Hồn Quê                 <<< tìm >>>                 BÀI MỚI . muc luc . vào



Phạm Trần Anh


Việt Nam Nước Tôi





LỜI GIỚI THIỆU

Như một nhân duyên tôi được đọc những tác phẩm cổ sử của sử gia Phạm Trần Anh, tôi đã tìm lại Cội nguồn của Dân tộc cũng như của nền Văn Minh Việt Cổ, nền móng căn bản dựng nước của Tổ Tiên. Cội nguồn này đã bị khống chế và đè bẹp bởi “Văn minh Bái vật của Đại Hán”. Dòng đạo lý nguyên thủy của Việt tộc là thờ trời thay vì thờ người như văn minh của du mục phương Bắc. Trật tự của xã hội Việt Nam là trật tự của thiên nhiên. Sau gần một ngàn năm bị Hán tộc thống trị, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc đã đem cái trật tự Quân thần đểHán hóa dân tộc ta bằng hình thức nô dịch văn hóa. Sự xích hoá và nô dịch văn hóa của Hán tộc đã làm cho sinh mệnh bản thể của văn minh, văn hóa Việt bị vùi dập, lu mờ hàng ngàn năm qua. Đây là sự mất mát khủng khiếp đã làm cho hồn dân tộc Việt lao đao lận đận mãi cho tới bây giờ, dù biết rằng lẽ trời đất thịnh suy, suy thịnh cùng với những thăng trầm hưng phế của lịch sử.

Tôi đã đọc Việt Nam Nước Tôi suốt một đêm mà lòng mình cảm thấy chứa chan hạnh phúc. Bao nhiêu câu hỏi đặt ra mà tôi ấm ức mãi vì không tìm được lý giải khiến tôi canh cánh mãi bên lòng đã được trình bày cặn kẽ sáng tỏ. Lần đầu tiên tôi được đọc một quyển sách về lịch sử Việt với những lý lẽ thuyết phục nhất về nguồn cội dân tộc nên hôm nay, tôi muốn chia xẻ với tất cả những người Việt nam yêu nước thương nòi về nguồn cội dân tộc.

Bước sang thiên niên kỷ thứ Ba của nhân loại, cơ duyên vận nước sắp đổi thay nên sử gia Phạm Trần Anh đã được điểm hóa để viết những tác phẩm để phục hồi sự thật khách quan của lịch sử, giúp cho chúng ta nhìn lại “Khuôn mặt Ngàn đời của Nòi giống Việt” nổi trôi theo vận nước. Chính vì vậy, tác phẩm của sử gia Phạm Trần Anh được xem như một “Quyển sách Gối đầu giường” không thể thiếu được của một người Việt Nam yêu nước thương nòi, nhất là các bạn trẻ thanh niên sinh viên phải tìm hiểu, nghiền ngẫm để làm hành trang trên conđường cứu quốc và kiến quốc để Phục Hưng đất nước Việt Nam.

Điều tôi tâm đắc nhất là ông Phạm Trần Anh là một người yêu nước nồng nàn, một chiến sĩ đấu tranh cho dân chủ tự do dám hy sinh cả tính mạng mình cho dân tộc. Tấm lòng yêu nước đến cùng cực của ông còn thể hiện trong những tác phẩm lịch sử của ông. Thật vậy, sử gia Phạm Trần Anh đã khẳng định lập trường rõ rệt khác với những sử gia từ Trần Trọng Kimđến Đào Duy Anh là ông “chỉ dùng chữ nhà cho những triều đại của Việt Nam vì nhà là cái gì thân thiết nhất, gần gũi nhất, cái gì của mình nên không thể dùng chữ nhà cho các triều đại Tầu Hán như nhà Hán, nhà Minh, nhà Thanh mà các sử gia trước đây thường dùng bừa bãi lẫn lộn”. Điều này chứng tỏ rằng người tù bất khuất Phạm Trần Anh không chỉ là một chiến sĩ cách mạng đã đứng lên đấu tranh lật đổ bạo quyền Cộng sản mà ông quả thực là một nhà cách mạng ngay trong lĩnh vực lịch sử. Thật vậy, do ảnh hưởng vào sách sử cũng như học vị nên từtrước tới nay, chưa một sử gia nào dám đặt lại vấn đề, chưa dám xét lại những gì ghi chép trong sách sử dù có thấy một vài điểm vô lý. Đối với lĩnh vực sử học, việc làm này xem như “Phạm húy”, liều lĩnh dại dột dám phản bác chống lại những “Khuôn vàng thước ngọc” của tiền nhân từ hàng nghìn năm nay. Thế nhưng, sử gia Phạm Trần Anh đã dám làm điều đó để “phục hồi sự thật lịch sử, Trả lại những gì của lịch sử cho lịch sử” làm cho mọi người phải đặt lại vấn đề, gạt bỏ nhận định sai lầm từ trước đến nay về lịch sử của dân tộc Việt.

1. Thứ nhất là sử gia Phạm Trần Anh đã phục hồi sự thật lịch sử về “Cái gọi là văn minh Trung Quốc” chính là nền văn minh của Việt tộc. Học giả thời danh J Needham, một nhà Trung Hoa Học người đã nói: “Sự thật bị che phủ hàng ngàn năm cùng với ảnh hưởng của ngàn năm thống trị nô dịch văn hóa khiến ngay cả người Việt cũng ngỡ ngàng, không tin đó là sự thật …”.Sử gia Phạm Trần Anh viết: “Ngũ Kinh không phải của Hán tộc mà chính là của Việt tộc. Sách Trang Tử kể chuyện Khổng Tử gặp Lão Tử. Khổng Tử nói: “Khâu này chỉ khảo cứu sâu 6 kinh là Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu”. Như vậy thời Khổng Tử bộ Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu đã có từ lâu và được gọi là “Kinh”. Chính bộ “Trung Quốc Văn Học Sử” do“Bắc Kinh Đại học, Trung văn hệ” biên soạn viết rõ ràng là “Tên gọi Thi Kinh là do Hán Nho thêm vào”. Sử gia chính thống Hán tộc Tư Mã Thiên viết “Xưa kia, Thi vốn có hơn 3 ngàn bài,đến Khổng Tử chỉ lấy 305 bài hợp với việc thực thi lễ nghĩa, đều đem phổ nhạc, cố tìm âm hợp với nhạc Thiều, Vũ, Nhã, Tụng”.

Cổ văn Thượng Thư do Lỗ Cung Công con của Lỗ Cảnh Đế tìm thấy khi phá ngôi nhà cũ của Khổng Tử để xây cất lại lớn hơn. Trong bức vách nhà có những sách cổ thời Ngu, Hạ,Thương, Chu, Luận Ngữ, Hiếu Kinh đều viết bằng chữ cổ gọi là “Khoa Đẩu Tự” là lối chữ của tộc Việt theo hình con nòng nọc. Sách Hán Thư, Thiên văn Nghệ chí chép “Cổ văn Thượng Thư được tìm thấy trong vách tường nhà Khổng Tử. Khổng An Quốc, hậu duệ của Khổng Tử trước đây đã biết bộ sách này có 29 thiên do Phục Sinh truyền, chưa kể Thái Thệ còn thừa ra 16 thiên, tính ra 45 quyển, 58 thiên không kể bài tựa... nay lại được thêm 16 quyển”. Như vậy, rõ ràng là Luận Ngữ, Ngũ Kinh có trước thời Khổng Tử và được viết bằng lối chữ “KhoaĐẩu” là lối chữ viết theo hình dáng của con nòng nọc của Việt tộc thời xa xưa. Lối chữ “Nòng Nọc” của người Việt cổ cùng với nền văn hóa Hòa Bình đã lan truyền khắp Trung Đông, góp phần tạo nên những nền văn minh cổ đại khác của nhân loại.

Thực tế lịch sử này được Hội nghị Quốc tế các nhà Trung Hoa học trên khắp thế giới kể cả Trung Quốc và Đài Loan hội thảo về “Nguồn Gốc Nền Văn Minh Trung Quốc” tại đại học Berkeley Hoa Kỳ năm 1978 đã thừa nhận là “Không thể tìm ra đủ dấu vết chứng cớ để phân biệt giữa Hán tộc và các tộc người không phải là Tàu trên phương diện lịch sử. Giới nghiên cứu phải tìm về dấu tích văn hoá mà về văn hoá thì Hán tộc chịu ảnh hưởng của Di Việt”. Như vậy, Di Việt làm chủ Trung nguyên trước Hán tộc và các triều đại Thương, Chu tiếp thu văn hóa của Di Việt ở phương Nam. Thực tế này đã được chính “Người Thầy Muôn Đời” của Hán tộc là Khổng Tử đã ca tụng tính ưu việt của nền văn minh rực rỡ của Bách Việt ở phương Nam. Trong sách Trung Dung Khổng Tử đã viết như sau: “Độ luợng bao dung, khoan hòa giáo hóa, không báo thù kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của phương Nam, người quân tử ứng xử nhưvậy... Mặc giáp cưỡi ngựa, xông pha giáo mác, đến chết không chán, đó là sức mạnh của phương Bắc. Kẻ cường đạo hành động như thế! ”. Chính Hán Hiến Đế cũng phải thừa nhận: “Giao Chỉ là đất văn hiến, núi sông un đúc, trân bảo rất nhiều, văn vật khả quan, nhân tài kiệt xuất” nên sử gia chính thống của Hán tộc là Tư Mã Thiên cũng đã phải thừa nhận một sự thực là“Việt tuy gọi là man di nhưng tiên khởi đã có đại công đức với muôn dân vậy...”. Ngày nay, sử gia hàng đầu của Trung Quốc là Trương Quang Trực (Chang Kwang Chih), đã phải thừa nhận là tuy Trung Quốc là một quốc gia lớn với một nền văn hoá lớn nhưng nó đã phải thâu nhập tinh hoa của nhiều nền văn hoá hoá hợp lại: “Những nền văn hoá địa phương thời tiền sử, sau khi thống nhất đã trở thành một bộ phận của văn hoá Trung Quốc. Nguồn gốc thực sự của Hoa Hán chỉ là phần nhỏ nhưng sau khi triều Tần thống nhất thì dân tộc cả nước thống nhất ấy làdân tộc Trung Hoa”.

2. Thứ hai là trong lịch sử chưa một ai dám phê bình Tư Mã Thiên, sử gia chính thống của Hán tộc, một ngôi sao Bắc Đẩu trong lịch sử phương Đông nói riêng và cả nhân loại nói chung. Sửgia Phạm Trần Anh là người đầu tiên đã chứng minh một cách khoa học nhất, thuyết phục nhất rằng nhân vật Hoàng Đế mà sử gia Tư Mã Thiên viết là Tổ Tiên của nhân dân Trung Quốc, người khai mở lịch sử Trung Quốc là không đúng sự thật:“Theo Từ Hải thì Hoàng Đế, Li Vưu (Xuy Vưu) đều là những thị tộc trưởng nên sở dĩ có chiến tranh là để giành ngôi vị thủ lĩnh màthôi. Gần đây, học giả Eberhard một nhà Trung Hoa học nổi tiếng đã công bố một sự thật là vào khoảng năm 450 TDL, một người viết sử đã đưa Hoàng Đế nguyên là một vị thần nhỏ trongđịa phận Sơn Đông lên làm vị vua đầu tiên của Hán tộc. Nếu Hoàng Đế là một nhân vật có thật thì Đế Hoàng ở Sơn Đông phải là người Việt cổ, hậu duệ của Thần Nông. Sơn Đông là địa bàn cư trú của Lạc bộ Trãi của Việt tộc mà cổ sử Trung Quốc gọi là rợ Đông Di nên vị thần Đế Hoàng chính là người Việt cổ nhưng sử gia Tư Mã Thiên nhận là thủy tổ của người Trung Quốc (Hán tộc) để tô điểm cho lịch sử Trung Quốc nên viết Đế Hoàng theo cú pháp Hán tự là Hoàng Đế.

Mạnh Tử xác nhận vua Thuấn là người Đông Di và từ điển Từ Hải cũng xác định là tổ tiên và con cháu Thuấn đều được phong ở đất Đông Di. Thế mà Tư Mã Thiên, sử quan chính thống Đại Hán lại bao biện cho rằng Thuấn bị xem là người Đông Di vì thói quen hồi đó gọi là như thế. Luận điệu này không có tính cách thuyết phục. Tại sao lại có thói quen gọi một ngườiđồng chủng nhất là một vị vua là rợ Đông Di? Chính bản thân Tư Mã Thiên chỉ can gián vua mà đã bị tội “Cung Hình” phải cắt bỏ bộ phận sinh dục huống chi gọi vua là man di mọi rợ, chắc chắn phải bị tru di tam tộc!”.

3. Thứ ba, sử sách Trung Quốc ghi “Tam Hoàng Ngũ Đế” là không đúng mà thực ra chỉ có nhị hoàng là Phục Hy, Thần Nông. Truyền thuyết khởi nguyên dân tộc kể lại là dòng Thần Nông phương Bắc như Đế Nghi, Đế Lai, Đế Du Võng, Đế Hoàng, Đế Xuyên Húc, Đế Cốc, Đế Nghiêu, Đế Thuấn, Đế Vũ lập ra nhà Hạ trước đây sách sử ghi là của Trung Quốc mà sự thật làcủa Việt tộc. Việt Nam Nước Tôi viết: “Theo các nhà Tiền Sử học thì Malayo-Viets tức Bách Việt đã định cư ở Trung Nguyên cách đây ít nhất là 6 ngàn năm hoàn toàn phù hợp với niên đại trong huyền sử ghi rằng họ Phục Hy làm vua từ năm 4.480 đến 3.220 TDL và họ Thần Nông làm vua từ năm 3.220 TDL đến năm 3.080 TDL. Thời Xuân Thu là thời kỳ phục hưng của Việt tộc với sự trổi dậy của các quốc gia Bách Việt, hết Ngô đến Việt xưng “Bá” rồi tới Sở lãnh đạo liên minh 6 nước trung nguyên chống Tần giành quyền thống lĩnh trung nguyên. Chính vìvậy, thời kỳ này mới xuất hiện các nhân vật huyền sử Việt từ Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông, Đế Hoàng (Hoàng Đế) tới Đế Xuyên Húc, Đế Cốc, Đế Nghiêu và Đế Thuấn và Đế Đại Vũ nhàHạ của Việt tộc. Chính Khổng Tử, người được xem là “Vạn Thế Sư Biểu”, bậc thầy muôn đời của Trung quốc cũng biết rõ điều này nên chưa hề nhắc tới nhân vật Hoàng Đế của Trung Quốc mặc dù Khổng Tử đã xác nhận rõ là theo phò triều Chu. Trong các tác phẩm Cổ Sử Khảo, Tam Ngũ Lịch, Đông Kỷ, Đế Vương Thế Kỷ thì tất cả đều khẳng định rằng Thần Nông cóliên quan huyết thống với Việt tộc. Nói cách khác, Việt tộc chính là hậu duệ của Thần Nông. Cổ thư Trung Quốc chép đời Nghiêu Thuấn đánh dẹp họ Cộng Công (Hán tộc) vì đã tranh ngôi với Chúc Dung là hậu duệ của Đế Viêm Thần Nông. Vua các nước Trịnh và hoàng tộc một số nước ở bán đảo Sơn Đông như Tề, Lỗ, Trần đều nhận họ là con cháu Thần Thái Sơn và lấy họ Khương của Thần Nông. Như vậy, Thần Nông họ Khương định cư ở đất Khương ở phía Tây nên sử TQ viết là Tây Khương đúng như truyền thuyết kể lại là cháu ba đời của Thần Nông là Đế Minh đi tuần du phương Nam...

4. Thứ tư, sử gia Phạm Trần Anh đã dẫn chứng công trình khảo cổ học để chứng minh dòng Thần Nông phương Bắc gồm Đế Nghi, Đế Lai, Đế Du Võng cho tới nhà Hạ là của Việt tộc. Thật vậy, lịch sử vẫn là lịch sử “Chết cứng” trên nguồn thư tịch, thế nhưng một khi những sự kiện lịch sử này được các công trình khảo cổ khai quật thì trở thành lịch sử “Sống động”. Khảo cổ học chứng minh qua những di chỉ, hiện vật cũng như niên đại khảo cổ được xác định bằng phương pháp đồng vị C 14 thì sự kiện này là một sự thật lịch sử sống động, có giá trịthuyết phục mà không một luận cứ nào có thể phản bác được. Với phương pháp phóng xạ C14, các nhà khảo cổ đã xác minh được những người Ngưỡng Thiều, Long Sơn thuộc chủng Mongoloid ở phương Nam nên chúng tôi gọi là Hoabinhoid => Hoabinhian => Protoviets (Tiền Việt) => Malayo-Viets = Bách Việt (Bai-Yue) mới chính xác. Kết qủa phân tích mã di truyền DNA cho biết người miền Đông và miền Nam Trung Quốc hiện nay có cùng DNA với người Việt Nam và cả cư dân Đông Nam Á nữa. Chứng cứ khảo cổ này đã phục hồi sự thật lịch sử lànhà Hạ trong lịch sử Trung Hoa là của Việt tộc đã định cư ở vùng sông Bộc mà truyền thuyết kể là ngành Thần Nông phương Bắc gồm Đế Nghi, Đế Lai, Đế Du Võng đã tái hợp cùng ngành Thần Nông phương Nam đi lên đã thành lập các triều đại Đế Hoàng, Đế Nghiêu, Đế Thuấn và Đế Hạ Vũ nhà Hạ.

5. Thứ năm, sử gia Phạm Trần Anh là người đầu tiên lý giải truyền thuyết khởi nguyên dân tộc một cách rõ ràng nhất, đầy đủ nhất, trong sáng và thuyết phục nhất chứ không còn hoangđường huyền hoặc như chúng ta vẫn hiểu từ trước đến giờ. Thế là truyền thuyết từ chỗ “U u minh minh” đã trở thành “Minh minh” chứ không còn u u minh minh như trước nữa. “Với tất cả tấm lòng và thái độ trân trọng nghiêm chỉnh và với phương pháp nghiên cứu huyền thoại để tự đặt mình vào hoàn cảnh lịch sử thời cổ đại thì những ẩn ý hàm tàng trong huyền thoại sẽgợi mở sáng tỏ, minh nhiên lý giải những gì ẩn tàng trong bức thông điệp “Huyền Thoại” của tiền nhân gửi gấm cho thế hệ chúng ta. Ý niệm trứng trong huyền thoại biểu trưng Totem vật linh biểu trưng của Việt tộc là tộc người thờ chim là một con vật đứng đầu trong tứ linh: nhất điểu, nhì ngư, tam xà, tứ tượng. Vì vậy, việc Mẹ Âu Cơ mà vật tổ biểu trưng là chim thì việc mẹÂu sinh ra trăm trứng nở ra trăm người con trai trên bình diện tâm linh là bình thường không có gì đáng ngạc nhiên cả…”.

6. Sử gia Phạm Trần Anh đã chứng minh niên đại của truyền thuyết về Thần Nông vào thiên niên kỷ thứ IV TDL hoàn toàn phù hợp với niên đại khảo cổ và kết quả đo chỉ số sọ của các nhà Khảo Tiền Sử về chủng Hoabinhian-Proto-Viets => Indonesian (Malaysian => Malayo-Viets = Bách Việt (Bai-Yue). Theo các nhà Tiền Sử học thì Malayo-Viet tức Bách Việt đã định cư ởTrung Nguyên cách đây ít nhất là 6 ngàn năm. Công trình nghiên cứu sử học của học giả Shi Shi người Trung Quốc thì người U Việt (Gu-Yue) đã làm chủ biển cả cách đây hơn 7 ngàn năm.Đặc biệt, truyền thuyết kể lại rằng bố Lạc dẫn 50 con về “Thủy Phủ,” trước đây chúng ta cho là huyền hoặc thế nhưng địa danh thủy phủ đã được 2 học giả người Pháp là P Gouron và J Loubet tìm ra, đó chính là cảng Thành Đô, phủ Trùng Khánh tỉnh Tứ Xuyên được in trên bản đồ Atlas 1949. Sự thật lịch sử này đã được chính nguồn sách sử cổ Trung Hoa xác nhận khi chép về cộng đồng Bách Việt, đã chứng minh sự thật lịch sử của huyền thoại mà ta cứ tưởng là huyền hoặc hoang đường. Truyền thuyết khởi nguyên dân tộc đã được chính thư tịch cổTrung Quốc thừa nhận sự thành lập của các quốc gia thời Chiến quốc mà họ gọi là Bách Việt ở vùng Giang Nam. Đông Việt tức U-Việt của Việt Vương Câu Tiễn không chỉ ở Triết Giang mà lên tới miền Giang Tô tức Châu Từ, quê hương của gốm sứ Việt cổ nổi tiếng của chi Dương Việt mà kinh đô là Cối Kê. Lý Tế Xuyên đã viết “Việt Điện U Linh” về nước Việt cổ xưa. Mân Việt ở Phúc Kiến, Dương Việt ở Giang Tây, Điền Việt ở Vân Nam, Quỳ Việt ở Tứ Xuyên, Nam Việt ở Quảng Đông, Âu Việt còn gọi là Tây Âu ở Quảng Tây, Lạc Việt trải dài từĐông Bắc Trung Quốc xuống tới Quảng Tây và Bắc Việt Nam. Chính sách sử cổ Trung Quốc ghi rõ cộng đồng Bách Việt cư trú khắp trung nguyên, thế mà sử quan triều Thanh Tiền Hy Tộ đã bóp méo ý nghĩa và sửa lại niên hiệu thành lập nước Văn Lang như sau: “Đến đời Chu Trang Vương (696-682 TDL) ở bộ Gia Ninh có người lạ dùng ảo thuật áp phục được các bộlạc, tự xưng Hùng Vương, đóng đô ờ Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang. Phong tục thuần hậu, chất phác. Chính sự dùng lối thắt nút. Truyền được 18 đời đều gọi là Hùng Vương”.

Trước những sự thật của lịch sử, Trung Quốc đã phải xác nhận là nền văn hoá của họ là do hàng trăm dân tộc góp phần tạo dựng nhưng văn hoá Hán ở vùng Tây Bắc là chủ thể. Thếnhưng chính học giả Trung Quốc Wang Kuo Wei lại cho rằng nơi phát nguyên văn hoá Trung Quốc là ở miền Đông Bắc tức vùng Sơn Đông của Lạc bộ Trĩ chứ không phải ở miền Tây Bắc (Thiểm Tây) như quan niệm sai lầm từ trước đến nay. Thế mà các nhà sử học Mác Xít đã viết sử rập khuôn sử quan triều Thanh và theo nghị quyết của đảng Cộng Sản Việt Nam vềsự thành lập nước Văn Lang trong bộ Lịch sử Việt Nam của Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam như sau: “Sự ra đời của nhà nước Văn Lang đầu tiên của nước ta đời Hùng Vương và Âu Lạc đời An Dương Vương vào giai đoạn Đông Sơn trong thiên niên kỷ thứ I trước công nguyên… Căn cứ theo 15 bộ của nước Văn Lang và nhất là căn cứ vào quá trình chuyển hoá lịch sử nước Văn lang đời Hùng Vương đến nước Âu Lạc đời An Dương Vương, rồi đến 2 quận Giao Chỉ, Cửu Chân thời thuộc Triệu và thuộc Hán, có thể xác định địa bàn của nước Văn Lang tương ứng với vùng Bắc bộ, Bắc Trung bộ nước ta ngày nay và một phần phía Nam tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc” . Trên thực tế, địa bàn cư trú của tộc Việt màsách sử cổ Trung Quốc ghi là các quốc gia Bách Việt ở rải rác khắp lãnh thổ Trung Quốc bây giờ. Các nhà sử học Mác Xít theo quan điểm của đảng Cộng Sản Việt Nam đã cố tình sao chép nguyên văn những xuyên tạc, kéo lùi niên đại thành lập Văn Lang, xác nhận lãnh thổ của Văn Lang chỉ bao gồm phần lãnh thổ Việt Nam hiện nay và 1 phần phía Nam tỉnh Quảng Tây Trung Quốc. Đây chính là một hành động bán nước, phản bội lại công lao của vua Hùng và xương máu của biết bao thế hệ tiền nhân. Việc sửa đổi lịch sử để hợp thức hóa toàn bộ lãnh thổ Văn Lang xưa mà Hán tộc xâm chiếm là một tội ác “Thần Người đều căm hận, Trời Đất chẳng dung tha” của tập đoàn Việt gian bán nước, tội đồ muôn đời của dân tộc.

7. Cuối cùng, sử gia Phạm Trần Anh đã dẫn chứng một sự thật lịch sử mới được khoa học xác nhận phân tích cấu trúc di truyền DNA của Việt tộc đã xác định một lần nữa là Việt tộc làmột đại chủng và hoàn toàn khác biệt với Hán tộc đã làm sáng tỏ vấn nan khúc mắc từ ngàn xưa. Tôi trân trọng cám ơn sử gia Phạm Trần Anh đã dày công nghiên cứu để hôm nay chúng ta có một bộ sử với những chứng cứ khoa học nhất, thuyết phục nhất, đầy đủ nhất và hữu ích nhất cho thế hệ con em Việt Nam chúng ta.

Nguyễn Anh Tuấn (Tiến sĩ Khoa học Chính Trị)

@

Xem "Việt Nam Nước Tôi" online:

Việt Nam Nước Tôi



trả lời


Phạm Trần Anh






THƯ MỜI



VIỆT NAM NƯỚC TÔI

Là tác phẩm sử liệu của nhà biên khảo Phạm Trần Anh, sẽ được giới thiệu tại:
Hội Trường của Nhà Việt Nam - 308 Hillwood Ave, Falls Church VA 22046. Vào lúc 3 giờ chiều Thứ Bảy 08/08/2015.

Với sự yểm trợ của:
Câu Lạc Bộ Văn Học Nghệ Thuật vùng Hoa Thịnh Đốn / Nhà Việt Nam
Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt miền Đông Hoa Kỳ
Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH vùng Đông Bắc Hoa Kỳ
Hội Quốc Gia Hành Chánh vùng Đông Bắc Hoa Kỳ
VietNam Film Club
Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại vùng Đông Bắc Hoa Kỳ
Hội Thơ Ảnh Hoa Thịnh Đốn


*
Giới Thiệu Chương Trình
DS.Nguyễn Mậu Trinh

Diễn Giả:
Nhà Thơ Cao Nguyên
Nhà Văn Lưu Nguyễn Đạt

*
Văn Nghệ phụ diễn:
Ban Văn Nghệ Tình Nghệ Sĩ

*
Ban Tổ Chức:
Cao Nguyên * Nguyễn Mậu Trinh * Lê Thị Nhị
* Chu Lynh * Trịnh Bình An * Nhất Hùng * Đào Trường Phúc

TRÂN TRỌNG KÍNH MỜI



trả lời


Phạm Trần Anh


Tác Giả và Tác Phẩm

* Tiểu sử tác giả PHẠM TRẦN ANH

Sinh năm 1945 tại Nam Định. Tốt nghiệp Học Viện QGHC,
Khóa 4/70 SQTB Thủ Đức. Chủ tịch Mặt Trận Người Việt Tự Do
Diệt Cộng Phục Quốc. Bị CS xử án chung thân năm 1977. Do Hội
Ân Xá Quốc Tế can thiệp, được trả tự do sau hơn 20 năm tù. Định
cư Hoa Kỳ năm 2006.

.Tốt nghiệp Học viện Quốc Gia Hành Chánh Sài Gòn VN.

. Biên Khảo Lịch sử và văn hóa Dân tộc Việt Nam.

. Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam.

. Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại (VAPC).

. Hội Nhân sĩ Diên Hồng Thời Đại.

. Hội Quốc Tế Nghiên Cứu Biển Đông Nam Á.

. Mặt Trận Dân Tộc Cứu Quốc.

** Tác phẩm đã xuất bản:

. NGUỒN GỐC VIỆT TỘC.
. HUYỀN TÍCH VIỆT.
. ĐOẠN TRƯƠNG BẤT KHUẤT.
. SƠN HÀ NGUY BIẾN.
. HOÀNG SA TRƯỜNG SA,
- Chủ Quyền Lịch sử của Việt Nam.
. CHAN CHỨA BAO TÌNH.
. QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG.
. VIỆT NAM THỜI LẬP QUỐC.
. LƯỢC SỬ VIỆT NAM I & II
. VIỆT NAM NƯỚC TÔI.
. VIETNAM, MY COUNTRY



VIỆT NAM NƯỚC TÔI

Trong suốt dòng lịch sử, dân tộc Việt đã đương đầu với bao lần xâm lược của Hán tộc phương Bắc, tiền nhân chúng ta đã chống trả quyết liệt. Kẻ thù Hán tộc là tộc người du mục chuyên sống trên lưng ngựa, thạo việc chiến tranh chém giết nên đã thắng Việt tộc. Các cuộc xâm lược của Hán tộc xuyên suốt lịch sử đã khiến Việt tộc, cư dân nông nghiệp hiền hòa, đời sống thiên về văn hóa, lễ hội phải thiên cư xuống phương Nam. Xâm lược bành trướng là bản chất cố hữu của giặc Tầu-Hán, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc nên đất nước chúng ta bị Tàu đô hộ gần một ngàn năm. Thế nhưng, sức sống vô biên của dân tộc Việt đã tạo nên những kỳ tích oai hùng, những chiến công có một không hai trong lịch sử nhân loại. Trên thế giới không có một dân tộc nào đã chiến đấu để giành độc lập sau gần một ngàn năm bị kẻ thù thống trị. Lịch sử nhân loại đã phải ghi lại “Kỳ Tích” có một không hai này của một dân tộc có gần năm ngàn năm văn hiến với nền văn minh đạo đức xa xưa. Chính truyền thống yêu nước thương nòi của dòng giống Rồng Tiên đã viết lên những trang sử đẹp nhất nhân loại.

Nữ sĩ Blaga Dimitrova viết: “Việt Nam là xứ sở của địa linh nhân kiệt, một dân tộc với truyền thuyết đầy bí ẩn và một lịch sử quá oai hùng đến nỗi khó mà phân biệt đâu là huyền thoại, đâu là hiện thực nữa!” . L’aurroussau một học giả Pháp nghiên cứu lịch sử Việt Nam đã nhận định về sức sống huyền diệu của một dân tộc nông nghiệp bị Hán tộc du mục thống trị gần 1 ngàn năm mà vẫn kiên cường bất khuất, vùng lên chiến đấu để giành lại độc lập dân tộc: “Không có gì thắng được cái sức sống mạnh mẽ của người Việt Nam”. Nhà Việt Nam học Paul Mus cũng phải thừa nhận một sự thật mà không một dân tộc nào có được: “Ngay từ ngày lập quốc, tất cả then chốt của lịch sử Việt Nam đều ở cái tinh thần đối kháng đã biết kết hợp một cách kỳ lạ, một bên là năng lực đồng hoá lạ lùng, bên kia là ý chí quật khởi quốc gia không chịu khuất phục mặc dầu bị thua trận, bị phân tán, bị chinh phục. Hơn một ngàn năm bị sát nhập hoàn toàn vào Trung Quốc, từ thế kỷ thứ hai trước kỷ nguyên đến thế kỷ thứ mười sau kỷ nguyên, thay vì làm cho dân tộc Việt Nam kiệt quệ thì ngược lại đã làm cho dân tộc Việt trở nên hùng cường”.

Đặc biệt, trong bộ Bách khoa từ điển “Encyclopaedia Universalis” xuất bản ở Paris năm 1990 do nhà sử học Phillipe Devilière chủ biên với sự tham khảo hơn 60 học giả Âu Mỹ đã viết: “Lịch sử Việt Nam là gì? Đó là cuộc đấu tranh không ngừng cho sự tồn vong của cả một dân tộc. Trải qua hơn 4000 năm lịch sử, dân tộc Việt Nam đã chứng tỏ có một sức sống phi thường. Suốt 10 thế kỷ bị Trung Quốc thôn tính, người Việt Nam vẫn giữ nguyên bản sắc dân tộc và liên tiếp nổi dậy đánh đuổi kẻ xâm lược ỷ vào sức mạnh tưởng có thể khuất phục được họ. Lịch sử đã đặt lòng tin vào dân tộc ấy và đã chứng minh khả năng đề kháng, óc sáng tạo, tính kiên trì và sự thích ứng với mọi cuộc chiến gian khổ nhất, khó khăn nhất và kể cả không cân sức nhất. Người Việt Nam tự hào với quá khứ của mình, tôn vinh những bậc vĩ nhân đã tô điểm rạng rỡ quá khứ đó và quá khứ dù xa xăm hay gần đây luôn luôn có mặt khắp nơi trên đất Việt Nam, tác động mạnh mẽ vào hiện tại và tương lai. Việt Nam giữ một vị trí chiến lược rất quan trọng ở khu vực Đông Nam Á và Việt Nam có bề dày lịch sử hơn hẳn nhiều vương quốc châu Âu như Pháp, Anh, Tây Ban Nha dù rằng đối với phương Tây, hai tiếng Việt Nam vẫn còn mới mẻ”.

Là người Việt Nam yêu nước, chúng ta phải tri ân những anh hùng liệt nữ đã đời đời hy sinh để tổ quốc trường tồn. Nhớ ơn tiền nhân chưa đủ mà chúng ta phải học tập, noi gương các danh nhân anh hùng khai sáng văn hoá, các anh hùng dân tộc của thời xa xưa thấm đậm trong tâm thức Việt để rồi dân tộc sẽ sản sinh ra những anh hùng của một ngày mai. Chính vì vậy, có thể nói lịch sử là ngọn nguồn của lòng yêu nước, chính lịch sử quá khứ hào hùng của một dân tộc sẽ là tương lai xán lạn huy hoàng của dân tộc đó. Nói theo sử gia thời danh Arnol Toynbee thì “Nếu thiếu những sự thách thức tức là thiếu yêu cầu bức bách đòi hỏi phải biết vận dụng được một cách vượt bậc khả năng xoay chuyển tình thế thì không có điều kiện để một cộng đồng người thể hiện được sức mạnh và sự sáng tạo của mình. Chính sự đáp ứng thích hợp trước những thách thức, sự vận dụng một cách vượt bậc khả năng xoay chuyển tình thế, đã đưa tới những thành tựu văn hoá lớn tạo nên bản lĩnh của các dân tộc và có thể nói lịch sử hình thành một nền văn minh lớn, không bao giờ diễn ra trên một con đường bằng phẳng với những bước đi bình thản”. Trên thế giới có lẽ không một dân tộc nào mà chịu đựng thử thách gian nan khốn khó hơn dân tộc Việt. Lịch sử cũng đã chứng minh dân tộc ta đáp ứng được những yêu cầu bức bách, sự thách thức của từng thời đại để Việt Nam là một trong những nền văn minh của nhân loại còn tồn tại mãi đến ngày nay.

Lịch sử Việt là lịch sử của sự thăng trầm từ khi lập quốc đến ngày nay trải qua hàng ngàn năm đô hộ của giặc Tàu, gần một trăm năm nô lệ giặc Tây và hơn nửa thế kỷ chiến tranh ý thức hệ, Cộng sản thống trị và nô dịch dân tộc. Trong suốt trường kỳ lịch sử, Hán tộc bành trướng với ưu thế của Hán tộc du mục hiếu chiến, nước lớn đất rộng người đông đã xâm chiếm đất đai, đánh đuổi Việt tộc từ lãnh thổ Trung Quốc bây giờ chạy xuống phương Nam. Tầu Hán với những thủ đoạn thâm độc xóa đi mọi dấu vết cội nguồn, bóp méo sửa đổi lịch sử khiến thế hệ sau chỉ biết tìm về lịch sử trong một mớ “chính sử” hỗn độn mơ hồ. Xâm Lược bành trướng quỷ quyệt là bản chất cố hữu của kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt: Tầu Hán xưa và đế quốc mới Trung Cộng ngày nay.

Lịch sử là ngọn nguồn của lòng yêu nước nên chúng ta phải tìm về ngọn nguồn dân tộc để hiểu rõ hơn công lao của vua Hùng mở nước, của biết bao thế hệ tiền nhân đã hy sinh mồ hôi, nước mắt và xương máu để bảo vệ mảnh giang sơn gấm vóc cho con cháu chúng ta. Chúng ta phải đọc sách sử để hiểu rõ đạo lý cao đẹp làm người Việt Nam, hiểu rõ lòng yêu nước thương nòi của dân tộc Việt kết thành truyền thống kiên cường bất khuất đã tạo nên những kỳ tích oai hùng có một không hai trong lịch sử nhân loại.

Trên thế giới, không một dân tộc nào chịu đựng những thử thách, những gian nan khốn khó hơn dân tộc Việt. Lịch sử đã chứng minh dân tộc ta đã đáp ứng được những thách thức, vượt qua được những nghiệt ngã bức bách của từng thời kỳ để Việt Nam là một trong số ít ỏi những nền văn minh của nhân loại còn tồn tại mãi đến ngày nay. Trải qua gần một ngàn năm bị Tầu Hán thống trị, Việt tộc vẫn vùng lên giành lại nền độc lập tự chủ của một dân tộc nhỏ bé nhưng bất khuất kiên cường. Lịch sử đã chứng minh sức sống mãnh liệt vô biên của dân tộc đã đánh bại kẻ thù xâm lược bạo tàn. Dân tộc Việt sẽ chiến thắng nội thù Việt gian Cộng sản và đế quốc mới Trung Cộng xâm lược để cứu quốc và hưng quốc.

Đất nước Việt Nam của chúng ta sau ngày 30-4-1975 với sự thống trị của tập đoàn Việt gian Cộng Sản là một chuỗi những tang thương mất mát, lòng người ly tán, nghèo nàn lạc hậu, đất nước mất dần vào tay Tầu Cộng. Bên cạnh những mất mát đó, điều kiện khách quan của lịch sử khiến hàng triệu đồng bào phải rời bỏ quê hương ra đi tỵ nạn trên khắp thế giới. Sau gần 40 năm đồng bào Việt Nam cư trú tại Hải ngoại đã lên tới hơn 4 triệu người Việt Nam với số lượng trí thức chuyên viên giỏi nhất và nhiều nhất thế giới mà không một dân tộc nào có được. Tinh thần hiếu học cùng với ý chí tiến thủ, con em của chúng ta đã thành đạt và đã đóng góp rất nhiều với những quốc gia sở tại như những công dân danh dự của nước này. Điều kiện khách quan của lịch sử cũng đã tạo cho Việt Nam chúng ta có những người Mỹ gốc Việt, người Nga gốc Việt, người Nhật gốc Việt, người Đức gốc Việt, người Anh gốc Việt, người Pháp gốc Việt… người Việt chúng ta, ngôn ngữ của chúng ta trải ra khắp thế giới. Với truyền thống yêu nước thương nòi của người Việt khắp nơi trên thế giới mặc dù sinh sống ở đâu lòng vẫn hướng về tổ quốc, về quê hương đất nước Việt Nam vẫn quây quần tụ hội trong tình ruột thịt, nghĩa đồng bào dưới “Mái Nhà Việt Nam” tại mỗi quốc gia, mỗi tiểu bang, mỗi quận hạt thành phố. Mai đây, khi lịch sử chuyển đổi, những người Việt Nam yêu nước sẽ trở về mang theo tài sản, vốn tri thức để đóng góp tài năng trong công cuộc kiến quốc và hưng quốc Việt Nam. Thế hệ trẻ sẽ ở lại hội nhập vào dòng chính của đất nước, quê hương thứ hai sau Việt Nam. Tất cả sẽ tạo nên một sức mạnh Việt Nam tiềm tàng, một Việt Nam siêu biên cương chắc chắn sẽ đóng góp hết sức to lớn trong công cuộc kiến thiết quốc gia và phục hưng quốc gia Đại Việt Nam trong tương lai.

Là con dân nước Việt, chúng ta phải hiểu rõ tất cả những thăng trầm hưng phế của dòng vận động lịch sử mà biết bao thế hệ tiền nhân đã vun trồng bằng máu và nước mắt để viết lên những trang sử hào hùng của dân tộc. Chúng ta có quyền tự hào là người Việt Nam và tin tưởng hãnh tiến hướng về tương lai xán lạn huy hoàng của dân tộc trước ngưỡng cửa thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại. Tuy nhiên, chúng ta không thể ngồi yên trông chờ vào cái gọi là “Định mệnh của Lịch sử” mà chúng ta phải nhớ rằng, lịch sử hôm nay chính là sự đóng góp của toàn dân trong những ngày qua và sự nhiệt tình đóng góp của toàn dân hôm nay sẽ là lịch sử ở ngày mai. Lịch sử là cuộc trưng cầu dân ý mỗi ngày của một dân tộc, thế nên chính chúng ta, mỗi ngày đang góp phần lịch sử vào tương lai của dân tộc chúng ta…

Người xưa nói rằng “Ôn cố Tri tân”, chúng ta cùng nhau ôn lại những trang sử hào hùng oanh liệt để cùng nắm chặt tay nhau quyết tâm “Diệt kẻ nội thù chống quân xâm lược: Đế quốc mới Trung Cộng” để cứu quốc và kiến quốc.

Với sức sống vô biên của người Việt Nam chúng ta, với “Đại Nghĩa Dân Tộc Cao Cả”, chúng ta nguyện làm hết sức mình, quyết tâm tranh đấu cho:

Tổ Quốc Việt Nam Trường Tồn

Dân Tộc Việt Nam bất diệt

Đất nước Việt Nam Phú Cường

Đồng bào Việt Nam sung túc an lạc.

PHẠM TRẦN ANH

@&@

Việt Nam Nước Tôi
Biên khảo – Phạm Trần Anh

Việt Nam Nước Tôi đưa ra những lập luận và dữ liệu nhằm chứng minh rằng cái-gọi-là nền văn minh Trung Hoa thật ra chính là nền văn minh của đại chủng Bách Việt!

Sách được thực hiện với ý hướng tóm gọn lịch sử Việt từ thời lập quốc cho đến ngày nay.
Sách gồm 9 Chương:
• 1-Việt Nam (thiên nhiên, dân tộc…)
• 2-Truyền thuyết khởi nguyên dân tộc (cội nguồn trăm họ, nền minh triết VN…)
• 3-Lịch sử tiến hóa của dân tộc (nền văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn, Vân Nam-Ba Thục…)
• 4-Nguồn gốc dân tộc Việt (lộ trình thiên cư của Hoabinhian, Vua Hùng lập quốc Văn Lang…)
• 5-Người Việt cổ (Văn hóa, xã hội, kinh tế thời Hùng Vương)
• 6-Việt Nam thời vong quốc (các cuộc xâm lược của Hán tộc…)
• 7-Kỷ nguyên độc lập dân tộc (các Nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ…)
• 8-Những chiến công hiển hách trong lịch sử (Trưng Nữ Vương, Ngô Quyền, Lê Đại Hành…)
• 9-Việt tộc là một đại chủng (phục hồi sự thật lịch sử, Nhà Hạ là của Việt tộc, Hán tộc lấy rồng của Việt tộc, Giặc Ân xâm lược VN là sự thật, Ngũ Kinh là của Việt tộc, chữ Trung Hoa là chữ Việt…)

Ngày nay, với các công trình nghiên cứu về dân tộc học, ngôn ngữ học, khảo cổ học, huyết học và và cấu trúc mã di truyền DNA, đại dương học v.v... đã chứng minh rằng:
* 1- Trung Hoa là một quốc gia lớn với một nền văn hóa lớn nhưng đã phải thâu nhận tinh hoa của nhiều nền văn hóa hợp lại * 2- Nền văn hóa Hòa Bình là nền văn hóa tối cổ của nhân loại
* 3- Việt Nam là một dân tộc có lịch sử lâu đời nhất bắt đầu thời kỳ lập quốc với quốc gia Xích Quỷ sơ khai của tộc Việt.

Tiểu sử tác giả PHẠM TRẦN ANH
Sinh năm 1945 tại Nam Định. Tốt nghiệp Học Viện Quốc Gia Hành Chánh.
Khóa 4/70 SQTB Thủ Đức. Chủ tịch Mặt Trận Người Việt Tự Do Diệt Cộng Phục Quốc. Bị CS xử án chung thân năm 1977. Do sự can thiệp của Hội Ân Xá Quốc Tế, ông được trả tự do sau hơn 20 năm tù.
Định cư Hoa Kỳ năm 2006. Ông là phó hội trưởng Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị Và Tôn Giáo Việt Nam / Liên Hội Âu Châu.

Tác phẩm đã xuất bản:
- Nguồn Gốc Việt Tộc
- Huyền Tích Việt
- Đoạn Trường Bất Khuất
- Sơn Hà Nguy Biến
- Hoàng Sa-Trường Sa: Chủ Quyền Lịch Sử của Việt Nam
- Chan Chứa Bao Tình, Quốc Tổ Hùng Vương
- Việt Nam Thời Lập Quốc
- Lược Sử Việt Nam I & II.

@

VIỆT NAM NƯỚC TÔI
Nxb Việt Nam Ngày Mai - 605 trang - Giá 30.0 USD
Mua sách: Ngan Hoang - 12911 Josephine St #D, Garden Grove, CA 92841
Email: dienhongthoidai@gmail.com; Phone: (714)332-9243

(Trich: TIN SÁCH số 13 tháng 5/2015)



trả lời


Phạm Trần Anh


Đọc Giả với tác phẩm Viêt Nam Nước Tôi:


“Nguồn gốc Việt tộc là một tác phẩm giá trị với những khám phá mới lạ mà từ trước tới nay, những sử gia chưa ai đề cập tới”.

Cố Đại Lão HT Thích Đức Nhuận

@

Công trình nghiên cứu công phu của Tác gỉa Phạm Trần Anh về Huyền Tích Việt đã góp phần rất lớn vào công việc tìm hiểu nguồn gốc của tộc Việt, đem lại nhiều hãnh diện cho dân tộc Việt Nam, giúp chúng ta có những kiến thức vững chắc hơn về nền văn hiến của chúng ta. Chính nền văn hiến đó đã là nền tảng của văn hóa Trung Hoa sau này. Tác phẩm rất xứng đáng có một chỗ đứng quan trọng trong tủ sách của người VN, nhất là cho các thế hệ sau này.

GS TS Nguyễn Thanh Liêm, Thứ Trưởng Giáo Dục VNCH

@

Tác giả là người có kiến thức về văn học và sử học VN và hơn thế nữa, tác giả là một người yêu quê hương và tự hào về dân tộc VN. Hôm nay, tôi xin phép được nói ngay là với tôi, tác giả là người bạn tâm giao và cuốn sách này là một cuốn sách quý cần có trong tủ sách gia đình.

Nhà văn Toàn Phong, Khoa học gia Nguyễn Xuân Vinh

@

Kết quả mới nhất thuyết phục nhất về phân tích cấu trúc di truyền DNA của Việt tộc đã xác định một lần nữa là Việt tộc là một đại chủng và hoàn toàn khác biệt với Hán tộc làm sáng tỏ vấn nan khúc mắc từ ngàn xưa. Xin cám ơn sử gia Phạm Trần Anh đã dày công nghiên cứu để hôm nay chúng ta có một bộ sử đầy đủ nhất, hữu ích nhất cho thế hệ con em Việt Nam chúng ta.

Tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn (Khoa học Chính Trị)

@



trả lời


Phạm Trần Anh


CHƯƠNG TRÌNH
Buổi Giới Thiệu Tác Phẩm "Việt Nam Nước Tôi"


* Chào Quốc Kỳ Mỹ / Việt Nam Cộng Hòa
(Video - VietNam Film Club)

* Lời Ngỏ chào mừng quan khách và tác giả
(DS. Nguyễn Mậu Trinh)

* Giới thiệu tác giả
(Nhà Thơ Cao Nguyên)

* Giới thiệu tác phẩm
(Nhà Thơ Lưu Nguyễn Đạt)

* Văn Nghệ
(Ban Văn Nghê Tình Nghệ Sĩ)

* Tâm tình của tác giả
(Nhà biên khảo Phạm Trần Anh)

* Tiệc Trà

* Trao đổi cảm tưởng giữa tác giả và quan khách

* Cảm tạ quan khách * Tặng quà và chụp hình lưu niệm



trả lời


Phạm Trần Anh


Việt Nam Thi Sử

Việt Nam Thi Sử truyền ghi
Âu Cơ Tiên Nữ kết nghì Lạc Long
Công Chúa Viêm Đế vốn dòng
Theo cha du ngoạn non bồng Nam phương
Động Đình kết mối uyên ương
Thuyền quyên lòng đã mười thương anh hùng
Sắc cầm hòa hiệp nguyện chung
Trăm năm kết nghĩa vô cùng nên thơ
Ba sinh hương lửa đợi chờ
Mặn nồng tình nghĩa ngây thơ thẹn thùng
Bọc điều trăm họ thai chung
Đồng bào tiếng gọi vô cùng Việt Nam
Thân thương cao cả vô vàn
Hồn thiêng sông núi mang mang lòng người
Truyền kỳ lịch sử bao đời
Cội nguồn dân tộc tuyệt vời Rồng Tiên.

Phạm Trần Anh



trả lời


Phạm Trần Anh


CHƯƠNG TRÌNH

Buổi Giới Thiệu Tác Phẩm "Việt Nam Nước Tôi"

1- Chào Quốc Kỳ Mỹ / Việt Nam Cộng Hòa
(Video - VietNam Film Club)

2- Lời Ngỏ chào mừng quan khách và tác giả
(DS. Nguyễn Mậu Trinh)

3- Giới thiệu tác giả
(Nhà Thơ Cao Nguyên)

4- Gioi thieu tac pham: "History Of VietNam"
(Nha Van( Trinh Binh An)

* Van Nghe:
Nghe Si Bach Mai dien ngam bai tho:"Viet Nam Thi Su"

5- Giới thiệu tác phẩm
(Nhà Thơ Lưu Nguyễn Đạt & Nha bien khao Pham Tran Anh)

* Văn Nghệ
- Ca Si Loc Khue trinh bay bai: " Ba Me Que"
- Ban Van Nghe dong ca bai : "Viet Nam Que Huong Ngao Nghe"

6- Tâm tình của tác giả
(Nhà biên khảo Phạm Trần Anh)

7- Tiệc Trà

8- Trao đổi cảm tưởng giữa tác giả và quan khách

9- Tac Gia Cảm tạ quan khách

10-Tặng quà và chụp hình lưu niệm



trả lời


Phạm Trần Anh


Giới thiệu Tác phẩm "Việt Nam Nước Tôi" của Phạm Trần Anh
(Đài truyền hình Việt Nam vùng Hoa Thịnh Đốn)

Phần 1:

https://www.youtube.com/watch?v=cN5WNNx9_OM&feature=youtu.be

Phần 2:

https://www.youtube.com/watch?v=p9RRIFdhPjo



trả lời


Phạm Trần Anh


Cảm Ơn Đời và Cảm Ơn Người

Niềm vui thường đến bất ngờ
sáng lên facebook không ngờ thấy tôi :D
trên trang FB của Phamtran Anh

Bạn đã nhắc lại một kỷ niệm đẹp của tôi được chụp hình với khoa học gia Dương Nguyệt Ánh khi tặng chị sách "History Of VietNam" của nhà biên khảo Phạm Trần Anh. Dù đây không phải là lần đầu tôi được gặp người "hậu duệ" của Việt Nam Cộng Hòa luôn nghĩ đến quốc gia dân tộc.

Cảm ơn những tấm lòng luôn hướng về quê hương từ cảm nhận đến hành văn qua diễn đạt tư tưởng chính mình, hay qua tham khảo dòng Sử Việt để chuyển tải về sau những nét đẹp trên hành trình Văn Hóa Sử Việt Nam .

Nhân đây, xin gởi lại một phần chương trình giới thiệu sử liệu "Việt Nam Nước Tôi" của nhà biên khảo Phạm Trần Anh .
Mời các bạn xem:
https://www.youtube.com/watch?v=cN5WNNx9_OM&feature=youtu.be

Cảm ơn đời mỗi sáng mai thức dậy
Ta có thêm ngày nữa để yêu thương <3

Cảm ơn bạn hiền Phamtran Anh<3

Cao Nguyên



trả lời


lên trên