi Em. Gần gũi bên Mạ chỉ còn lại Út Chị, Út Em. Chắc chắn Mạ đã buồn lòng không ít khi nhà vắng đến 6 đứa con.

Cảnh tấp nập ra vô không còn. Tháng 11 năm 2013, Mạ có niềm vui cuối đời gặp lại đầy đủ bầy con 8 đứa. May mắn thay cho các con khi Mạ tuy không còn minh mẫn vẫn nhận biết, nhớ tên từ “Đại ca” cho tới Út Xíu.
Mạ mang tên loại trái quý, ngày xưa đã cứu sống cả đoàn quân qua cơn đói khát mà An Lộc Sơn mang về dâng Vua Đường Minh Hoàng khi tàn cuộc chiến, ngày sau đã tạo dựng hình hài, tương lai cho 8 đứa con, Mạ vẫn luôn thương yêu, quý mến. Mạ hy sinh bản thân cho con cái, không hề nghĩ chuyện lấy lại. Mạ gian nan vất vả nuôi con nên người, không hề đòi hỏi báo đáp công lao.

Các con sung sướng được làm con của Mạ. Xin khắc ghi công ơn Mạ. Xin cảm tạ Trời Đất đã cho các con có Mạ, đứa ít nhất cũng tròm trèm 60 năm .
Nay thì Mạ đã ngủ yên một giấc dài không khi nào còn thức dậy. Mạ đã đi xa, quá xa, không bao giờ còn trở về nhà. Mạ vĩnh viễn rời bỏ bầy con, lũ cháu. Thời gian rồi sẽ làm nguôi ngoai nỗi thương nhớ Mạ nhưng điều chắc chắn là các con, khi kể về Mạ, nhắc đến Mạ, sẽ tự hào, kiêu hãnh mà rằng:
“Mạ chúng tôi đó, Bà Quả phụ Nguyễn Xuân Sung, tên con gái Đặng Thị Lệ Chi, người mà chúng tôi cho rằng không ai sánh kịp”.

Tạp ghi về Mạ, ngày kỵ đầu
16/4/2015 (28 tháng 3 năm Ất Mùi)
Ky



trả lời


lên trên