1, 2  >                 Tác Giả và Tác Phẩm                 <<< tìm >>>                 BÀI MỚI . muc luc . vào



Thơ Văn Hợp Tuyển




Xuân Nguyện Cầu

Thời gian đang bắt đầu vào tháng 2 năm 2015. Hằng triệu người Việt lưu vong đang sống trên các vùng đất tạm dung từ Mỹ sang Pháp, Đức, Ý, Canada ... còn đang giữa mùa Đông giá lạnh. Mong mùa Xuân về với nắng ấm cho những bầy chim trốn tuyết về lại cảnh rừng quen, nhìn cây lá xanh tươi và những nụ hoa chớm nở.

Xuân khởi sắc trên vạn vật gây xôn xao trong lòng người những niềm vui. Trong âm hưởng giao thoa của những lời chúc mừng năm mới, tuổi trẻ thêm nguồn hy vọng, hưng phấn tiếp bước vào đời với một tương lai tươi đẹp trong cuộc sống tự do và bình đẳng.

Cùng thời điểm, mọi người Việt lưu vong hướng tầm nhìn về quê hương. Sau 40 năm tập đoàn cộng sản cưỡng chiếm miền Nam, thống nhất đất nước. Đã đẩy dân tộc vào cuộc lầm than do chủ trường độc tài đảng trị. Đặt xã hội trong vòng phong tỏa khắc nghiệt. Mỗi oán than về nỗi cơ cực đói nghèo trong sinh kế hằng ngày; Mỗi bày tỏ về đất và biển đảo bị rơi vào tay Trung cộng; Mỗi yêu cầu về sự bảo tồn văn hóa lịch sử, bảo tồn đạo đức nhân văn ... Tất cả đã bị đàn áp, khủng bố làm tê liệt tình thần và đau thương thể xác.

Các tôn giáo cũng bị triệt hạ uy tín, khủng bố và đàn áp các người lãnh đạo tinh thần và các giáo dân dám đòi hỏi tự do tôn giáo và sự tự trị của giáo hội. Bởi mọi người, mọi tổ chức, mọi tôn giáo phải do Đảng chỉ đạo theo đúng đường lối độc tài cai trị.

Các cuộc xuống đường của dân oan bị chính quyền cướp nhà đất; Xuống đường đấu tranh về quyền làm người; Xuống đường để phản đối nhà nước xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo ... Đều bị đàn áp triệt để với đủ các phương tiện bạo hành đối với từng cá nhận. Thậm chí những nhà văn, nhà báo, nhạc sĩ khi phát biểu tư tưởng bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo vệ nhân quyền nhân phẩm đều bị bắt bỏ tù.

Tình trạng nhân quyền tại Việt Nam ngày càng tồi tệ do sự đàn áp ngày càng gia tăng, theo nhận định và đánh giá của ủy ban nhân quyền Liên Hiệp Quốc và các tổ chức bảo vệ quyền làm người. Điều rõ ràng nhất là các người tù lương tâm trong các nhà tù luôn bị ngược đãi từ đánh đập, tra tấn đến biệt giam và cô lập. Sự thăm viếng của thân nhân người tù cũng quá khó khăn, vừa bị đòi hỏi điều kiện vừa bị đe dọa an ninh kể cả người trong tù và thân nhân liên hệ.

Trước tình hình khắc nghiệt từ xã hội đến nhà tù, trước sự đàn áp thô bạo của các lực lượng vũ trang. Tinh thần tranh đấu vì tự do, dân chủ và nhân quyền vẫn không suy giảm. Các tù nhân lương tâm trong các trại tù luôn kiên định tinh thần vì dân chiến đấu, vì nước hy sinh. Trong các trại tù, đã và đang có nhiều tù nhân lương tâm tuyệt thực để phản đối bản án, phản đối chế độ hà khắc của nhà tù. Trường hợp tuyệt thực của Bùi Thị Minh Hằng, Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Hồ Thị Bích Khương, Đặng Xuân Diệu, Đinh Nguyên Kha, Trần Thị Thúy, Lê Thị Phương Anh, Tạ Phong Tần, Lê Quốc Quân ... Đã đánh động lương tâm nhân loại.

Tinh thần quốc gia dân tộc ở Việt Nam hiện nay cần phải được soi sáng bằng những ngọn đuốc công lý thắp lên từ mỗi trái tim Việt Nam còn thiết tha về giang sơn tổ quốc, về đạo đức nhân văn của một dân tộc được khai mở và xây dựng bởi những con người dám vì nước hy sinh.

Mùa Xuàn dẫu có về trên quê hương, những hàng cây xanh bị đốn ngã, những di tích văn hóa sử bị đập phá, những thuần phong mỹ tục bị triệt tiêu không thể phục hồi. Mọi đổ nát của đất nước, mọi rối loạn của xã hội, mọi băng hoại của đạo đức cần phải được chấm dứt với quyết tâm của toàn dân trong cuộc chiến đấu diệt trừ tập đoàn cộng sản. Còn cộng sản, tinh thần tự chủ quốc gia không tồn tại, quyền làm người không thể thực thi.

Trong nồng ấm của đất trời, trong tình thương nhân ái, hàng triệu người Việt lưu vong xin chung chia nỗi đau của những tù nhân lương tâm, nỗi uất hận của toàn dân đang chịu sự cai trị hà khắc và tàn độc của tập đoàn cộng sản Việt Nam. Xin ơn trên và hồn thiêng tổ quốc phù trợ cho cuộc đấu tranh của một dân tộc bị tước bỏ quyền làm người, sống đau thương trên chính quê hương của mình.
Nguyện cầu cho quốc thái dân an trong mùa Xuân mới.

Cao Nguyên
Washington.DC - Feb 3, 2015

@

The voice of radio Chân Trời Mới:

https://app.box.com/s/80ra73nthibse5q13gv6703ro7ymm067



trả lời


Thơ Văn Hợp Tuyển


Thư Xuân

(Mến gởi những tù nhân lương tâm Việt Nam)

Em đang đọc thư Mẹ gởi vào tù
Gợi anh nhớ thuở trong tù anh nhận thư
Âm thầm khóc qua từng nét chữ
Cha anh dặn: "Hãy giữ lòng tin

đời là một hành trình khó nhọc
mỗi bước đi phải thật đàng hoàng
và biết sống với lòng tử tế
ngẩng cao đầu nhìn mặt kẻ thù!"

@

Cảm ơn em cũng vì tình dân tộc
Đã lên đường nhập cuộc đấu tranh
Em bước tới với chân thành tâm nguyện
Vì dân sinh quên tuổi trẻ chính mình

Anh và Em, hai thế hệ một kẻ thù
Hai không gian nhưng cùng chung dòng máu
Vững tin nhé, những người em yêu dấu
Đường đi lên cần phấn đấu nhiệt thành

@

Bao mùa xuân em nhìn qua song cửa
Tù giam em chứa đầy ắp hận thù
Chúng giam em cho chùng lòng tranh đấu
Mà quên cùng một dòng máu Việt Nam

Nếu phải khóc vì lá thư Mẹ gởi
Khóc đi em cho Tổ Quốc hài lòng
Vì Quê Hương còn những người như thế
Trong đau thương vẫn ngạo nghễ tiếng cười!

Cao Nguyên
Mùa Xuân 2015

@

Radio Chân Trời Mới
https://soundcloud.com/chan-troi-moi-8/20150221-ctm-dacbiet-chuctet



trả lời


Thơ Văn Hợp Tuyển


Vãi Chữ Lên Trời

“lệnh sáng giữ, lệnh chiều bỏ Huế
Bao chiến công … cũng thế mà thôi
Hải Vân … tro rắc bốn trời
Hạt tro nào … lạc vào nơi Cổ Thành!”
Nhất Tuấn

Trời Đông Bắc Mỹ những ngày cuối Đông xám xịt sau trận tuyết phủ trắng mặt đất . Không thể đi đâu và không thể viết gì lên trời sáng nay vì mất điện .
Cánh cửa thông ra thế giới bên ngoài bị đóng lại . Đành đi vào thế giới bên trong những trang sách . Mắt tôi dừng lại nơi “Rải Tro Theo Gió” của nhà văn Nguyễn Tường Thiết trong Giai Phẩm Xuân 2011/ Người Việt . Kể chuyện những người thân của tướng Ngô Quang Trưởng vãi di thể tro của Ông trên đỉnh đèo Hải Vân .
Đúng là một đoản văn hay, những con chữ cuốn tôi theo dòng hồi tưởng qua một thời đoạn trong chu kỳ sinh tử của một đất nước, một đời người .

Với đất nước:

Trong khoảng thời gian 30 năm, từ lúc nhà văn Nguyễn Tường Thiết gặp tướng Ngô Quang Trưởng lần đầu ở Thủ Đức/Việt Nam (1962), đến lần gặp cuối ở Virginia/Hoa Kỳ (1993) . Tôi cũng từ một chinh nhân đi xuyên qua chiến tranh và hòa bình . Một chiến tranh mang đủ chất bi tráng và một hòa bình đau thương trong lòng người dân Việt luôn khát khao ánh sáng tự do và công lý . Bởi nhiệt huyết dấn thân bảo vệ quê hương bị phản bội bởi đồng mình và nội thù .

Điều còn lại sau cuộc chiến là những hồi tưởng xót lòng khi nhìn chút long lanh trong những hạt bụi của những nhân dáng chinh nhân “vị quốc vong thân” và văn thi nhân “phong trần tải đạo” . Rồi cũng thế …mà thôi! Lời thơ của Nhất Tuấn buồn u uẩn! Chấm một dấu than hay bỏ lửng … cũng làm chùng tâm người lữ khách của hai miền nội, ngoại cả trong giá rét mùa Đông hay trong nắng ấm Xuân về . Hạt tro nào … quyện vào hồn thiêng Tổ Quốc! Hạt tro nào là vóc thân em hiện về …
em về ngồi giữa chơi vơi
uống trăng như thể rượu mời thuở xưa
hỏa châu sáng mấy chưa vừa
còn chong con mắt thắp thừa lòng tin

(rằng ta đi vẽ hòa bình
trên lưng cuộc chiến để tình thăng hoa!)


Thế nhưng …
bao nhiêu năm nhân loại tìm
chưa ra bản vẽ hòa bình của em
tấm lưng cuộc chiến còn nguyên
chỉ thêm vết đạn xuyên tim xoắn vào!

Cuộc dấn thân đi vẽ hòa bình trong tình nhân ái đã không được hồi báo theo lòng ước nguyện . Sự tàn bạo của cơn hồng thủy phủ tràn lên đất nước một lớp sóng hòa bình giả tưởng trên những thực thể điêu tàn đến thê lương . Để tôi có những ngày ngồi nơi Quán Gió


ngồi đây nghe tiếng vó câu
vang sâu thẳm, đáy cốc sầu rượu xưa
chiến bào, màu hổ phách khua
kiếm loang loáng sáng, đắng thừa chạm môi
Và hơn thế, nhìn xuyên đêm qua khung cửa, thấy sương pha trăng rót lấp loáng trên cành cây, ngỡ như còn rõ mặt kiếm cung:

Đêm nhìn sương trăng thấy cành nhớ kiếm
kiếm gãy xuyên đêm rơi suống đất cằn
mộ lá vàng khô gió xếp trăm năm
đá chạm chữ khua lòng ta thao thức!

Với đời người:

Những giọt lệ hồng pha sương đêm thấm đẫm vào suy tưởng có không thân phận một đời người trong vòng thiên mệnh . Biết có, để thấy sự hợp lý của những thử thách sinh tồn vì cuộc dấn thân . Không tự đứng lên là bị dìm xuống dưới khắc nghiệt của thế thời . Biết không, để thôi chấp ngã về những vọng niệm đi về giữa tử sinh, vinh nhục . Cho nhẹ hều thân tâm chờ hóa bụi bay vào vô định!
Giữa khi còn có, còn không . May được nỗi vui giữa những bồi hồi chữ nghĩa gởi cho đất và người những bản chúc thư trầm mặc chờ một cơ duyên hạnh ngộ dẫu như hoang tưởng:

đất không nước và ta người tàn phế
vói đôi tay không thể chạm quê hương
còn hoang tưởng chẻ không gian ngồi ngắm
nước thời gian chảy thấm mạch yêu thương!

Còn hoang tưởng chẻ không gian ngồi ngắm, là còn thấy yêu thương cả trong vụn vỡ một đời người đến độ hóa tro vẫn chứa sự long lanh của giòng nước mắt . Từ những dòng thơ của nhà thơ Nhất Tuấn đến “Rải Tro Theo Gió” của nhà văn Nguyễn Tường Thiết, tôi lan man nghĩ đến và nhớ về những người anh, người bạn hân hạnh biết trên đường chinh chiến và trên hành trình chữ nghĩa đã vào nơi vô định, yên phận tử sinh như các anh Phạm Huấn, Kim Tuấn, Hiếu Anh, Vương Đức Lệ … Dẫu họ đã hóa tro bay vào thinh không, những tinh thể vẫn sáng trong tâm tôi . Nếu những hạt tro của thân thương được vãi lên từ một đỉnh cao của quê hương như những hạt tro của tướng Ngô Quang Trưởng được thoát bay từ đỉnh Hải Vân thì quá tuyệt vời . Ai mà không ham tro mình được vãi vào lúc cuối đời! Của phù du trả về cát bụi!
Cho nên vào những ngày cậnTết như hôm nay, sao tôi mong được người về ngồi đối ảnh, dù biết …

còn có gì đâu mà khoản đãi ...
ngoại trừ dòng chữ rót đau thương
ly biệt xin thôi đừng nhắc mãi
buồn nẫu lòng ta hoài cố hương

người về cũng chỉ là nhân ảnh
ly rượu mời sóng sánh khói hương
Xuân muộn hay trời Đông Bắc lạnh
mà hoa chạnh nở đóa vô thường ..

Ôi những đóa vô thường dễ thương biết mấy, những đóa hoa yêu thương chẳng bao giờ tàn . Dù khi người về thoát đó lại đi . Chỉ còn lại những giòng chữ lung linh dưới ánh nến chiều cuối năm chạm cửa đêm trừ tịch, đang chờ mùi trầm hương với men rượu hồ trường . Bùi ngùi của quá khứ đủ cho một trầm khúc mới níu gót chân xuân chạm vào hành trình còn mở để nghe ngân tấu bài sử thi ngạo nghễ lời huyết mạch Văn Lang:

Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại
Xương da thịt này cha ông ta miệt mài
Từng ngày qua
Cười ngạo nghễ đi trong đau nhức không nguôi
Chúng ta thành một đoàn người hiên ngang
Trên bàn chông hát cười đùa vang vang
Còn Việt Nam
Triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng
(Nguyễn Đức Quang)

Ôi triệu khối kiêu hùng trong lòng người dân Việt đang chờ được hát tiếp lời ngạo nghễ, với hành trang mới lên đường thực hiện giấc mơ cũ của cha, ông trong sứ mạng bảo vệ non sông Tổ Quốc .
Hành trình đi lên còn mở, những ước mơ chưa hề khép lại . Như tôi đang hăm hở chào mùa Xuân khi mùa Đông còn sương tuyết trắng . ..và em còn những băn khoăn ...

em hỏi: còn Đông sao chào Xuân?
thưa rằng: đời vẫn đợi tin mừng
từ trong sương tuyết hừng đông mới
nắng cứ xôn xao rộn cả lòng!

Giữa hai cuộc gọi trưa nay, một với nhà thơ Nhất Tuấn – người cùng thời đã tặng tôi những ân tình chữ nghĩa, và một với trung tá Tôn Thất Tuấn – một hậu duệ đã gởi tôi những tâm cảm chân thành về thế hệ đàn anh . Đã làm thành một chiếc cầu vồng quá đẹp nối hai nhịp quá khứ với tương lai . Chiếc cầu vồng lấp lánh sáng những hạt tro hồng vãi bay theo gió trên đỉnh Hải Vân, trên đỉnh cao của tình người miên viễn trân trọng phẩm giá nhân sinh công bằng và bác ái .

Cám ơn nhà văn Nguyễn Tường Thiết đã cho tôi cảm hứng gõ thêm những giọt chữ trên dòng sông tâm thức nối mạch đông tây và sau trước của một phận người còn hào sảng với những ước mơ . Còn rưng lòng cảm xúc tri ân những hạt tro hồng… vị quốc vong thân!

Chỉ còn chờ có điện, đèn bật sáng, tôi vãi chữ lên trời! Lời thong dong bay trong cõi đời hư ảo!

Cao Nguyên .
MD – Jan 26, 2011

@

Nghê Lữ diễn đọc:

https://clyp.it/setpjusf



trả lời


Thơ Văn Hợp Tuyển


Thành Phố Mẹ

Từ thuở lững chững biết yêu, đến nay tóc đã nhuốm màu sương khói. Từ lúc mơn man vào hành trình chữ nghĩa, đến nay đường lãng du đã vượt ngàn hải lý. Khi có kẻ năm châu hỏi tôi:
- Đi nhiều thế, thích nhất nơi nào?
- Chẳng ngại ngần: vẫn xứ Việt Nam.
- Đi nhiều thế có gì thương nhất?
- Chẳng ngại ngần : tà áo dài em.
Chẳng thế mà tôi có một bộ sưu tập ảnh “Áo Dài Việt Nam” thời chưa bị biến tấu, chưa bị những thẩm mỹ viện cắt ráp vá khâu thêm những rẻo đời thời thượng!
Tôi hãnh diện khoe sưu tập ảnh cùng kẻ năm châu mỗi khi có dịp . Như khoe mình là con cháu Văn Lang . Nên chi trong dòng thơ khoát danh “Thi Sử” tôi đã đưa tà áo dài em lên cùng với lịch sử Sài Gòn:
Sài Gòn - Em, và chiếc áo dài
Dựng trước anh chân dung mùa Hạ cũ

Sài Gòn ơi! thương quá tiếng Em, Anh
biết dỗ ngọt suốt bốn mùa hoa, trái
áo dài Mẹ, em vẫn còn giữ mãi
từng đường thêu dấu ái vẫn còn xinh ...
Chân dung Sài Gòn, chân dung Áo Dài. Đẹp tuyệt vời, đẹp cả dáng và hồn. Hồn của trái tim Việt Nam trong biểu tượng Sài Gòn và chiếc Áo Dài.
Nếu thuở ươm thơ vào đường tình, không có sức mê hoặc của tà áo dài, chưa chắc nét duyên Em hiện trên thực thể, chưa chắc mái tóc huyền Em dự lễ đăng quang trong ánh mắt thơ.
Áo dài trắng, mái tóc đen . Đã làm nên một tuyệt tác ảnh đủ sức cảm rung từng con chữ trên cung bậc thơ ca. Vì thế mà tôi đã theo Áo Dài suốt bốn mùa với sắc màu thay đổi. Trắng: trinh nguyên, Tim: nhớ thương,Vàng: đam mê, Đỏ: kiêu hãnh …
Sài Gòn,Em và chiếc áo dài đều trong trái tim tôi. Luôn trong tầm nhớ thật gần, tưởng chừng chỉ vói tay là chạm được. Thật là thèm chạm vào hơi thở của mưa nắng Sài Gòn:
Sài Gòn nắng chảy tràn đêm
đường mê sảng nóng, Phố thèm giọng ca
tiếc mùa luân vũ biệt xa
gót sen rướm máu trượt qua nguyện cầu ...
Thèm được nghe nhịp tim Em rung sau làn lụa nõn, để vào khuya thơ cất giọng ru mơ:
Sài Gòn ru em
khúc tình tháng hạ
bóng cũ bên hiên
buồn nghiêng hoá đá ...
Ơi Sài Gòn! Ơi Áo Dài! Tiếng gọi trầm lắng trong mạch triều âm vỗ hai bờ Đông – Tây biển Thái Bình xanh thẩm. Điều kỳ diệu là thời gian không làm phai nhạt màu sắc của ký ức. Vẫn mãi nhớ ngày mới quen Em nơi bờ sông Quê Nội, nhìn qua gương nước lấp lánh màu sen hồng trên nền áo lụa xanh.
Trời, nước, hoa và áo dài cùng một game màu thanh nhã. Từ đó mỗi lần cùng Em dạo trên những quãng đường chiều, tôi thích Em mặc áo dài màu xanh của biển. Nét tương phản giữa ánh hoàng hôn với màu xanh lung lình sóng biển, đẹp vô cùng.
Nắng vàng tạo nên những gợn sóng hừng hực đam mê lăn tăn trên tà áo biển xanh. Không còn là màu ẩn dụ, mà là màu thơ, màu của trí tưởng phát họa nên sắc thái hài hòa giữa sự khắc chế của sinh tồn:
ôi tôi đi giữa bồi hồi
một khung trời nhớ đã đời giữa tâm
như người tình cũ bao năm
tưởng như biệt giữa thăng trầm, còn vương
Sài gòn - nghe gọi mà thương
Duy Tân, Nguyễn Huệ - con đường dư âm ...
Sài Gòn đâu đó trong tiếng gọi - Hôm qua, mới đó, tức thời... Nghe gọi từ phone, từ Radio, từ TV, từ nơi những con phố có người Việt lưu vong! Gọi như nỗi niềm thương nhớ, gọi như một sự khắc khoải trên dấu ấn của một phận người bị tách ra khỏi quê hương mình:
Bẵng thật lâu hơn phần tư thế kỷ
sống ở đâu cũng nghĩ đến Sài Gòn
thế mới biết tấm lòng người viễn xứ
còn thiết tha lời guốc mộc âm vang
...
Sài Gòn đâu đó trong tiếng gọi
nên mãi chờ về lại lối xưa quen
nhìn áo lụa vàng, nghe lời guốc mộc
đẹp như thơ theo dòng nghĩ vào đêm!
Có ai xa thành phố đó mà chưa một lần gọi nhớ Sài Gòn, của một thời Hòn Ngọc Viễn Đông:
Sài Gòn đó, Sài Gòn bên kia biển
không phải một thời, mà mãi ngàn đời
trong tim người, Hòn Ngọc Viễn Đông
trong Việt Nam, Sài Gòn bất diệt!
Thương vô cùng tiếng gọi Sài Gòn. Nhớ vô cùng tà áo dài một thuở đùa vui cùng hoa phượng đỏ, hay trong lất phất mưa rũ lá me bay trong chiều Thu cũ!
Ngươi Sài Gòn xa Sài Gòn mà không vương lụy tình xưa mới là chuyện lạ. Cho dẫu Sài Gòn bất chợt nắng mưa, như có nắng chảy tràn đêm, có mưa trút nước bên hiên nắng hồng . Đẹp và lãng mạn quá chừng.
tháng sáu Sài Gòn, trời xanh như ngọc
ve rộn ràng cất tiếng hát rong trưa
gió giục giã gọi em về hong tóc
sợ chiều lên, buồn đuổi kịp theo mưa
tháng sáu Sài Gòn, nắng mưa bất chợt
như chợt cười, chợt khóc giữa lòng em ...
Sao chợt cười, chợt khóc! Có phải Sài Gòn đang ru em khúc tình tháng Hạ, có bóng cũ bên hiên buồn nghiêng hóa đá trong mùa chình phụ? Hay do Sài Gòn đổi chủ, những con đường buồn rũ đổi tên. Nét thanh nhã của Tự Do, Công Lý ... đã bị son phết lên những màu vẩn đục. Vẩn đục đến nỗi người Sài Gòn không còn nhận ra Sài Gòn thuở nọ!
Sài gòn - nghe gọi mà thương
Duy Tân, Nguyễn Huệ - con đường dư âm
hẹn đời một bữa về thăm
giữa lòng nôi Mẹ nghe trầm khúc ru ...
Cũng may ký ức còn thắp bùng lên một Sài Gòn rạng rỡ . Sự rạng rỡ của dáng ngọc Sài Gòn xưa, chứ không là sự rạng rỡ của những ánh đèn đêm làm khuất lấp một Sài Gòn nham nhở hôm nay với hổ lốn những kiến trúc chạy theo thời cơm áo:
trong thành phố mười triệu dân
những bàn chân nhỏ xíu
luồn lách bám nuôi thân
người làm sao thấu hiểu
dòng xuôi ngược băn khoăn?
Nỗi băn khoăn lắng đọng trong lòng người Sài Gòn luyến tiếc những nét đẹp sử thi mà thơ ca không tiếc lời tôn vinh Sài Gòn trên hằng triệu trang giấy, trong hằng vạn lời ca. Dẫu gì trong trí tưởng người Sài Gòn vẫn còn long lanh từng góc cạnh kim cương của Hòn Ngọc Viễn Đông. Tạm quên những con đường nhầy nhụa, những bếp lửa trêu ngươi:
khi tất cả những căn nhà lên đèn
không còn thấy những con đường nhầy nhụa
từng góc cạnh kim cương lóng lánh
sáng trên nền trời xanh thẳm Việt Nam!
Và trong tim người Sài Gòn lưu vong luôn mong một ngày về lại Sài Gòn để chiêm ngưỡng Thành Phố Mẹ yêu thương. Dĩ nhiên với những nét đẹp rất Sài Gòn:
... khi những con tim Sài Gòn vụt sáng
ta có đêm Sài Gòn rực rỡ yêu thương
những ánh mắt vượt trùng dương say đắm
tìm thấy nhau - đêm lãng mạn Sài Gòn!
Từ đó, ký ức cũng làm sống lại Áo Dài Em:
nhìn áo lụa vàng, nghe lời guốc mộc
đẹp như thơ theo dòng nghĩ vào đêm!
Vào những độ cuối Đòng, chờ Xuân mới . Ký ức còn rộn ràng vẽ Sài Gòn và Áo Dài Em . Tưởng như mình đang chạm mắt vào Sài Gòn trước mặt:
lòng hăm hở giữa Sài Gòn quá rộng
sợ chân đi không khắp những đường quen
từ Da Kao xuống Bến Thành, Chợ Lớn
phố cũ, đường xưa lẩm nhẩm gọi tên!
tại nhớ quá, anh quên mình xa lắc
lòng nôn nao nên mắt chạm Sài Gòn
vừa tay vói qua nửa vòng trái đất
kịp Giao Thừa hái cánh lộc đầu năm!
Thế nhưng, người Sài Gòn từ xa nhìn về Thành Phố Mẹ vẫn chỉ là hoài niệm. Một hoài niệm dễ thương thế nào cũng bị chùng xuống theo gót buồn thời gian gõ nhịp rong đời về phố cũ. Như tôi đã có lần đứng giữa Sài Gòn đổi mới mà ngỡ ngàng nghe những âm vang của một Sài Gòn xưa:
cổng trường áo trắng tinh khôi
ẩn trong ký ức bồi hồi ngắm đau
ngoái nhìn lạ hoắc trước sau
dẫm chân lên bóng rũ màu thời gian
hẹn nhau đứng giữa chiều tàn
để nghe từng chặp âm vang Sài Gòn
của thời lá rắc thu vàng
trên con đường gót đài trang gõ giòn!
Không gặp Em với Áo Dài xưa. Chỉ gặp được thằng bạn một thời sống chết có nhau dưới chân dãy Trường Sơn trong mùa đỏ lửa. Kể cho nhau nghe chuyện của ngày xưa:
ngày hai đứa tựa lưng rừng bốc lửa
muốn vung tay đấm vỡ mặt trời
cho mưa trút xuống phận người khốn khó
mát niềm tin để ngước mặt làm người!
Biết đến bao giờ mới mát được niềm tin, để bạn và tôi khỏi trùng trùng xa cách.
Bây giờ, nơi quan ngoại như California, Paris, Melbourne, Montreal ... Đã có những con phố Sài Gòn:
vẫn lời nói Bắc-Trung-Nam
vẫn xôi, phở, bún - tên hàng quán xưa
vẫn cơm thơm gạo quê mùa
vẫn cá kho tộ, canh chua, gỏi gà
vẫn chị chiếc áo bà ba
vẫn em guốc mộc kiêu sa thuở nào
vẫn vui lời gọi, mời chào
Cô, Dì, Chú, Bác... bữa nào ghé chơi...
Ghé chơi để tìm lại Sài Gòn qua khung cảnh được tái tạo giữ lại chút hương xưa. Để nếm lại những mùi vị đúng điệu Sài Gòn. Để nói với nhau ngôn ngữ Việt Nam. Một Tổ Quốc bên kia Thái Bình Dương:
Chừ em bước trên một thành phố mới
có những con đường mang tiếng nói Việt Nam
(những con đường cũng chỉ là khuôn mặt
tình những con đường ở trên đỉnh hồn ta!)
Em hãy nhớ, thành phố mình đang sống
cũng chỉ là một góc cuộc đời qua
ngày luyến nhớ Paris, Cali, Newyork
có bằng đêm em khóc nhớ Sài Gòn?
thành phố Mẹ chúng ta bên kia biển
những con đường Nguyễn Huệ , Hùng Vương
những tên gọi Bạch Đằng, Bến Nghé...
giữa đời ta là cả một trời thương!
Dẫu có Sài Gòn trên xứ người. Nhưng người lưu vong vẫn nghe lòng buồn ray rức:
Việt Nam tôi trên xứ người
một thiên tình khúc viết từ nỗi đau
Cuốc kêu sau rặng trâm bầu
cố hương Nội, Ngoại lẽ nào mãi xa
Sài Gòn phải thật giữa ta
vui nay thấp thoáng chỉ là cõi dung
chờ người một cuộc tương phùng
rạng đông Bến Nghé hát mừng tuổi nhau!
Mong lắm một rạng đông Non Sông được phục hưng trong thái bình và hạnh phúc với tình người thân ái.
Sài Gòn sống mãi với người Sài Gòn như chiếc Áo Dài sống mãi trong lòng người Việt Nam.
Cao Nguyên
Washington.DC Jan 05, 2014
@
(Những đoạn thơ trong trầm khúc này trích từ Thi Tập THAO THỨC của Cao Nguyên)

@

Sài Gòn Niềm Nhớ Khôn Nguôi - NetViet.TV:

https://www.youtube.com/watch?v=8419vw3TktU



trả lời


Thơ Văn Hợp Tuyển




Rừng Ơi

Viết xong đoản khúc “Nỗi Buồn Còn Đó”, nhìn lại những dòng chữ chính mình viết mà thương cảm dâng lên muốn làm nghẽn nhịp thở . Bởi vì nó thực quá từ mỗi hiện trạng đính kèm qua 2 Video Clip do Uyển Diễm thực hiện về ngày tang thương 30/4/2015.

Ai đã sống thực trên từng hiện trạng ấy, mới thấm thía nỗi đau của đất, của người. Cũng vậy, ai đã sống trong môi trường khắc nghiệt giữa núi rừng hoang vu canh chừng loài thú dữ, mới thấy được nỗi đau khi rừng bốc cháy, màu lửa đỏ và tro bụi thay thế màu xanh và sinh lực của lá cây.

Khóc người, khóc đất nước bị mất là một tổng thể của tang thương là sự hiển nhiên. Khóc màu xanh của rừng bị đốt cháy chỉ là một mảng nhỏ của tổng thể đó. Vậy mà người chiến binh xưa đã từng ngủ nhiều đêm trên lá mục của rừng già dưới chân dãy Trường sơn, bổng òa lên khóc chỉ vì những lời thơ gọi Rừng Ơi!

“Mỗi khi đọc Rừng Ơi, tôi không nén được tiếng khóc. Cảm xúc tôi hòa nhập vào từng chữ, từng dòng thơ, tưởng chừng một phần cuộc sống của tôi bị đốt cháy, bị bứt lìa khỏi một kiếp người. Rừng và chúng tôi đã cưu mang lẫn nhau như chúng tôi đã cưu mang từng mảnh đất quê hương trong tim mình…
“…Tôi đã đọc bài thơ Rừng Ơi từ nhiều năm qua, đọc không biết bao nhiêu lần. Mỗi lần đọc, cảm xúc tôi vẫn trào dâng, đọc đến lạc giọng theo tiếng khóc….”

Tiếng khóc của nhà thơ Lê Mai Lĩnh theo tiếng gọi trầm thống Rừng Ơi của tôi, không phải chỉ một lần . Nếu bây giờ tôi gọi điện thoại yêu cầu Lê Mai Lĩnh đọc cho tôi nghe bài Rừng Ơi, không cách chi Lê Mai Lình có thể đọc mà không nấc lên. Cảm xúc đó đã làm lòng tôi chùng theo, dẫu chúng tôi xa cảnh rừng bị đốt cháy đã trên 40 năm!

Hơn thế, khi Rừng Ơi được cất lên với tiếng hát của người lính thủy quân lục chiến Duy Lynh, cảm xúc vỡ òa theo độ rung cảm thiết tha theo từng nốt nhạc do chính anh hòa âm.
“Khi nghe tiếng gọi khản hơi bi thống từ Rừng Ơi, rừng à dội lại âm âm từ vách núi đã vỡ tan và nằm sâu dưới lớp trầm tích thời gian, tôi biết mình đã gõ đúng mạch tim của âm hưởng hủy diệt. Cánh cửa tâm linh mở ra toang hoác, khí lạnh núi rừng sặc sụa ù về làm đau thêm vết cắt chiến tranh…”!

Có phải tôi bi điệu hóa cho một cung thơ hay không ? Mời bạn cùng đọc lại Rừng Ơi và nghe tiếng hát của Duy Lynh để thẩm định một nỗi đau còn đó trong đời, của những người lình chiến bị bứt rời khỏi mảnh đất quê hương trong tức tưởi nghẹn ngào!

Đây cũng là một điệp khúc của Nỗi Buồn Còn Đó. Thẩm thấu qua thời gian và mãi mãi hiện hữu trong lòng người lưu vong còn ngoái lại quê nhà với nỗi tiếc thương vào mỗi độ Tháng Tư Đen!
Thương lắm những Bạn Của Tôi và Rừng Ơi!

Cao Nguyên
Đông Bắc Mỹ - April 13. 2015

@

Rừng Ơi

cư dân cũ, từ vùng trời xa vắng
gọi rừng xưa, ta nhớ lắm - rừng ơi!
thương mùa cây cúi đầu buồn tháng Hạ
lá chịu tang qua mấy chục năm rồi

lúc ta đi, rừng sâu còn ngún lửa
lửa hận thù, cháy quá nửa đời ta
cháy bỏng màu da, làm sao lành vết sẹo
chung niềm đau, ta chẻ máu nuôi rừng

nửa máu ta có giúp rừng sống lại
đất có mừng lá biếc nẩy chồi xanh
cây có vui khi chim về hái trái
hoa có cười cho hương toả vây quanh?

ôi nhớ quá, rừng ơi! ta nhớ quá
cao nguyên xanh, hoa lá ấy - hồn ta
và cả máu chia cho rừng thuở ấy
nhắc ta về, dù bữa hẹn còn xa

về xem nắng ghẹo hoa tươi rói mặt
về thăm cây lành hẳn vết thương chưa
về ngồi giữa nắng mưa nghe đất hát
khúc đồng dao từ những khát khao xưa

thơ ta đó, rừng ơi! ru chút nhé
ta chưa về thăm đất mẹ chiều nay
sợ hàng cây còn long lanh ngấn lệ
ta với rừng sẽ khóc giữa vòng tay!

Cao Nguyên

@

nhạc sĩ Duy Lynh phổ nhạc và trình bày:
https://app.box.com/shared/suqtaavmt2



trả lời


Thơ Văn Hợp Tuyển




Nỗi Đau Còn Đó

Mùa Xuân 1975, trời bỗng nhiên trở gió. Ngọn gió Bắc Nam gầm rú và cuồng xoáy. Mây chập chùng đùn lên đen kịt khắp vùng trời Tây Nguyên. Cơn bão lửa trào lên đốt cháy những Buôn Làng, Phố Thị. Lửa luồn lách qua các chiến hào, nung chảy những hàng rào kẽm gai vốn để ngăn chặn thế lực tàn ác được nuôi dưỡng bởi chủ nghĩa thù hận tràn vào vùng đất đang an vui trong tình thương yêu đồng chủng.

Cơn bão lửa tàn khốc của Quá Khứ Hãi Hùng quật một cú thật mạnh, hất tung tôi và những đồng đội bay khỏi đỉnh núi Chư Prong trên cao nguyên Trung Bộ và vất chúng tôi xuống một khe núi của dãy Hoàng Liên Sơn thuộc miền Tây Bắc Bộ.
Cố gắng giữ lại chút sinh lực, chúng tôi cố bám vào Tương Lai Tự Do ngóc dậy, bò lên. Nhưng mãi đụng vào tảng đá cộng sản khắc nghiệt. Những vết thương trong các trại tù và trên các công nông trường khổ sai luôn mưng mủ và tóe máu gây nhức nhối toàn thân suốt nhiều năm.
Mặc kệ thân xác, chúng tôi cứ trườn người tới theo bản năng sinh tồn, để có được cuộc sống tự do trên con đường Hiện Tại Lưu Vong.

Trong cuộc đời, mỗi chợt nhớ thường ngày, hay phải nhớ đúng ngày chúng tôi bị cơn bão lửa thổi bay vào miên viễn xót xa. Nỗi đau lại dấy lên . Nỗi đau của ngày 30 tháng 4 năm 1975 không thể nguôi ngoai. Mãi mãi nỗi đau còn đó.
Mời các bạn, những đồng đội của tôi, và những người đã chịu sự hệ lụy đau thương bởi cơn lửa hận thù của 40 năm về trước, nghe những bì khúc xót xa lướt trên những thảm trạng tang thương!
Thương và Đau lắm đồng bào ơi! Nhân loại ơi!

Người chinh nhân thuở ấy
Cao Nguyên

Washington.DC- April 12, 2015

@

Nỗi Đau Còn Đó
Chương Trình nhạc do Uyển Diễm thực hiện

https://www.youtube.com/watch?t=20&v=irQdZBV9Wpo

@

https://www.youtube.com/watch?t=17&v=6lhmGCPCQV8



trả lời


Thơ Văn Hợp Tuyển


Tháng Tư Còn Đó Nỗi Buồn


Đang giữa Tháng Bảy mà nói chuyện Tháng Tư là không thuận với cảnh.
Bầu trời Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn chiều cuối tuần thật đẹp. Nắng dịu và gió nhẹ, đủ sức an tâm cho những người khách cao niên trên đường đến dự buổi giới thiệu tác phẩm Black April của tác giả George J. Veith, được tổ chức tại trụ sở Hội Người Việt.

Black April ! Lại Tháng Tư Đen giữa lòng Tháng Bảy! Vậy mà cũng thuận lòng người hoan hỉ đón nhận. Có phải mảng quá khứ đau thương của vận nước cưu mang giữa lòng người dân Việt chẳng thể nào dứt khỏi cuộc đời chính họ đã trải qua từ ngưỡng cửa tử thần, đến cửa những trại giam và nông trường lao động khổ sai?
Không! Không thể nào hằng triệu người dân Việt còn trong nước hay đang lưu vong quên được Tháng Tư Đen tàn khốc đó! Tháng Tư của máu và nước mắt, khi sinh mệnh của đất nước và con người bị bứt tử. Bốn mươi năm đã qua, nhưng tiếng gào thét của sự bức tử còn âm vọng mãi mãi trong tâm trí mọi người. Vết thương tâm linh luôn rướm máu, máu của chính mình, của đồng đội, của đồng bào ruột thịt miền nam Việt Nam.

Black April của Veith là tập hợp những nguồn máu đó chảy râm ran qua suốt tháng năm dưới hóa thân những giòng lệ đỏ!
Nếu những trang sử của Việt Nam Cộng Hòa được ghép bởi những di ngôn uất hận. Đời con cháu sau này sẽ hiểu được tinh thần của những chiến binh chiến đấu bảo vệ tự do và dân chủ cho một dân tộc đáng được trân quí như thế nào. Và cũng đáng được truy nguyên những chiến công của họ.

Mỗi đánh giá về từng đoạn đường của lịch sử một dân tộc, cũng giống như sự đánh giá từng tác phẩm viết về dòng lịch sử đó, cần được phát biểu bằng ngôn ngữ của con tim chân chính được nuôi lớn bởi nguồn sống nhân bản . Mọi chất liệu đấu tranh chống cái ác được phơi bày dưới ánh sáng mặt trời luôn là hiện thực .
Black April là một sân phơi những chất liệu đó . Qua sóng gió cuộc đời, qua trầm thăng thế cuộc, những chất liệu trung thực này sẽ được đặt trong bảo tàng lương tâm của nhân loại. Mọi tham vọng và ý đồ khuynh đảo quốc gia sẽ phải trả giá bởi chính lương tâm của họ.

Trở lại với buổi giới thiệu tác phẩm Black April, tại hội trường của Hội Người Việt Cao Niên vùng Hoa Thịnh Đốn, chiều Chúa Nhật 12 tháng 7 năm 2014. Cảm nhận của tôi đầy những bồi hồi . Bồi hồi qua các giải trình từ tác giả và các diễn giả về nội dung những chương quân sử của quân lực Việt Nam Cộng Hòa vào những năm cuối của cuộc chiến đầy những ấn tượng bi thương!

Bồi hồi vì sự cảm Kích tinh thần chiến đấu của một tập thể quân đội chỉ biết tiến chứ không lùi bước trước kẻ thù cọng sản xâm lăng. Bồi hồi vì được gặp lại vài vị chỉ huy từ tham mưu đến chiến trường, mà qua những năm quân vụ tôi đã có dịp diện kiến và phục lệnh. Bây giờ tôi được gọi những cấp chỉ huy này là niên trưởng.
Đặc biệt, với Trung Tướng Lữ Lan, một thời là Tư Lệnh Quân Đoàn II, nơi tôi đã phục vụ lâu nhất và có nhiều kỷ niệm nhất trong suốt thời gian binh nghiệp. Hôm nay được nhìn ông còn sức khỏe khang trang, tôi rất vui. Vui cả những đoạn phim thời sự của thập niên 60 nơi vùng cao nguyên đầy lửa đang khởi hiện trong tiềm thức tôi. Những đoạn phim hùng tráng với những trận thư hùng oanh liệt của những đơn vị dưới quyền ông đối lực với quân đội cọng sản Bắc Việt trên khắp lãnh thổ Vùng 2 Chiến Thuật.

Những thước phim tài liệu về quân sử Quân Đoàn II/QL. VNCH mãi còn đó . Những quyển sách như Tháng Tư Đen của George J. Veith mãi còn đó. Như những dấu tích đau thương mãi còn đó trong tâm khảm mỗi người dân miền nam Việt Nam suốt thời kỳ chiến tranh bảo vệ quốc gia, chống lại sự xâm lăng của tập đoàn quân cộng sản Việt Nam và các thế lực đồng lõa.
Người viết sử đừng bao giờ nói dối
Trước trăm nghìn câu hỏi của hồn oan!
Tôi đã viết những lời thơ như vậy, để cảnh tỉnh những người mon men vào con đường viết sử với những xảo ngôn, vong bản và xu thời. Khỏi phải ân hận trối trăn khi cuộc đời đi vào cõi đất!
Sau khi chấm dứt phần giải trình về tác phẩm Black April. Tôi đến mở lời chào niên trưởng Lữ Lan với vài gợi nhớ, ông niên trưởng Lữ Lan và tôi bắt tay với nụ cười thân mến trao nhau cùng những câu tâm tình huynh đệ chi binh.
Do yêu cầu, tôi có một tấm hình lưu niệm với ông niên trưởng được thực hiện bởi chính ái nữ của ông – Lữ Anh Thư. Đúng là Lữ Anh Thư, một cái tên mà nhiều người biết đến qua các chương trình Lịch Sử và Xã Hội Học tại các trường học Miền Đông Hoa Kỳ .

Tiếp sau sự diện kiến thân tình với niên trưởng Lữ Lan, tôi đến làm quen với một người Mỹ, ông Merle L. Pribbenow – người bạn đồng hành với Veith - tác giả Black April. Merle nói thông thạo tiếng Việt, nên lời mở đầu của tôi được đón nhận với lòng cởi mở. Tôi cảm ơn Merle về sự thấu hiểu tinh thần chiến đấu của quân dân miền Nam Việt Nam suốt hai mươi năm chiến đấu chống giặc bắc phương . Lời cảm ơn đơn giản với sự cảm thông lẫn nhau, được ghi nhận qua tấm hình chụp chung với nụ cười chưa thỏa của tôi và cái mím môi của Merle.

Trong dịp này, tôi gởi tặng Lữ Anh Thư, Veith và Merle tập thơ Thao Thức của tôi, với ý muốn được gởi chút tâm tư của một trong hằng triệu chiến binh quân lực Việt Nam Cộng Hòa có mặt trong Tháng Tư Đen. Và hơn thế, là sự mong cầu tâm tư thao thức được thẩm thấu vào tấm lòng tuổi trẻ Việt Mỹ có lưu tình tri thức Việt Nam.
Nhân đây, xin được cảm ơn giáo sư Nguyễn Ngọc Bich, chị Trương Anh Thụy của Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông. Cảm ơn quí vị trong ban tổ chức đã thực hiện cuộc hội ngộ khó quên với cả chữ nghĩa và nhân vật trên những trang sử liệu và trong buổi giới thiệu Black April – The Fall Of South VietNam!

Trân trọng,

Cao Nguyên
Washington.DC – July 12, 2014

@

Tham Khảo:
- Black April trên Amazon:
http://www.amazon.com/Black-April-South-Vietna…/…/1594035725

- Buổi giới thiệu sách qua Đài Truyền hình Hoa Thịnh Đốn :
https://www.youtube.com/watch?v=sr2GIbt-e5Y&feature=youtu.be



trả lời


Thơ Văn Hợp Tuyển


Đối Diện

“Mỗi con người bắt buộc phải một lần đối diện”

Đó là câu kết của của Ấu Tím viết về “Cao Xuân Huy – vài mẫu chuyện” đăng trên tạp chí Nguồn số 51/Xuân Tân Mão 2011.
Những mẫu chuyện đời, không riêng của Cao Xuân Huy mà có cả những người trong truyện nghe kể chuyện về mình . Bởi họ cùng một thời trước và sau “Tháng Ba Gãy Súng”. Nên mỗi trang giấy lật qua, nghe có tiếng gào của thép vỡ, nghe cả hơi thở cuối của bạn mình. Mới thấp thoáng đó mà đã xa hút hơn bốn mươi năm. Niềm đau không chịu biệt tàn, vẫn lởn vởn xoay tròn trước mặt .
như vừa mới ngã mũ chào
mà phơ phất bóng chiến bào tầm xa
ngựa giòn gõ vó bôn qua
bụi hồng sương quyện khói nhòa mắt cay


Người đi buồn rạn chân mây
nhạc tình giao phối Chương Đài phù vân
nghiệp duyên quá cuộc hồng trần
kiếm cung biệt diện tần ngần sử thi

rượu còn sóng sánh ngang ly
mà Người đã khuất hương nghi ngút mờ
đành ta rót rượu vào thơ
mở đêm giao thức ngồi chờ đối âm!
(giao thức / Cao Nguyên)

Mỗi câu chuyện của Cao Xuân Huy làm sống lại từng đoạn đời của một thời bão lửa, kể cả lúc mình đứng giữa ngục tù hoặc sống kiếp lưu vong . Ai đó bảo hoài niệm chi những tang thương! Không, với chúng tôi, đó là những hoài niệm đẹp, sau tang thương còn sinh động và sáng chói tình người, tình đồng đội trong cuộc dấn thân vì Tổ Quốc – Danh Dự và Trách Nhiệm .
Chúng tôi đã gãy súng, nhưng Tổ Quốc – Danh Dự và Trách Nhiệm vẫn còn. Không còn súng, chúng tôi chiến đấu bằng cây bút với chút tâm huyết còn sót lại. Để còn xứng đáng được con cháu gọi tên mỗi khi nhắc chuyện sơn hà . Bởi chữ nghĩa cũng có sức mạnh xuyên phá những tư duy bẩn chật, những thù hận cực đoan chủ nghĩa, những khối óc vong bản, những hoang tưởng lợi danh … đã ăn gian, trục lợi cả mồ hôi, nước mắt và xương máu của chiến hữu và đồng đội của mình.
Tất cả người kể và người nghe chuyện đang ngắm lại mình đã đi qua hành trình giữ nước, có thương yêu cười rạng rỡ, có vụn vỡ khóc lệ nhòa ! Hiện cảnh ngỡ đã xa mà chuyện kể bày ra trước mặt đến nao lòng.

Có buồn mà sảng khoái, thế mới lạ. Cái sảng khoái là còn được ngồi bên nhau với bạn cùng thời, cùng tâm chí mà kể chuyện bất kể ngoại nhân nhìn những tửu sĩ vỗ bàn Đ.M … đời, sau khi ực trọn một cốc rượu cay. Trong cơn chếnh choáng thế thời, tửu sĩ vỗ bàn như vỗ đỉnh càn khôn để nghe tiếng khua hổ lốn của trần ai về nỗi nhục vinh rớt vào hố thẳm. Giữa mỗi quãng lặng yên, tửu sĩ thèm uống rượu Hồ Trường, xem chinh nhân mài kiếm dưới trăng.
Ôi! Ta muốn nhập cuộc quá chừng, để uống cạn cùng bạn những giọt tri âm, rồi chen lời cuồng ca:

ca ư!
hề! khúc cổ sầu
lợi danh hư ảnh, công hầu huyễn mơ
cuồng ư!
hề! vọng nguyệt lầu
thuyền quyên chạm bóng, lòng đau tử thành
tình ư!
quan họ giang đầu
trù ca vỡ phím, bạc câu giao hoàn
đời ư!
hông thủy càn khôn
mồ hôi thắm máu quyện chung lệ hồng
(cuồng ca / Cao Nguyên)

Bạn ngó ta, chạm mắt xuyên đêm. Ta khều mặt trời hóa rượu để đáp lễ tri giao:
rót tràn đêm, rượu mặt trời
uống đi người hỡi một đời mấy khi
say quên mặt đã lầm lì
biết ta chưng hửng đã đi vào đời
uống đi, say nhé người ơi
giữa ta có ánh mặt trời xuyên tâm
nóng ran như vết đạn găm
tim đau nhói ngược, bạn trăm năm rồi!
(rượu mặt trời / Cao Nguyên)

Ơi những người bao năm cũ, hồn ở đâu cả rồi! Phải chăng như lời sử thi “hồn tử sĩ gió ào ào thổi” khi hình tượng người chiến sĩ bị thù hận và đố kỵ đánh gục trên chiếc bệ tôn vinh nơi nghĩa trang quân đội ?
Súng gãy, hinh tượng gãy chỉ là bề mặt của sử thi. Còn sự gãy vỡ của tâm thân đồng đội đang sống lưu đày giữa quê nhà, hay nơi cõi lưu vong đã vực ta đứng dậy vung bút đâm vào mọi ngụy trá của thế gian:
ta muốn ngắm nét chữ ngời bia đá
những di thư viết bởi mực sơn hà!

ta muốn nghe trong điệu kèn ly biệt
có niềm tin mãnh lệt cuộc hồi sinh!
(lộng bút / Cao Nguyên)

Dẫu chiến bào đã cháy, súng đã gãy, khi còn cây bút trong tay, ta vẫn vỗ ngực tự hào nói với bọn ngụy trá rằng: đời nhờ có bọn ta không gian mới hừng hực sáng ánh thép khua trăng, rượu mặt trời pha lệ đỏ. Nhờ có bọn ta khinh miệt lũ vong ân mà chúng tìm trong thù hận học được lời sỉ vả những kẻ tự bứt tim mình hiến dâng cho Tổ Quốc! Chẳng tin ư? Kẻ vong ân cứ nhập vào đoàn lữ hành du ca hát bài “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ” để thấy nỗi thẹn mình lớn biết chừng nào.
Này hát đi:
Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn
Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang

Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại
Xương da thịt này cha ông miệt mài
Từng ngày qua , cười ngạo nghễ đi trong đau nhức không nguôi
Chúng ta thành một đoàn người hiên ngang
Trên bàn chông hát cười đùa vang vang
Còn Việt Nam , triệu con tim này còn triệu khôi kiêu hùng
(Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ / Nguyễn Đức Quang)

Từ thuở nọ đến nay ta vẫn là người hàn sĩ, nhưng rượu vẫn lưng bầu chờ đãi bạn, vắt cạn giọt sầu, kháo chuyện trầm thăng. Ta cũng kẻ mặc ngôn, nhưng chữ nghĩa vẫn còn hưng phấn, chạm nhẹ vào tâm ý tri âm là thoát bay vào cõi bềnh bồng non nước. Thời nay, vãi chữ lên trời cũng là một lạc thú, được dàn trải tâm tư vào vũ trụ đời. Mặc kẻ ngắm thuận lòng bảo lời chí phải, hay người xem phật ý phán nghĩa ngạo cuồng. Chỉ vì ta cũng muốn chữ ta “như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn”!

Mỗi con người bắt buộc một lần đối diện. Một định đề thật hay. Đối diện với chính mình hay đối diện với sự chết mà dửng dưng, cũng khó như kẻ sĩ đối diện với bạo quyền mặt không biến sắc. Phải không trân trọng quá về mình, mới thấy đời nhẹ như lông hồng phất phới bay theo cơn gió vào vô định. Bởi nó là vật thể của ảo ảnh, như cuộc đời của phù du, như chinh nhân đã quên cái ta giữa hiện hữu thiêng liêng của núi sông cưu mang hồn dân tộc.
Ta đang đứng trong lũng chiều vàng quan ngoại, thỉnh thoảng thấy một chiếc lông hồng quen thuộc bay qua - mà lẽ ra nó đã bay trên miền quan nội từ mùa hè đỏ lửa hay từ mùa xuân hồng thủy – Nhờ có kiếp lưu vong mà đèo bồng thêm mấy độ xuân thì. Nên bay muộn hơn giữa trời mặc tích!

Chiếc lông hồng Cao Xuân Huy vừa bay qua, chiếc lông hồng Nguyễn Đức Quang cũng vừa bay qua. Nhẹ hều thân đời, nhẹ hều danh lợi. Cái chớp mắt nhìn chính mình bay thoát qua khung cửa hẹp cuộc đời vào cõi vô hằng đẹp vô cùng. Giữa chập chùng sương khói, thấy lòng ưu ái của bạn bè còn nấn ná trong quán gió, uống rượu thấm lời chuyện kể. Ngẫu hứng nâng đàn hát khúc tâm ca, là hạnh phúc vô tận của tình người.
Hôm nay ta thèm hát vang vang dưới ánh mặt trời như hồi đó ta thèm thét lên trong bóng tối ngục tù gọi đời tự do, gọi tình thân ái. Ta cũng thèm kể cho con cháu ta nghe mẫu chuyện về mẹ và bà của nó vượt ngàn dặm xa chập chùng sông núi vỡ giữa mùa đông rét buốt để thăm chồng bị giam cầm giữa núi rừng Việt Bắc:
gồng gánh gian nan qua cầu tủi nhục
gọi tên Chồng, xé giữa ngực lời đau
giọt nước mắt đang rơi mà chảy ngược
uống cạn lời thổn thức giữa tim nhau!

nhớ Đông xưa, lòng anh buồn ray rức
nhìn chân em xuyên suốt nỗi cơ hàn
bàn chân bám đời đau cùng với đất
da tím bầm chưa hở một lời than!
em mải miết đi, chẳng cần nhìn lại
vì Chồng, Con - Thế gới bỗng nhiệm mầu
thuở yêu anh, em uống lời bùa ngãi
nhủ đời vui, mặc khải chữ cơ cầu!
(nhớ đông xưa / Cao Nguyên)

Góp chuyện ta, chuyện người hỏa táng, tàn tro bay lãng đãng chuyện tử sinh.
Mốt mai ta cũng nhìn ta bay khi phải đối diện một lần cuối phận người, mỉm cười nhìn chiếc lông hồng biệt thế.
Ta tự rót cho mình cốc rượu từ bầu rượu còn lưng ngồi độc ẩm. Tiếc là không có bạn ngồi bên để vỗ bàn Đ.M…đời nghe sảng khoái . Đành nhịp trên phím chữ gõ thêm một trầm khúc vãi lên trời .
Cám ơn Ấu Tím, đã mớm nghĩa cho chữ ta bật dậy như cây cỏ cám ơn vạt nắng xuân khơi mầm cây trỗ mùa xanh.

Cao Nguyên

@

HỒI KÝ THÁNG BA GÃY SÚNG CỦA TRUNG ÚY THỦY QUÂN LỤC CHIẾN CAO XUÂN HUY

https://www.youtube.com/watch?v=zhcI6Fxo4ZI&hc_location=ufi



trả lời


Thơ Văn Hợp Tuyển





Hoàng Trường Sa

(Tưởng niệm 41 năm hải chiến Hoàng Sa
của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
* 19/01/1974 - 19/01/2015)

Ơi Hoàng Sa! Hỡi Trường Sa!
Bi thương tiếng gọi sơn hà Việt Nam
Đang còn bị giặc xâm lăng
Nước trào rỉ máu, Đất oằn xót đau!

Ơi Trường Sa! Hỡi Hòang Sa! Ơi Tổ Quốc! Hỡi Đồng Bào!
Yêu thương tiếng gọi thắm màu quê hương
Âm vang trống giục sa trường
Bạch Đằng dậy sóng quật cường oai nghiêm!

Giơ tay cao thét lời nguyền
Hận thù Bắc Thuộc hịch truyền xuất quân
Đánh cho giặc Hán kinh hồn
Muôn đời khiếp sợ tinh thần Văn Lang!

Hoàng Sa,Trường Sa là của Việt Nam
Đã trong sử sách ngàn năm lưu truyền
Trống đồng hào khí linh thiêng
Hãy vang lên khắp mọi miền núi sông!

Triệu con tim một tấm lòng
Quyết tâm tiêu diệt giặc ngòai thù trong
Việt Nam ơi! Tổ Quốc ơi!
Triệu con dân Việt sẽ khơi sử hồng!

Từ Trường Sơn tới Biển Đông
Thịt da xương máu con Rồng cháu Tiên
Núi Sông là một mạch liền
Không ai có thể đảo điên Sơn Hà!

Cao Nguyên

@

Hoàng Trường Sa
thơ Cao Nguyên | nhạc & trình bày Dzuylynh
album Việt Nam Minh Châu Trời Đông

https://app.box.com/s/0uk49z53tf126quxjgmlpnj1ypxzi0b5



trả lời


Thơ Văn Hợp Tuyển


NHỚ ĐÔNG XƯA

Ngày Của Mẹ hằng năm, tôi thường gởi email đến các con của tôi bài thơ "Nhớ Đông Xưa", như một lần nhắc lại các con phải luôn ghi nhớ về người Mẹ của mình trên hành trình đi bên cạnh người Cha suốt quãng đời chồng chất những khó khăn gian khổ.

Có thể đây cũng là một điển hình của một người đàn bà Việt Nam có chồng là một người lính trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Trong thời kỳ chiến tranh, người vợ thường sống bên chồng trên những vùng đất tiếp cận với chiến trường đầy những nỗi lo khi người chồng đang trực tiếp hành quân chống quân phương Bắc xâm chiếm miền Nam.

Những nỗi lo càng tăng lên sau chiến tranh, khi người chiến binh trở thành người tù binh, có những khoảng thời gian biệt tích trong các trại tù cộng sản. Khi nhận được tin chồng đang sống trong một trại tù nào đó, ngoài nỗi lo về sinh mạng người chồng trước sự ngược đãi khắc nghiệt của kẻ thù hung bạo. Người vợ còn phải lo làm việc vượt sức của mình, mong gom góp được chút tiền mua lương thực và vật dụng, thuốc chữa bệnh cần thiết để đi thăm nuôi chồng.

Mỗi lần vợ tôi đi thăm tôi ở những trại tù từ miền Nam ra miền Bắc, đều dẫn theo 2 đứa con gái, vừa để các con được gặp lại người cha, vừa để mẹ con chăm sóc lẫn nhau.

Bài thơ "Nhớ Đông Xưa" tôi viết trong mùa Đông 1978, sau khi vợ con đến thăm tôi tại trại tù Lào Cai sát biên giới Trung Quốc.

"gồng gánh gian nan qua cầu tủi nhục
gọi tên Chồng, xé giữa ngực lời đau"

Trong thời điểm mọi người dân Việt Nam phải sống trong những điều kiện khó khăn về kinh tế, ăn đủ no mặc đủ ấm đã là hạnh phúc. Thì việc phải chia sự ấm no đó cho người chồng ở trong tù, người vợ nào không cùng tâm trạng gian nan và tủi nhục đó.

"hai tay em đập vỡ vụn quan tài
anh lại vào đời từ nơi hoả ngục"

Sự thăm nuôi, tiếp tế thức ăn, thuốc uống là sự duy trì cần thiết cho sự sống của người chồng. Bởi trong hoàn cảnh thù hận và khắc nghiệt của bọn cai tù, người chồng có thể gục chết bất cứ lúc nào. Người vợ đến thăm nuôi như một cứu tinh, đập vỡ quan tài để đưa chồng từ hỏa ngục trở về với cuộc sống.

Các con tôi, các con của những người tù binh như tôi trong những hoàn cảnh ấy, cần phải nhớ ơn người Mẹ của mình . Người Mẹ đã suốt đời vào sinh ra tử cùng chồng.

Tôi cũng muốn các con tôi hiểu thấu ý nghĩa của bài thơ, để thấm từng dòng tâm tư của Cha gởi cho Mẹ, mà cùng tri ân Mẹ của mình đã sống vì chồng con dẫu phải vượt qua bao đắng cay chua xót của một người đàn bà Việt Nam hiện hữu trong một giai đoạn lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam sau khi bị cộng sản phương Bắc cưỡng chiếm miền Nam.

Nhân Ngày Của Mẹ, tôi xin chia xẻ cùng các bạn tâm trạng của tôi về một mùa Đông xưa.

"thuở yêu anh, em uống lời bùa ngãi
nhủ đời vui, mặc khải chữ cơ cầu!"

Tôi cũng không quên chúc các bà vợ của các chiến hữu luôn được an vui sau những tháng năm tủi buồn và đau khổ cả tâm trí và thân xác.

Thân mến,
Cao Nguyên
Đông Bắc Mỹ - May 10, 2015

@


Nhớ Đông Xưa

đang ở giữa những ngày Đông lướt qua
trời buốt lạnh lại nhớ mùa cơ cực
mắt muốn ngủ mà trái tim vẫn thức
canh chừng em trên bờ vực lầm than

gồng gánh gian nan qua cầu tủi nhục
gọi tên Chồng, xé giữa ngực lời đau
giọt nước mắt đang rơi mà chảy ngược
uống cạn lời thổn thức giữa tim nhau!

thắp sáng tin yêu trong huyệt sầu hun hút
hai tay em đập vỡ vụn quan tài
anh lại vào đời từ nơi hoả ngục
hăm hở đi, quên tiếng nấc bi ai!

nhớ Đông xưa, lòng anh buồn ray rức
nhìn chân em xuyên suốt nỗi cơ hàn
bàn chân bám đời đau cùng với đất
da tím bầm chưa hở một lời than!


em mải miết đi, chẳng cần nhìn lại
vì Chồng, Con - Thế gới bỗng nhiệm mầu
thuở yêu anh, em uống lời bùa ngãi
nhủ đời vui, mặc khải chữ cơ cầu!

*

Xuân lại đến, cuộc đời đi cũng vội
mừng tuổi mình, tóc bạc lại trao nhau
nụ hôn quen sao mãi còn bối rối
như thuở anh vừa dạm hỏi trầu cau!

Cao Nguyên

@

Hồng Vân diễn ngâm:
https://app.box.com/s/a5km4h5vnpinsk2oz7kd/1/582425168/5565924740/1



trả lời


Thơ Văn Hợp Tuyển


Phi Chính Trị

Trên một số diễn đàn online, dẫu cho có sự rào đón: “Đây là diễn đàn phi chính trị”. Vẫn không thể loại trừ hẳn những bài viết có xuất phát điểm từ cảm nhận riêng mình về cuộc sống với những hệ lụy quanh đời. Khi chân lý còn là ánh đuốc dẫn đường, thì ưu tư từ những phi lý và bất công của xã hội không thể không nói đến.
Và thế là niềm tin của tín ngưỡng, của pháp trị hừng hực trong tư tưởng hồi sinh những sắc thái văn mình trong một xã hội cộng hưởng.

Đó là sự công bằng tất yếu, là hơi thở của cuộc sống, là tiếng nói của trái tim với tất cả những ai còn tin vào chân lý, tin vào lương tri.
Tiếc thay sự công bằng đó bị phá hoại từ khuynh hướng cực tả hoặc cực hữu. Đẩy sự trung dung vào góc tối im lặng. Bày tỏ đồng tình theo một hướng, thường hiểu là cực đoan, là bè phái, là trở cờ ...!
Sự tranh chấp nẩy sinh từ cái tôi vượt ngoài chủ thể, chỉ biết phủ nhận cái hay của người để cái tốt của mình tồn tại. Cứ như mình là kẻ biết dấn thân còn người khác chỉ chạy theo xu hướng có lợi cho chính bản thân họ. Đâu hay đó chỉ là sự hăm hở của loài tằm muốn nhả tơ, dẫu chưa biết lúc nào mình thoát thai ra khỏi cái kén chật chội và tơ mình sản sinh có đủ tốt dệt nên một chiếc áo khoe đời!

Nếu lỡ gặp người thích khoát áo đẹp che đời, lịch sự lắm cũng chỉ gật đầu chào bạn. Nhìn những chiếc áo đủ màu như lá mùa Thu, rồi cũng bay vào mù tăm. Chút ấn tượng còn sót lại trong rực rỡ thu còn chăng chỉ là nỗi băn khoăn về một chu trình sinh diệt. Lá nào may rơi xuống vùng đất hóa thân làm chất hữu cơ, lá nào ngã trên nhúm sỏi đá khô cằn chờ rã mục hóa rêu?!

Nên chi trong mỗi thì thời giao mùa, tôi vẫn khát khao với những ước mơ lá chẳng xa nguồn. Chí ít sau mùa tàn phai cũng thấm vào mạch đất chút nhựa đời nuôi xanh mầm nguyên khởi. Tiếng reo của lá trong mơn man của nắng gió hiền hòa khai tâm thoát tục vui biết chừng nào. Như may gặp được người chỉ dùng áo che thân qua bốn mùa mưa nắng ta biết được trụ sinh trong cõi diệt. Làm sao không hăm hở đón một nụ cười quen nở trên môi kẻ không màng danh phận để kết thân, cùng trải nghiệm qua đời mà tâm bút tri giao.

Cùng siết tay chào, ơi đó bạn ta như hồng nhan tri kỷ, cùng uống chung hương vị ân tình.
Hiển nhiên thế mà sao người còn nấn ná giữa những hỗn mang đời để vật vã lòng nhau.
Ở đâu cũng thấy dấu vết chì chiết, hằn hộc giăng mắc những cái bẩy gài người, tước đoạt tư duy, hủy diệt tình thân ái!
Chính vì muốn bảo tồn phẩm giá con người mà thanh chắn phi chính trị được dựng lên nơi những khu chợ trời nhiều tạp! Nhằm vô hiệu hóa những cuồng ngôn, lộng ngữ manh động tràn lấp lối đi về chính thiện.
Ngày lại ngày, tri thức vượt qua vô thức, vực dậy bản ngã nhân chi sơ thoát sóng đời danh lợi. Thanh chắn phi chính trị chỉ còn là khái niệm, chẳng mấy ai bận tâm khi sự tự phát chính kiến trung thực có sức mạnh xuyên phá bức tường vô đạo lý.

Sống giữa đời, khi bước vào cho đến lúc ra đi đều tự nhiên, sẽ thấy lòng thanh thản. Khắc chế được những tị hiềm ích kỷ, thả cái tôi bay khỏi vòng ôm ấp, sẽ thấy những thương yêu đầy ắp tâm hồn. Đầy ắp tình Người, tình Núi Sông.
Với tình Người và tình Núi Sông, một tâm thư gởi ai đó bên này hay bên kia bờ đại dương. Hát hay nghe một bản nhạc thấm đậm tình tự quê hương, dân tộc... Cũng đã cưu mang trong lòng nỗi khắc khoải của sự chia ly dẫu xuất phát từ những nguyên nhân nào, cũng đã nhập lưu dòng ý thức dân tộc và cội nguồn.
Vậy thì khi khoát tay nói với bạn mình: "Xin đừng nói chuyện chính trị với tôi", có phải tự mình đánh mất tư duy chính mình? Đó là một nghịch lý trong cuộc sống đối với những ai còn hứng khởi trên hành trình về với quê hương từ niềm mong ước thanh thản Đi, Về!

Phi Chính Trị, là một sự đánh lừa bản ngã và tâm thức của mỗi con người còn thiết tha với cuộc sống chính mình trong nguồn sống chung nhân bản.
Nụ cười đến từ góc độ nào cũng đẹp, và có khả năng vượt qua mọi rào cản vô tri để kết hợp những tấm lòng rộng mở, vì người và vì mình cùng hướng đến ước mơ chung: Tự Do, Thanh Bình và Nhân Ái trên Quê Hương thân yêu .

Cao Nguyên



trả lời


Thơ Văn Hợp Tuyển


Tâm Bút

Tháng Tư đang đi qua. Nỗi buồn chưa chịu lắng.
Bởi chắc chắn một điều là không thể tách rời quá khứ khỏi cuộc đời mình, nhất là quá khứ của một cuộc hành trình đầy chông gai, cuồng lũ và bão lửa. Do bất trắc của thiên nhiên hợp cùng sự cuồng nộ của lòng người giữa dòng đời nghiệt ngã!
Quá khứ của một thời như vậy làm sao quên? Biết nhớ là đau thương, nhưng muốn quên là không thể. Quên là tự phản bội với chính mình, phản bội với những người cùng đồng hành trong thời điểm nghiệt ngã đó.
Quên là từ chối trách nhiệm của một người dân đối với quốc gia, dân tộc. Thấm thía hơn, ai muốn quên là cố tình đốt cháy căn cước tị nạn, trong đó có cả lời thề và lời xin lỗi. Xin lỗi quê hương Việt Nam đã đành đoạn rời xa mang theo tâm niệm hi sinh vì tổ quốc mà trách nhiệm chưa tròn. Đồng thời xin lỗi quê hương thứ hai đã cưu mang mình vì không giữ trọn lời thề của một công dân khi đưa tay tuyên thệ từ bỏ chế độ cộng sản.

Mai Ba Mươi
bữa nay Hai Chín
ta đếm thời gian
câm nín ngược dòng …!

Đúng, ngày mai 30 tháng 4, một điểm mốc thời gian của lịch sử Việt Nam đau thương đầy nước mắt và máu của bao nhiêu triệu người dân Miền Nam Việt Nam bị xé toạc phận người bởi quân cuồng nô phương Bắc. Một cuộc dìm chết cả đất và người dưới sức mạnh của bạo lực tàn ác. Không chỉ hôm nay, những người chung số phận lưu vong hồi tưởng và mặc niệm ngày lịch sử đau thương đó. Mà mãi mãi những thế hệ tiếp nối cần phải nhớ.

Chính vì những điều không thể quên, dẫu Tháng Tư đi qua, tâm trí vẫn còn lắng đọng những u buồn trầm uất. Trong bất chợt mỗi đêm về giấc ngủ chưa yên, tình còn thao thức với những chung chia niềm thương đau với Đất và Người.
Ai đã từng thao thức về nỗi niềm chung khi nghĩ về những tháng năm xưa của 40 năm về trước. Từ cuộc sống của bản thân và gia đình trên một miền đất hiền hòa, an cư và thịnh vượng. Bỗng dung bị cơn lốc đỏ cộng sản tràn qua gây đổ vỡ mọi an lành có được! Sự ly tán khởi đầu từ vượt đất, vượt biển xa nguồn, bỏ nước ra đi tìm sự sinh tồn nơi miền đất lạ, chấp nhận cuộc sống lưu vong, để mãi mãi nhìn về quê hương trong niềm đau vô tận!

Tôi và những đồng đội chiến binh Việt Nam Cộng Hòa, sau nhiều năm thi hành trách nhiệm bảo quốc an dân, bị cơn bão hận thù thổi bay đi tứ tán. Bao nhiêu người ngã xuống trên các con đường di tản, bao nhiêu người còn gượng sống bị gom tụ lại quăng vào các trại tù lao động khổ sai.
Bao nhiêu năm sống trong các trại tù oan nghiệt đó, chúng tôi hiểu thân phận mình đã bị biến thành loài sinh vật chịu kiếp đọa đày. May thay còn điểm tựa lương tri giữ mình đứng thẳng với sự yểm trợ niềm tin của Gia Đình và Tổ Quốc. Để có ngày hôm nay được sống trên vùng đất tự do gọi là quê hương thứ hai, vẫn mang trong tâm nỗi lòng người Do Thái dựng trong tim một dãi sơn hà.

Chính niềm tin và khí tiết chinh nhân đã thôi thúc những người lính già mà đồng bạn ví như những con ngựa què, vẫn tiếp bước trên hành trình dang dở để hiến thân cho cuộc sinh tồn dân chủ, tự do và phẩm giá con người. Với may mắn đôi tay còn cầm được cây bút và trong tâm còn lưu giữ được sắc cờ vàng tổ quốc thiêng liêng.
Viết là nhu cầu của cuộc sống, như hơi thở cần tiếp truyền đủ máu cho con tim còn nhịp khát khao dẫn lực chân tình về với ngày mai có thế hệ cháu con sẫn sàng tiếp nhận. Viết để chuyển tải từ hôm nay đến ngàn sau tâm tư của một người dân mất nước:
Đất không Nước và ta người tàn phế
Vói hai tay không thể chạm Quê Hương!

Hai tay không thể chạm Quê Hương, chỉ còn biết chạm Quê Hương bằng hơi thở nồng nhiệt của mình. Những hơi thở mang niềm hy vọng tạo nên những ngọn lửa đốt cháy sự khắc nghiệt của dòng đời, làm tan rã lòng thù hận của thế lực đương quyền.
40 năm quá dài và quá đủ để người Miền Bắc thấu hiểu tấm lòng của Đất và Người Miền Nam. Đủ để những người cộng sản hiểu rõ ai giải phóng ai. Và ai thắng ai khi nhìn thấu nỗi lòng nhân dân cả nước! Điều rõ ràng mình bạch là sự điêu tàn của cả Đất và Người trên quê hương không chỉ do nguyên nhân chiến tranh để lại. Mà còn là sự tàn phá cùng tận của chủ nghĩa thống trị vì lợi ích cá nhân và đảng hệ.

Mỗi một gợi ý về niềm đau của đất nước, về nỗi thống khổ của người dân nơi quê nhà là mỗi trở mình thao thức. Hơn hai mươi năm chịu cuộc lưu vong, bao nhiêu dòng nghĩ chảy tràn cảm xúc thương đau xuống ngòi bút. Hằng triệu con chữ ngậm ngùi vượt đêm thao thức bày tỏ cùng thế gian nỗi tủi buồn của một chinh nhân, cũng là nạn nhân và chứng nhân của cuộc chiến hai mươi năm khốc liệt.
Biến cố tang thương của Đất và Dân Việt trong ngày 30 tháng 4 năm 1975. Luôn biết là buồn lắm, nhưng không thể quên là sự nghịch lý của cuộc đời, là sự bi đát của một quốc gia nhược tiểu sát liền biên giới với một nước lớn luôn nuôi mộng bá quyền thiên hạ. Một nghìn năm đô hộ giặc Tàu của thế kỷ xưa không chỉ là nỗi ám ảnh của quá khứ, mà là hiện thực của hôm nay với họa xâm lăng của cộng sản Trung Hoa đang là những vấn nạn của những tấm lòng còn thao thức với quê hương.

@

Hôm nay những ngày cuối của Tháng Tư buồn. Những gì tôi viết từ những cảm xúc của một người dân Việt lưu vong gởi chia xẻ cùng các bạn tạm thời lấy những dấu chấm than (!!!) ghim trên vách thời gian luân chuyển. Để nhìn ngày mai ngoài khung cửa với màu cờ vàng phất phới bay hòa vui với màu hồng hoa anh đào mùa Xuân mới. Cùng dâng lời nguyện cầu cho quê hương thanh bình và nhân dân ấm no, hạnh phúc trong một thể chế tự do dân chủ. Xin cho không còn những Tháng Tư Đen tiếp nối.
Hôm nay và ngày mai tôi sẽ cùng các bạn trẻ tay nắm tay đi dưới màu cờ vàng hát những bản tình ca quê hương, hát trong niềm yêu thương của những người Việt Nam luôn hướng về Quê Mẹ.

Chúc các bạn của tôi mạnh bước đi lên trên hành trình tranh đấu vì một Việt Nam quang vinh với niềm tin chính nghĩa và lòng dân sẽ chiến thắng bạo tàn. Tái lập kỷ nguyên Việt Tộc anh hùng và kỷ cương Lạc Hồng bất diệt.
Trân trọng,

Cao Nguyên
Washington.DC - April 29, 2015



trả lời


Thơ Văn Hợp Tuyển




Hát Cho Biển Đông và Nhân Quyền

Trời Washington.DC hôm nay
đẹp một ngày hát cho Biển Đông
đẹp lòng người hát vì Nhân Quyền
đẹp tình người hát dâng Quê Hương

Nắng reo vui trên màu cờ vàng
nắng đua chen chân người rộn ràng
ngàn người đi tay vung lên trời
theo tiếng reo Việt Nam, Việt Nam

Trưa nắng nung chúng con vẫn hát
hát dâng lời Hòa Bình Quê Hương
hát đòi quyền làm người yêu thương
hát vang đòi Tự Do Việt Nam

Mẹ Việt Nam ơi! Chúng con đang khát
thèm uống nguồn nước mát Biển Đông
thèm uống dòng nước nguồn Văn Lang
thèm đi dưới linh thiêng cờ vàng

Tiếng hát theo bước chân nhịp nhàng
Hoàng Trường Sa quê hương Việt Nam
hát cho Biển Đông, hát vì Nhân Quyền
hát gởi lời về nơi quê mình:

Tuổi trẻ ơi hiên ngang vùng lên
đấu tranh đòi Dân Chủ Tự Do
đòi được quyền công dân yêu nước
trên quê hương Việt Nam tuyệt vời!

Cao Nguyên

Washington.DC - July 6, 2014



trả lời


Thơ Văn Hợp Tuyển




từ Hồng Kông tới Việt Nam

đêm Hồng Kông rực ánh lửa tự do
thắp sáng bởi vạn trái tim tuổi trẻ
và lòng dân hợp sức thổi bùng lên
tạo rực rỡ một trang hùng sử mới

Hồng Kông! Hồng Kông.. Khắp nơi vang tiếng gọi
gởi lời chúc mừng thắng lợi, thành công
cuộc cách mạng đòi quyền dân làm chủ
vui cuộc đời, đẹp lãnh thổ non sông.

@

Việt Nam! Việt Nam.. Khắp nơi đang chờ đợi
ngọn lửa tự do sáng rọi trời đêm
hàng triệu cánh tay vung lên đòi hỏi
nhà nước trả quyền làm chủ cho dân
trả lại núi sông vẹn toàn lãnh thổ
trả lại quê hương không có giặc Tàu
mãi mãi Việt Nam là của Việt Nam
dòng máu Lạc Hồng đời đời bất khuật

@

hôm nay Hồng Kông. ngày mai Việt Nam
khắp ba miền cùng chuyền tay thắp lửa
sáng mọi ngả đường dân chủ tự do
rạng rỡ non sông, vinh quang quốc sử.

Cao Nguyên
Washington.DC - Oct 4, 2014



trả lời


Thơ Văn Hợp Tuyển




Giọt Lệ Hồng

giọt lệ hồng

" chợt nghe từ đá hồn thương tích
vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa "
(Thanh Nam)


đã có bao lần
em thấy
giọt lệ hồng
rơi!

đã có bao lần
em hiểu
vì sao
giọt lệ - hồng?

những giọt lệ pha máu
từ tim
chảy xuyên qua mắt
buốt đau theo giòng chảy
cay đắng suốt trăm năm

đã có bao lần
em biết
tại sao có giọt lệ hồng?

nó kết tụ bởi máu và nước mắt
từ những cái chết
vì muốn bảo vệ quê hương và đồng loại
vì muốn đối kháng với những quyền lực quỷ ám
vì muốn giữ lại lương tri trong nghiệt cay thù hận


em hiểu
tại sao hôm nay
anh bị chấn động
viết những dòng
không thường hằng có trong anh
bởi chỉ vì
hôm nay
anh muốn viết
về một thời đã qua
đầy nước mắt và máu
của bạn mình
chết bởi
một viên đạn
một liều thuốc độc
một dây treo cổ
....
giọt lệ hồng
đang chảy trong anh
và chung quanh anh

*

có thể anh sẽ viết cho em
hiểu thêm những điều gì đó
về những giọt lệ hồng
trong tháng Tư đen và trước nữa
mà cũng có thể là không
vì anh sợ mình không vượt khỏi
những lần tim chảy máu
những giọt lệ hồng
mãi chảy
trong anh
trong đời bạn bè anh
trong giòng sống
trong giòng chết

giọt lệ hồng không ngưng tụ
trong đá sỏi
trong giá băng
trong câm lặng
mà chảy xuyên suốt qua mọi rào cản
của vô tri

bất giác
anh đang cảm thấy
lòng mình thổn thức
bên cạnh những ngôi mộ
chôn trong ký ức
từng dãy
từng hàng
xác của bạn anh
những người ruột thịt của anh
họ đã đứt ruột ra đi
họ đã chia thịt cho xứ sở
và máu họ trộn vào
không gian mưa lũ
đỏ au!

Em ơi
có thể đây là bài thơ tự do hay nhất
mà anh viết
có thể đây là một đoạn
trong bài điếu văn anh gởi cho bạn bè
cho những Cha, Chú, Anh, Em
đã nằm xuống
vì những chữ Tự Do, Bác Ái, Nhân Quyền

Bài viết hôm nay
em nhớ
không nặng lòng thù hận
mà nặng nỗi tiếc thương
những người đã hy sinh
cho quê hương
và gởi lời cảm xúc
đến những con tim
đang chảy
giọt lệ hồng

em cũng nhớ
không có sự bi thảm
vì người anh hùng không chết
cho những cưu mang lừa dối
và lòng thương hại


và em nên nhớ
sự ra đi
chững chạc và dứt khóat
của những con người
có trái tim chân chính
xuyên qua
những giọt lệ hồng.

Cao Nguyên

@

Nghệ Sĩ Dzuy Lynh diễn đọc:

https://app.box.com/shared/xhreda8z1xch89jvykdq

Nhạc Sĩ Vĩnh Điện phổ nhac

https://www.youtube.com/watch?t=96&v=uKBNUgz1Pjg



trả lời


lên trên