Tác Giả và Tác Phẩm                 <<< tìm >>>                 BÀI MỚI . muc luc . vào



Đặc San Cao Niên


Vinh Danh Cụ Phan Thanh Giản


Tuy cụ Phan Thanh Giản qua đời từ thế kỷ thứ 19 năm 1867 trước khi có chủ nghĩa cọng sản ra đời nhưng cụ đã được một nhóm “Cựu học sinh PhanThanh Giản- Đoàn Thị Điểm và Thầy Cô cùng bạn hữu” vinh danh trên Đài tưởng niệm nạn nhân cọng sản trên toàn thế giới Arc of Memory (Vòng Cung Tưởng Niệm). Đài sẽ được khánh thành tại thủ đô Ottawa (Canada) vào năm 2018 với kinh phí ba triệu đô ($3,000,000.00) Số còn lại do cộng đồng các sắc dân gây quỹ từ năm 2009 đóng góp.

Bài viết vinh danh về Cụ Phan có ba bản Việt, Pháp, Anh cho rằng cụ Phan là một nạn nhân đặc biệt của Cọng Sản. Các cựu học sinh đã gởi tài liệu này cho ban điều hành trang nhà www.tributetoliberty.ca, trong danh mục Contribute. Theo đó, năm 1975 cụ bị xử tử ngay tại sân trường mang tên cụ ở Cần Thơ về tội bán nước và tội tự tử vì hèn nhát. Hai bộ đội cụ Hồ (Hồ Chí Minh, một đảng viên cọng sản quốc tế), đã dùng búa đập tượng cụ, cho đến khi chiếc đầu lìa khỏi cổ trước sự chứng kiến của nhiều quân cán chính Việt Nam Cọng Hòa. Họ bị tâp trung để xem án lệnh đấu tố cụ.

Tin từ cựu học sinh của hai trường nói trên hiện định cư ở Toronto (Canada) còn cho hay, viên gach tưởng niêm cụ Phan Thanh Giản mang số thú tự từ 1303 -1312 trên the pathway to liberty. Tên tiếng Anh của nhóm là “The Phan Thanh Giản - Đoan Thi Điem Alumni Group/Teachers and Friends”. Đài tưởng niệm ghi lại những biến cố lịch sử khắp nơi do công sản gậy ra trên bức tường hướng Bắc và ghi danh tính nạn nhân của các biến cố này trên bức tường nằm ở hướng Nam.

Cụ Phan Thanh Giản (1796-1867) làm quan lớn dưới triều Nguyễn ở thế kỷ thứ 19. Cụ văn đức song toàn, suốt đời vì dân vì nước. Năm 1867 cụ đã lấy cái chết của mình để cứu dân lành khỏi nạn binh đao. Cụ là biểu tượng cho hào khí miền Nam. Thế nhưng, hơn một thế kỷ sau, năm 1975 cụ là nạn nhân của chính quyền cọng sản Việt Nam. Cụ bị xử tử ngay tại sân trường mang tên cụ ở Cần Thơ về tội bán nước và tội tự tử vì hèn nhát. Hai bộ đội cụ Hồ (Hồ Chí Minh, một đảng viên cọng sản quốc tế), đã dùng búa đập tượng cụ, cho đến khi chiếc đầu lìa khỏi cổ trước sự chứng kiến của nhiều quân cán chính Việt Nam Cọng Hòa. Họ bị tâp trung để xem án lệnh đấu tố cụ.

Lý do đảng Cộng sản dùng quyền lực và bạo lực để đạp đổ, một học giả tối cao đầu tiên của Miền Nam được đa số dân Nam Kỳ yêu quý là vì cụ Phan có ảnh hưởng rất lớn với dân miền Nam. Ngay sau khi Việt Nam bị nhuộm đỏ tháng 4 năm 1975, một phái đoàn từ Bắc được cử vào Nam để triệt hạ danh dự và di tích cụ. Tất cả tên đường và tên trường đều bị thay bằng tên các cán binh Cộng sản. Nhiều kênh mạng và nhiều bài báo kết tội cụ Phan là kẻ “ dâng thành, hiến đất cho giặc” . Ngôi mộ của cụ bị bỏ hoang phế. Những người Cộng sản còn đòi quật mồ cụ lên để đem xác vứt xuống sông.

Thật ra, việc lên án Cụ Phan « dâng thành, hiến đất cho giặc », đã đưọc chuẩn bị ở Hà nội vào những năm 1962-1963. Đứng đầu là Trần Huy Liệu, cột trụ Viện sử học, cha đẻ anh hùng xạo Lê văn Tám. Lúc đó là thời điểm đảng cọng sản Việt Nam, theo chiến thuật biển người của Mao Trạch đông phát động chiến tranh vào Miền Nam. Họ động viên văn học, nghệ thuật, sữ học, …cho mục tiêu chánh trị, cùng đề cao sự lìều mạng như là gương anh hùng để lùa dân xông vào chỗ chết. Ngoài ra, theo tài liệu từ nhà biên khảo Trần Đông Phong, Trần Huy Liệu đã dùng nhân vật Phan Thanh Giản để bôi xấu những ai có thái độ khuất phục trước sức mạnh của Pháp năm 1867 và Mỹ năm 1963.

Mặt khác, đảng Cộng Sản trong ý đồ xâm lăng Miền Nam còn nhằm răn đe thành phần ” tập kết ”. Đây là những cán binh cọng sản ở miền Nam năm 1954 ra Bắc bằng tàu thủy theo hiệp định Geneve. Cụ Phan từng phục vụ từ miền Trung Việt Nam cho tới mủi Cà Mau. Cụ cũng đã đi sứ qua nhiều nước nên cụ là người nhìn xa thấy rộng. Nhà vua đã từng khen thưởng cụ ”Liêm, Bình, Cần, Cán” . Đường công danh của Phan tiên sinh đầy oan khuất nhưng Cụ vẫn hết lòng ái quốc, trung quân. Ngoài văn thơ thương tiếc cụ của các văn nhân thời bấy giờ, cụ còn được phong thần ở các tỉnh thành. Nhiều đường lớn, bệnh viện, trưởng học, cầu, chợ mang tên cụ. Tượng cụ được dựng bên ngoài lăng miếu và trường học.

Cụ Phan Thanh Giản là người đầu tiên và duy nhứt ở miền Nam thi đậu Tiến sĩ trong vương triều nhà Nguyễn. Cụ người làng Bảo Thạnh, tỉnh Vĩnh Long (xưa) nay thuộc huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Thời đó là thời các nước phương Tây tìm thị trường, chiếm thuộc địa, khai thác tài nguyên và nhơn lực để làm giàu sau cách mạng khoa học kỷ thuật. Năm 1863, triều đình cử cụ làm Chánh Sứ sang Paris (Pháp) và Madrid (Tây Ban Nha) để thương thuyết tìm cách chuộc lại ba tỉnh miền Đông do hòa ước năm 1862 đã ký kết. Nhưng việc thương lượng không thành. Nhờ qua Pháp cụ “thấy việc u Châu phải giựt mình; kêu gọi đồng bang mau thức dậy” nhưng “hết lời năn nỉ chẳng ai tin”.

Chức vụ sau cùng của cụ là Kinh Lược Sứ đóng ở Vĩnh Long lo trấn giử ba tỉnh miền Tây Nam phần. Hậu bán thế kỷ 19, triều đình nhà Nguyễn quá suy yếu do chính sách bế quan tỏa cảng. Quân Pháp dưới sự chỉ huy của De La Grandiere dốc toàn lực tấn công chiếm thành Vĩnh Long . Không đủ sức chống cự vì vũ khí thô sơ so với vũ khí của Pháp, cụ Phan giao thành và yêu cầu quân Pháp không được tàn sát lương dân. Thành thất thủ, cụ Phan nhân lảnh trách nhiệm, nhận tội với triều đình, gởi trả ấn tín vua ban, khuyên con cháu không được cộng tác với người Pháp, uống thuốc độc quyên sinh, ngày 4 tháng 8 năm 1867.

Sau khi cọng sản cai trị toàn nước Việt (30-4-1975), dân miền Nam sửng sốt khi hay tin nhân phẩm cụ Phan, người đã chết theo thành hơn một thế kỷ trước; bị cộng sản hạ bệ. Trước khi quyên sinh cụ đã tuyên bố Cờ tam sắc không thể bay phất phới trên một thành lũy nơi Phan Thanh Giản còn sống”,thì Phan tiên sinh không thể bị kết án là “dâng thành, hiến đất cho giặc” đươc. Năm 2008 đảng Cộng Sản Việt Nam, để tồn tại họ phải đổi mới. Việc Viện Sử Học Việt Nam đã cho khôi phục một số di tích liên quan đến cụ. Nhưng nhà cầm quyền cọng sản vẫn bất nhất chưa chính thức phục hồi danh dự của cụ và xin lỗi vể những sai lầm trong việc xúc phạm đến một danh nhân đất nước.

Tâm-Tâm

In memoriam Docteur Phan Thanh Giản
( (une victime très particulière de l’acharnement du Parti Communiste vietnamien)
Le Docteur Phan Thanh Giản (1796-1867) fut un grand personnage. Mandarin de haut rang sous le règne des Nguyễn du 19ème siècle, lettré renommé, militaire fin stratège, toute sa vie a été vouée au service de son pays et de son peuple. En 1867, il a choisi la mort pour épargner à la population de sa ville les affres de la guerre [avec la France]. Il était le symbole de la vaillance du peuple du Sud-Vietnam. Et pourtant, un siècle plus tard, en 1975, il fut victime des autorités communistes vietnamiennes, nouveaux maîtres du Sud-Vietnam. Il a été exécuté dans la cour même de l’école portant son nom, à Cần Thơ, pour crime de trahison envers son pays, et de couardise face à l’ennemi, pour s’être suicidé par le poison. Deux soldats de l’armée de Hồ Chí Minh – celui-même qui fut, un temps, agent notoire du Komintern – ont à coups de marteaux, fait tomber la tête de la statue du Docteur Phan Thanh Giản, et l’ont fait rouler par terre, devant les yeux d’une foule de fonctionnaires et de militaires de l’ancien régime de la République du Vietnam vaincu, rassemblée là, exprès.
La raison de cet acharnement contre ce premier lettré originaire du Sud, aimé de tous pour sa bonté, c’est qu’il était un modèle pour tous, d’une grande renommée pour tout un peuple. Dès le lendemain de la défaite du Sud-Vietnam, à la fin du mois d’avril 1975, une délégation composée d’agents du Nord-Vietnam fut envoyée au Sud, dans le but d’effacer toute trace de l’existence du Docteur Phan Thanh Giản, de ses vestiges physiques comme de sa popularité. Son nom a été enlevé des rues, des monuments, des écoles, remplacé par des noms de héros communistes [vietnamiens]. Les media et journaux se déchaînaient, le dénonçant comme traître, comme celui « qui a vendu la citadelle et offert la terre aux ennemis » [la France]. Sa tombe fut laissée à l’abandon, son entretien interdit, les visites et les célébrations proscrites. D’autres même, plus radicaux, préconisaient de détruire sa tombe, et de jeter ses restes aux poissons.
En réalité, le procès du Docteur Phan Thanh Giản, « celui qui a vendu la citadelle, offert la terre aux ennemis » était préparé de longue date à Hanoi, dès les années 1962-1963. Le premier coupable a été Trần Huy Liệu, le pilier du service de l’Institut d’Histoire [du Vietnam communiste], le créateur du mythe de l’invraisemblable héros Lê Văn Tám ! [En 1945, Lê Văn Tám, d’après le mythe – s’est imbibé d’essence, a mis le feu et, tel une torche vivante, a parcouru plus de 100 mètres pour aller faire sauter l’arsenal du port de Saïgon ! Et, bien que Trần Huy Liệu lui-même, avant sa mort, ait avoué qu’il avait complètement inventé cette histoire, le nom de Lê Văn Tám continue à illustrer encore de nos jours des rues et des squares dans Saïgon « Ho Chi Minh ville ».
En 1962-1963, le Parti communiste du Vietnam du Nord, disciple fidèle de la tactique de la marée humaine de Mao Zédong, menait la guerre totale contre le Sud. Sur tous les fronts, même ceux de la littérature, de l’histoire, ou de l’art… Tout devait viser le même but : la politique et la propagande… Tout, y compris le sacrifice suprême de soi. C’était la guerre totale, sus à l’ennemi, une marée humaine, la victoire ou la mort. De Trần Đông Phong, l’analyste littéraire, jusqu’à Trần Huy Liệu, il faut « casser l’image du héros national Phan Thanh Giản », pour empêcher toute velléité de renoncement au combat devant la puissance de l’ennemi ; pour que les Vietnamiens de 1963 qui l’envisageraient ne capitulent pas devant les Etats-Unis comme Phan Thanh Giản l’avait fait devant la France en 1867 !
En effet, le Parti Communiste Vietnamien du Nord-Vietnam, dans son projet d’envahir le Sud voulaient ainsi donner un avertissement aux ralliés sudistes contre toute velléité de renoncement. Après la partition prétendument provisoire des accords de Genève en 1954 [en attendant une hypothétique élection pour la réunification du Vietnam], ces ralliés avaient rejoint le Nord en bateau pour le regroupement des forces militaires.
Le Docteur Phan avait servi le pays depuis le Centre Vietnam jusqu’à la pointe de Ca Mau. Il avait aussi participé à plusieurs missions diplomatiques, à des pourparlers et à des visites protocolaires dans divers pays étrangers. Il avait donc une vision et une vaste connaissance du monde. Il avait reçu de l’Empereur les honneurs et les récompenses les plus distingués. Malgré des hauts et des bas dans sa carrière, il avait toujours servi son pays et son Empereur avec fidélité et honnêteté. Sa mort a été pleurée, chantée, regrettée. Dans certains coins du pays on l’avait même déifié. Des rues, des écoles, des hôpitaux, des ponts, des marchés, des monuments publics portaient son nom. Sa statue s’élevait non seulement devant des écoles, mais aussi devant des édifices religieux.
Il fut le premier et l’unique Docteur Sudiste de la dynastie des Nguyễn. Il était né dans la province de Vĩnh Long (actuelle Bến Tre), au village de Bảo Thạnh (actuel canton de Ba Tri). C’était au temps où les Français cherchaient à développer leur marché, à conquérir des colonies à la recherche des matières premières et de main-d’œuvre, pour s’enrichir après la révolution industrielle. En 1863, l’Empereur envoya le Docteur Phan en mission diplomatique en Europe, à Paris et à Madrid pour négocier la restitution des trois provinces de la partie orientale du Sud, perdues après le traité de paix de 1862. Les négociations échouèrent. Mais ayant visité l’Europe, Phan Thanh Giản avait constaté les bénéfices du progrès et de la science. De retour au pays, il a appelé au réveil national, mais « que des complaintes, point d’écoute ».
Son dernier poste fut Gouverneur de Vĩnh Long, gardien des trois provinces occidentales du Sud. La deuxième moitié du 19ème a vu le déclin de la dynastie des Nguyễn, avec la politique de « fermeture des ports et des frontières ». En 1867, l’armée française, sous le commandement de l’amiral de La Grandière, déploie toutes ses forces devant la citadelle de Vĩnh Long. Voyant la faiblesse de son armée face aux Français [en équipements et en armement], Phan Thanh Giản capitule en demandant aux forces françaises d’épargner la population. La citadelle livrée à l’ennemi, il reconnaît sa faute envers l’Empereur, renvoie son titre et ses sceaux, conseille à ses descendants de ne pas collaborer avec les Français, avale du poison et meurt le 4 août 1867.
Après la communisation de tout le Vietnam, le 30 avril 1975, les Sud-Vietnamiens furent stupéfaits d’apprendre que leur héros, le Docteur Phan Thanh Giản, qui s’était sacrifié lors de la perte de sa ville, un siècle auparavant, était condamné une fois encore, par les nouvelles autorités. Or Phan Thanh Giản, avant sa mort, avait promis que tant qu’il vivrait, le drapeau tricolore français ne flotterait pas sur sa ville. Donc, il ne pouvait être accusé d’avoir « vendu la citadelle et offert la terre aux ennemis ».
En 2008, pour survivre, le Parti Communiste Vietnamien a été obligé de changer sa ligne politique. Ce fut le Đời Mới ou Đổi Mới [détournement par les Sud-Vietnamiens, grâce à la différence des accents entre Đời et Đổi, de la formule officielle Đời Mới, « nouvelle vie » en Đổi Mới « changements »]. L’Institut d’Histoire [du Vietnam Communiste] a plus ou moins corrigé quelques inepties à propos de Phan Thanh Giản. Mais les autorités n’ont pas encore reconnu leurs méfaits, n’ont pas encore rétabli l’honneur de Phan Thanh Giản, ni surtout présenté des excuses pour toutes leurs interprétations calomnieuses sur l’Histoire contemporaine, en particulier envers ce grand personnage historique.
Phan Văn Song

Commemorating the Honorable Phan Thanh Giản
(a Rather Unusual Victim of the Communist Government of Vietnam)

Phan Thanh Giản (1796-1867) was one of the Nguyễn court’s foremost mandarins in the 19th century, a scholar who dedicated his lifetime efforts to preserve the best interests of the Vietnamese people during the conflict with the French army. In 1867, he chose to relinquish his own life in order to spare the common people from the calamities of war. His is the life of a noble man who symbolizes the indomitable spirit of the South. Nevertheless, more than a century after his death, his name and reputation were brutally smeared and attacked by the communist regime. As they took control of the entire country following the fall of South Vietnam in 1975, the new regime tried to rewrite history by wrongfully condemn him as a traitor and as a coward.
Born in Ben Tre, South Vietnam, Phan Thanh Giản was the first and only man from the South who was bestowed the top scholar degree under the Nguyen dynasty. In 1863, he was sent by the king on an embassy mission to France and Spain to negotiate the return of the territories given to the French in a concession of the previous year treaty. Though the mission did not succeed, the trip to Europe opened his eyes to the technological advancements of the West. Upon his return, Phan Thanh Giản advocated the need for his people to wake up and renovate, but to no avail. The Nguyen dynasty continued with their “Closed Door-Locked Port” isolationist foreign policy that had weakened the country.
Consequently, when the French troops under the command of De La Grandiere attacked the citadel of Vinh Long in 1867 with full force, as governor of the three remaining Southern provinces, Phan Thanh Giản recognized that his army stood no chance against an overwhelmingly strong and better-armed enemy force. He chose to surrender after securing the commitment from the French that they would conduct no atrocities against his people. Staying truthful to his saying “French tricolor flag never flies over the citadels where Phan Thanh Giản lives”, he subsequently committed suicide by taking poison on August 4, 1867.
What on earth prompted the communist regime to execute a national hero who had died a hundred years before? Why did two of Ho Chi Minh‘s cadres kept hammering on his statue until the head broke off while many Vietnamese of the previous regime was forced to witness the condemning act?
The answers to those questions are rooted in a plan originated in Hanoi many, many years before it was carried out. Back in the early sixties, led by Tran Huy Lieu, a principal of the communist History Institute, the propaganda campaign, modeled after the tactics used by Mao Tse Tung, was aimed to incite the mass to commit suicidal acts by making up fake stories of war heroes. Phan Thanh Giản was singled out in the attempt to smear those who yield to the might of the French in the late 1800’s, and of the US in 1960’s. It also was meant to keep down those from the South who in 1954 chose to migrate to the North to join the Northern troop, as allowed by the Geneva accord signed that same year that divided the country.
Nevertheless, Phan Thanh Giản was and still is revered by the people of Vietnam; notably in the South, many citadels, schools, hospitals, streets, bridges and other structures still bear his name. His life has been celebrated in many literary works by his contemporaries, as well as by writers of late.
As the war ended in 1975, in fear of Phan Thanh Gian’s influence over the population, the central government in Hanoi rushed a team to the South to destroy his honor and eradicate any traces of his relics. Schools and streets bearing his name were replaced with the so-called communist heroes’ names. They launched a media campaign to accuse him of selling out Vietnamese territories to the French in the mid-1800’s, desecrated his tomb, and even demanded his body to be exhumed and discarded into the river.
The Vietnamese people were dismayed when the conquering regime decided to smear and destroy the legacy of a national historic hero. Populous oppositions arose, forcing the communist government to finally, though reluctantly, restore some of his relics. And to this day, they stubbornly refuse to acknowledge their criminal act in trying to deface his reputation and legacy of a genuine Vietnamese hero.
Trinh Phố
Nov 2017
Đài Tưởng Niệm & người được vinh danh

Đài tưởng niệm kiến trúc bằng đồng gồm 4,000 thanh kim loại với tổng cọng
21thước chiều dài và gần bốn thước chiều cao.Ủy Ban Yểm Trợ Xây Dựng Đài
Tưởng Nạn Nhân Cộng Sản cho biết người được vinh danh có thể là thân nhân của quý vị; một người bạn mà quý vị muốn tặng một món quà tưởng niệm ý nghĩa; một nhà đấu tranh cho tự do dân chủ nhân quyền tại Việt Nam, hoặc một anh hùng đã hy sinh vì lý tưởng bảo vệ độc lập tự chủ cho đất nước bị cộng sản Việt Nam bức hại.

Dự Án Xây Đài Tưởng Niệm Nạn Nhân Cộng Sản do tổ chức bất vụ lợi, Tribute to Liberty, môt tổ chức có nhiệm vụ xây dưng tưởng niệm các nạn nhân cọng sản thực hiện. “Arc of Memory”, do đội thiết kế của họa sĩ kiêm kiến trúc sư Paul Raff, và các kiến trúc sư của công ty Paul Raff Studio Incorporated, và the Planning Partnershi phat họa đã đoạt giải tuyển chọn vào tháng 5, 2017 sau khi vượt qua 5 đội dự thi khác. Ngày 17 tháng 5 năm 2017, thay mặt cho Bộ trưởng Melanie Joly, ông Arif Virani, Tổng Thư ý Quốc Hội của Bộ Trưởng Bộ Di Sản, công bố kiểu mẩu thiết kế "Arc of Memory" của đội kiến trúc sư Paul Raff ở Toronto trúng tuyển.

Kiểu mẩu thiết kế “Arc of Memory”(Vòng Cung Tưởn Niệm) đã đoạt giải vì không những ghi nhận sự tưởng niệm cần thiết của tội ác lịch sử mà còn tạo nên không gian dẫn dắt khách viếng thăm có sự suy gẫm cần thiết để biết ơn và trân quý Tự Do.

Ủy Ban Yểm Trợ Xây Dựng Đài Tưởng Nạn Nhân Cộng Sản cho biết quý đồng hương muốn có thêm chi tiết thì liên lạc với ông Nguyễn Văn Phép Tel: (647) 274-9282. Email: pheppnguyen@yahoo.com. Ông Phép là cựu học sinh trường Phan Thanh Giản. Sau 1975 trường bị đổi tên là trường Châu văn Liêm. Chính phủ Canada sẽ khởi sự lắp đặt viên gạch đầu tiên cho Đài Tưởng Niệm Nạn Nhân Cộng Sản tại The Garden of the Provinces cạnh quốc hội Ottawa vào năm 2018.

Phan Thanh Tâm
Nov 2017



trả lời


Đặc San Cao Niên


Người Gìn Giữ Quá Khứ

‘Bình đã đậy nắp, đổ nước hoài cũng không đầy. Tính chất nóng lạnh của nước, mùi vị của trà trong đó cũng không thay đổi được!’

Vị sư trung niên mặc áo dà, đầu cạo trọc sát, một chút tóc vừa mới lú lú ra trên đỉnh đầu hơi dài hơn những chỗ khác chút xíu, ý chừng được dưỡng theo ý của chủ nhơn, đẩy cửa tăng phòng thiệt nhẹ nhàng, nói với chú Tuấn trong khi bước qua ngạch cửa. Nét mặt sư thanh thản, khác với nội dung câu nói, khiến chú để tâm hơn tới ý nghĩa câu nói và chú ý đến quyển sách cũ kỹ, mỏng tanh mà sư đương cầm trên tay.

Tuấn liếc nhìn cái tựa: Bồ Tát Giới Pháp Diễn Âm. Chú nói nho nhỏ với mình: Sách Nôm, một trong số kinh rất hiếm hoi do người Việt Nam viết và khắc in cuối thế kỷ 19. Chuyện Đức Phật sai Bồ Tát A Nan Đà hóa độ một thái tử nọ đắm mê sắc dục. Thái tử chỉ tu hành một ngày trước khi chết thôi mà vẫn được độ sanh vào miền Cực Lạc.

Mình đã bị sách mê hoặc suốt đời, sư Quán Thông đây còn bị mê hoặc hơn mình. Chú Tuấn nghĩ thiệt mau. Rồi không từ chối cái vẫy tay mời của chủ nhơn tăng phòng chú bước theo qua khỏi ngạch cửa. Sư dặn trong khi vói tay bật nút mở đèn.

‘Xin kéo cửa lại giùm.’ Chủ nhơn thêm cho nhẹ hơn câu sai khiến của mình: ‘Để cho căn phòng ấm cúng vậy mà.’

Chú đưa mắt chung quanh. Bốn tủ kiếng dựa vách đầy sách. Sách cũ xưa Nôm, Hán, sách kinh kệ khắc bản đầu thế kỷ trước, tất cả đều ngăn nắp, ngay ngắn. Chủ phòng mời trà. Cử chỉ chuyên trà của chủ thiệt đĩnh đạc. Trong khi trịnh trọng đẩy chén trà ra trước mặt khách, sư nói chậm rãi:

‘Nói với chú như vậy vì tôi được sư phụ trụ trì khuyên dạy nhiều lần nhưng vẫn chưa bỏ được tánh mê sách, vẫn dùng nhiều thời giờ cho sách vở hơn kinh kệ.’

Khách mỉm cười sau câu nói của chủ, chưa thể góp ý, chỉ đưa mắt theo sự mời gọi của những quyển sách trong tủ.

‘Đó là cái duyên, nói lý thuyết hơn đôi chút là cái nghiệp. Tôi cảm thấy đọc một trang sách mới hay vài chục trang từng được đọc đi đọc lại thú vị hơn là tụng một thời kinh. Tội lỗi của tôi nằm ở đó. Nặng lắm mà chưa biết tính sao.’

‘Như vậy trong những buổi lễ, trong thời kệ kinh thường nhựt thầy đã không chuyên chú, cái tâm viên ý mã của thầy chạy nhảy lung tung không kềm chế?’

‘Cũng không hẳn như vậy.’ Thầy Quán Thông nhẹ nhàng vừa xác định vừa phủ nhận. ‘Chỉ nghĩ về những quyển sách mới vừa trao đổi hay mới thủ đắc, chỉ nghĩ đến những đoạn văn hay những chữ Nôm quá mắc mình vừa mới khám phá cách đọc, những ngữ nghĩa mình mới suy nghiệm, từ đó khám phá ra những ngữ ý mới mà người xưa kèm giấu trong sách. Nói chung, cái tâm mình động vì nội dung sách chứ không vì những thứ khác, kể cả chính quyển sách. Nhiều khi dựa trên đó tôi tự bào chữa mong nhẹ bớt cái tội lỗi mình đã phạm.’

Khách trịnh trọng bưng chén trà lên, đưa cao tận miệng, không cúi đầu xuống, chỉ chu môi húp từ hớp nhỏ, khi trà gần cạn chén, khách đặt lại trên dĩa, thở dài:

‘Thầy để lòng mê sách lôi kéo quá xa. Như một cỗ xe mà người cầm cưong để cho tuấn mã chạy vào con đường cấm. Người trần như tôi thì được. Như thầy thì không. Tu hành!’

Khách cố tình nhấn mạnh hai chữ tu hành nhưng không lý giải gì thêm.

Cái cười gượng gạo điểm pha chút xấu hổ, thầy Quán Thông nhẹ nhàng:

‘Như đã nói với chú, tâm tôi như bình trà đã được đậy nắp rồi, đổ bao nhiêu thêm nữa cũng chẳng vô bình. Bỏ tánh ham quí sách vở để chuyên chú vô kinh kệ nhứt thời tôi đành cáo lỗi không làm được. Người tu hành không ngại hơi thở mình ngừng, nhưng tôi vẫn lo có điều gì thì công việc cho quyển sách lớn đời mình không hoàn thành.’ Ngừng chút xíu thầy nói thêm. ‘Và nhiệm vụ giữ gìn quá khứ không viên mãn.’

Chú Tuấn nói ngay mà không sợ bạn giận. Chú nói trong cái cười nhè nhẹ:

‘Coi chừng cái tâm vọng tưởng về danh tiếng núp đâu đó trong hình thức viết lách cống hiến cho đời.’

‘Cũng có thể là như vậy, cái tâm muốn có danh tiếng biến hóa khôn lường khiến mình không nhận chân được bản lai diện mục của nó, chỉ thấy được biến tướng của nó là lòng muốn viết và sự cố gắng viết như là một lý tưởng cao đẹp thôi. Mà sư phụ tôi thì không vui gì với những sưu tập sách vở và trang viết của đệ tử, vốn chẳng phải là kinh kệ theo đường truyền thống lâu nay.’

‘Thầy nói giữ gìn quá khứ?’

‘Vâng! Giữ gìn sách xưa là giữ gìn quá khứ nếu ta chịu đọc, suy nghiệm từ đó rồi lọc ra những điều hay đẹp để thực hành. Nếu chỉ sưu tập rồi giữ sách cho thiệt nhiều thì là chuyện khác.’

Khách đưa mắt trên một quyển sách đóng bằng giấy bản dầy trên có đặt một cây bút lông.

‘Đấy cũng là một cách giữ gìn quá khứ của tôi…. Chú biết rồi, một phần triệu triệu của phút giây trước đây là quá khứ, một phần thiệt nhỏ của phút giây sau đây là tương lai. Cái giây phút nhỏ nhít gọi là hiện tại có mà không có bởi vì nó sẽ biến mất ngay. Người đời cứ chăm chăm vào cái hiện tại ảo đó mà bỏ quên quá khứ. Tôi trân trọng nó bằng cách ghi lại những gì xảy ra bây giờ. Dĩ nhiên người đọc từ đó sẽ thấy được quá khứ.’

‘Thầy làm công việc của Tư Mã Thiên?’

Có tiếng gõ cửa rụt rè bằng những tiếng nhẹ, rời rạc. Chủ nhơn cất cao giọng nhưng âm thanh vẫn nhẹ nhàng, thân tình:

‘Cửa mở, xin mời vào.’

Một thiếu phụ đẩy cửa bước vô. ‘Con chào thầy, cháu chào Bác!’

Chủ nhân tăng phòng giới thiệu:

‘Nguyên Tịnh, chuyên viên Hán Nôm, người rất thích tìm hiểu về những vấn đề cơ bản của Phật đạo.’

Hai người khách chào nhau.

Một áng mây vẩn đục bay qua trong trí chú Tuấn. Người đẹp thanh mảnh, duyên dáng như vậy đến liêu của thầy, chuyện nầy xốn mắt quá, chú Tuấn trầm ngâm ngó người nầy, đảo mắt sang người kia xong rồi ngước nhìn lên bức tượng Bồ Đề Đạt Ma quảy dép sang sông. Người thiếu phụ ý chừng không quan ngại cái nhìn và những diễn biến trong tâm của chú, cứ thảo luận với chủ nhân tăng phòng về chữ tâm mê, về mấy từ khó hiểu trong các hội 5, 6 của bài phú Cư Trần Lạc Đạo.

Chú mơ mơ màng màng nghe như tiếng thiếu phụ:

‘Tâm mê trần gian coi mọi sự trên đời là thật. Thiệt ra mọi vật trên đời là ảo, chỉ hiện diện một thời gian rồi mất, tan biến vào cõi vĩnh hằng… cũng chẳng có nam nữ, chỉ có linh hồn và tục thân, tục thân hiện ra dưới hình thức nầy kia. Người mạnh kẻ yếu, người kẹp kẻ xấu, người nam kẻ nữ …’

Chú bừng tỉnh khi tiếng giảng và tiếng hỏi ngừng khá lâu. Chú mở mắt thấy cả hai đương nhìn mình ái ngại. Chú hơi sượng sùng, trở bộ ngồi, tự mình lấy lại chút bình tĩnh bằng cách hớp hớp những hớp nước bự trong tách…

‘Chú coi bộ hơi mệt, nên nghỉ ngơi. Mười năm kia ai bị cũng dễ mất sức, bịnh hoạn…. Mấy quyển kinh sách chú hỏi mượn đã được để sẵn trên bàn đằng đó. Cứ yên tâm cầm về xem, đừng ngại. Sách là để đọc, không phải để trưng bày hay làm của.’

Chú Tuấn liếc nhìn vẻ mặt thanh thoát, đẹp đẽ và hai bàn tay thon thả của người thiếu phụ đang chắp trước ngực…

Hình như cái xốn xang trong mắt đời của chú vẫn còn quanh quất, chưa chịu tan biến…..

2.

Tám tháng sau chú Tuấn lại đạp xe đến chùa. Tăng phòng cũ của vị sư bạn đã được giao cho sư khác. Thầy Quán Thông bây giờ dọn vô một liêu phòng nhỏ cất tạm xa xa, trước rìa nghĩa địa chùa. Thầy để tóc như người cư sĩ tại gia. Áo nâu sòng nhưng không phải là áo tràng của người xuất thế. Thầy mời chú vào thảo liêu với cái mỉm cười.

‘Xin mời vào! Xưa Khổng Minh thanh thản ở mao lư, nay tôi ngự thảo liêu thì cũng như nhau thôi.’

Thầy quay lui, ngó ra ngoài nội, cũng vẫn là câu biểu nhờ nhưng lần nầy nghịch lại:

‘Thôi chú cứ đề cửa mở cũng được. Ta hưởng chút khí trời buổi xế chiều.’

Sách vở nhiều hơn và bề bộn hơn. Nhiều quyển mở ra để trên bàn với những tờ giấy nhỏ ghi chú chằng chịt. Nhiều quyển tự điển nầy nọ dầy cộm mở ra có cây viết đặt vào để làm dấu.

Chủ nhân mở đầu:

‘Nay tôi chỉ còn thuần là một phật tử, một cư sĩ tại gia. Sư phụ trụ trì không khuyên tôi hoàn tục, cũng chẳng muốn tôi hoàn tục nhưng người nói tâm tôi đầy sách vở của văn chương chữ nghĩa, tôi lại cứ ghi ghi chép chép nên tâm không có chỗ cho kinh sách nữa, sư phụ không nói tâm tôi như cái bình đầy đậy nắp, nhưng đại khái tương tợ như thế… Tôi hiểu nghiệp mình và nửa năm trước đã xin thầy cho được sống và tu theo lối của mình. Tôi dịch kinh viết bằng chữ Nôm của các thầy mấy thế kỷ trước, tôi nghiền ngẫm những bài phú của vua Trần, những bài thơ của các thiền sư đời Lý. Tôi xa rời kinh Hán tự, Phạn ngữ….’

Ngước nhìn bức tượng Bồ Đề Lạt Ma, chú Tuấn nhớ tới người thiếu phụ trước đây.

‘Thưa huynh, người tín nữ tha thiết đến chuyện tâm đạo tâm mê tôi hạnh ngộ lần trước bây giờ vẫn khỏe?’

Huynh Quán Thông sửa lại thế ngồi, đưa tay rót trà cho khách, ngó mông ra cửa. Ngoài nội bao la lửng lơ vài ba cụm mây trắng trên nền trời trong xanh. Gió làm lao xao cành lá những tàng cây trước mặt.

‘Tất cả các pháp đều vô thường. Biến đổi không cùng. Đời người như những đám mây kia. Như những cơn gió nọ.’

Chú Tuấn nghe như có luồng điện cao thế chạy xẹt từ chơn cẳng lên tuốt trên đỉnh đầu mình. Chú tròn xoe mắt ngó người đối diện nhưng không dám hỏi. Người cư sĩ đóng lại một cuốn sách đương để lật ra trên bàn, đem xếp chung vô với những cuốn để đứng trong tủ kiếng, đẩy đẩy nhẹ những quyển sách khác lại cho ngay ngắn, nói tiếp:

‘Nguyên Tịnh là người chăm chút trau dồi cái tâm của mình, nhưng cũng không lơ là chi mấy với tục thân. Nguyên Tịnh khám bác sĩ riêng hằng tháng suốt mấy năm qua vì bác sĩ là người bà con. Vậy mà 7 tháng trước nghe tin mình bị bướu não. Được khuyên mổ óc lấy khối u ra, Nguyên Tịnh từ chối với lý do nếu phải tới lúc hết nghiệp, phải để lại tục thân, thì chữa chạy cũng vô ích thôi. Đời sống vốn vô thường, cứ để cái vô thường hành sử quyền của nó.’

Lần nữa huynh Quán Thông ngó lên bầu trời. Một vài đám mây khi nãy đã tan, giờ có thêm vài đám mới. Huynh nhớ đến gương mặt của thiếu phụ thông minh có tinh thần tìm học, đã coi nhẹ một trong những nỗi khổ của nhân sinh. Huynh nhắc thêm:

‘Nguyên Tịnh xác quyết với tôi rằng con người mang tiếng khóc ban đầu mà ra, không phải vì đau đớn khổ sở mà là phản ứng của cơ thể để có thêm không khí khi mới thay đổi môi trường bên trong cơ thể mẹ sang môi trường bên ngoài đời. Và Nguyên Tịnh sẽ chứng minh rằng cái được gọi là khổ chót đời của nhơn sinh ai nấy đều sợ xem ra cũng không phải là cái khổ. Nó là một giai đoạn của quá trình. Tới giai đoạn nào thì ta chấp nhận giai đoạn đó. Giai đoạn chót là một phút giây cực kỳ ngắn, chủ thể chẳng kịp cảm nhận, vậy thì nó vô tính, sướng khổ hay gì gì thì là do người ngoài gán cho nó mà thôi. Không phải cảm thức của chính chủ thể.

Chú Tuấn gật gù. Đi ngược lại lời dạy căn bản lưu truyền mấy ngàn năm nay của đấng từ phụ sáng suốt ngàn đời không phải điều chú có thể chấp nhận được liền. Chú rụt rè ngó người đối thoại, nói cho có, vô thưởng vô phạt:

‘Nguyên Tịnh thông minh và can đảm. Không phải dễ dàng có được một người như vậy trên đời nầy.’

Ngoài kia có tiếng ồn ào cãi cọ của dân chúng và những người gọi là giữ gìn trật tự khu phố. ‘Mấy vụ kiện cáo khiếu nại xảy ra hà rầm mấy năm nay mà có ai giải quyết được đâu, miếng đất phía sau của Chùa cũng bị hăm he giải tỏa, sư trụ trì cứ chấp tay Mô Phật hoài chớ biết tính sao bây giờ!’

Huynh Quán Thông nói rồi đưa tay lên nhổ những cọng râu vừa mới nhú nhú ra ở dưới cằm. Hai người ngó vô mặt nhau xong cùng liếc mắt ra đường. Không khí bỗng nhiên nặng nề như đông đặc làm cho người ta phải è ạch thở.

Huynh kéo tủ, mở một cuốn sách ghi chú dang dở của mình ra, chấm chấm đầu bút lông vô nghiên mực Tàu, cầm ngang bút rồi nhè nhẹ gạt gạt đầu bút vô nghiên để mực không đọng trên ngọn, viết tiếp theo trang viết dang dở:

‘Tháng Mười năm nay dân oan thường bị đuổi dạt tan tác, một số nhỏ thoát chạy ngang chùa. Người tín nữ thường đem nước và xôi cúng dường cho họ đã siêu hóa hơn năm tháng nay không còn cúng dường cho họ nữa…’

Huynh ngừng viết hỏi người đối diện:

‘Mà chú Tuấn nầy, chữ dạt ngày nay viết Nôm sao cho đúng nhỉ? Hài thanh với dật, diệt, đạt hay cát?’

Nguyễn Văn Sâm



trả lời


Đặc San Cao Niên


Luận về KHOA BẢNG

"Sơn hạ hồng trần Nam Thoán lộ
Bất tri quan đái kỷ nhân hồi”
Dưới núi, bụi hồng, đường Nam Thoán, không biết có bao nhiêu người
lãnh áo mão cân đai trở về.

Hai câu thơ này thể hiện sự cam go của sĩ tử phấn đấu, thi thố tài năng
qua trường thi trận bút hầu mong đỗ đạt để được tiến cử ra làm quan từ
thời nhà Hán, cách đây gần hai ngàn năm về trước. Dầu trong bất cứ hoàn
cảnh nào, thời đại nào vẫn có vấn đề "Học tàỉ thi phận”. Thế nên, mặc dầu
vào thời nhà Hán một số người Việt khoa bảng như Lý Tiến, Lý Cầm,
Trương Trọng đã đỗ đạt vinh quy bái tổ và được Hán triều bố nhiệm ra làm
quan, mãi đến đầu thế kỷ thứ 20, Tú Xương than thở vì thi mãi vẫn chưa
hết phạm trường quy:

"Đau quá đòn hằn
Rát hơn lửa bỏng
Hổ bút hổ nghiên
Hổ lều hổ chõng”

Thi hỏng liên tiếp, Tú Xương quả đã thất vọng
”Phen này tớ hỏng tớ đi ngay
Cúng giỗ từ đây nhớ tới ngày
Học đã sôi cơm nhưng chửa chín
Thi không ngậm ớt thế mà cay!"

Cụ Nguyễn Công Trứ cũng đã trải qua những âu lo khắc khoải của cuộc
đời khoa hoạn, mãi đến tứ tuần mới đỗ Cử Nhân và được tiến cử ra làm
quan. Đối với Nguyễn Tiên sinh đỗ đạt ví như: ”Bẻ cành đơn quế cho rồi
liền tay" chẳng những để khỏi:

"Thẹn đèn hỗ lửa đau lòng mẹ
Nay thét mai gầm rất cổ cha."

mà còn đạt đến ước nguyện (self actualization) của cuộc đời. Đắc chí, hay
đạt được lý tưởng vì được liệt vào hàng "Kẻ sĩ”. Theo triết gia Maslow, thế
nhân có 5 nhu cầu chính yếu (1) Nhu cầu về sinh vật lý ( biological need)
như đói ăn, khát uống...(2) nhu cầu được sống an toàn ( security need)
không bị đe doạ, áp bức; (3) nhu cầu hội nhập ( belonging need), nhu cầu
kết hợp, nhóm họp, thân hữu (4) nhu cầu được tôn trọng ( respect need)
và (5) nhu cầu thực hiện được lý tưởng của mình ( self actualization need)

”Tước hữu ngũ Sĩ cư kỳ liệt
Dân hữu tứ Sĩ vi chỉ tiên
Có giang sơn thì Sĩ đã có tên
Từ Chu, Hán vốn Sĩ này là qúi”
Với danh tước Nho Sĩ, thì tiến vi quan thối vi sư. Trước hết, phải tích
cực tiến theo tấc bóng của mặt trời, "Nhật tân chỉ vị thịnh đức" mỗi ngày
một mớỉ và mỗi ngày một thêm mới mới là đức thịnh. Đem lờỉ hay ý đẹp
phụng sự xã hội lúc chưa gặp thời:

"Lúc vị ngộ hối tàng nơi bồng tất
Hiêu hiêu nhiên điếu Vị canh Sằng
Xe bổ luân dầu chứa gặp Thang, Văn
Phù thế giáo một vàỉ câu thanh nghị. ”

Và khi đi gặp thời thì:
”Rồng mây khi gặp hội ưa duyên
Đem tất cả sở tồn làm sở dụng
Trong lăng mỉếu ra tài lương đống
Ngoài biên thùy rạch mũi can tương
Làm cho bách thế lưu phương
Trước là Sĩ sau là Khanh, Tướng."

Sau khi đem tài kinh bang tế thế để giúp nước trị dân, kẻ sĩ mới được
thung dung thụ hưởng cảnh an nhàn:

"Nhà nước yên Sĩ mớỉ được thung dung
Bấy giờ Sĩ mớỉ tìm ông Hoàng Thạch
Năm ba chú tiểu đồng lếch thếch .
Tiêu dao nơi hàn cốc thanh sơn
Nào thơ nào rượu nào dịch nào dờn
Đồ thích chí chất đầy mội túỉ
Mặc ai hỏi mặc ai không hỏi đến
Ngẩm việc đời mà ngằm kẻ trọc thân
Này này Sĩ mới hoàn danh."

Tuy vậy, cũng có nhiều vị khoa bảng chỉ chuyên nghề dạy học và không
màng danh lợi như Cụ Chu Văn An, có thể vì:
”Gót danh lợi bùn pha sắc xám
Mặt phong trần nắng rám mùi dâu.
Nghĩ thân phù thế mà đau
Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê”!

Cũng có thể vì không muốn dấn thân vào vòng tục lụy xích xiềng để rồi
phải ân hận:
"Về đi sao chẳng về di,
Ruộng hoang vườn rộng còn chi không về
Đem thân dể hình bia sai khiến,
Còn ngậm ngùi than vãn với ai."

Vấn đề thi thố tài năng qua trường thi trận bút đã bắt đầu từ thế kỷ thứ 11,
đời nhà Lý. Vua Lý Nhân Tôn đã mở khoa thi đầu tiên vào năm 1075 để
chọn Minh Tinh Bác Học, ra giúp nước trị dân. Năm 1195 lại mở khoa thi
Tam Giáo, khảo sát kiến thức về triết học Nho Giáo, Phật Giáo và Lảo
Giáo.
Qua đời nhà Trần, chế độ thi cử được cải tiến quy cũ hơn. Vua Trần Tháỉ
Tôn mở khoa thi Thái Học Sinh năm 1232. Năm 1247, nhà Trần đặt ra Tam
Khôi: Trạng Nguyên, Bảng Nhãn và Thám Hoa. Vua Trần Duệ Tôn mở kỳ
từ thời nhà Trần.

Các khoa thỉ cứ 7 năm thi một kỳ. Đến đời nhà Hồ đổi thành 3 năm, nhưng
mãi đến đời vua Lê Thánh Tôn (1463) lệ thi 3 năm một lần mới được thông
dụng. Các kỳ thi để tuyển dụng nhân tài được tổ chức cho đến thời mạt
diệp nhà Nguyễn với kỳ thi cuối cùng năm Mậu Ngọ 1918.

Về nội dung các khoa thi, tuy có gia giảm tùy thời đại, nhưng đại để các
khoa thi chia thành 4 phần chính:
- Trường Nhất: Thi Kinh - Nghĩa: Luận về ý nghĩa của kinh truyện, còn gọi
là tinh nghĩa, hiểu rõ ý nghĩa của triết lý thánh hiền.
- Trường Nhì: Thi thơ, phú theo quy luật và đề tài do ban giám khảo định.
- Trường Ba: Thi Chiếu, Chế, Biểu: Soạn thảo các loại công văn dùng
trong triều đình. Chiếu là lệnh của Vua, như sắc lệnh của Quốc Trưởng.
Chế là lệnh ân thưởng, phạt cho quân thần và Biểu là Sớ dâng lên nhà
Vua để tán tụng hoặc xin thỉnh nguyện, một hình thức kiến nghị.
- Trường Tư: Thi Văn sách: Thi Văn sách nhằm trắc nghiệm óc suy luận
và kiến thức về một đề án.

Đã gọi là học tài thi phận, sĩ tử ngoài việc thuộc làu kinh sử, còn phải có
biệt tài suy luận, viết văn hay và chữ thật đẹp mới có nhiều hy vọng đắc cử. Nếu không thì dù có thi cà chục lần, cũng chưa chắc đạt được bảng vàng, bia
đá. Cụ Nguyễn Khuyến đã đỗ đầu 3 kỳ thi Hương, thi Hội và thi Đình được
lừng danh là Tam Nguyên Yên Đỗ, thật là một nhân tài.

Đọc lại một số bài Kinh Nghĩa, Thơ, Phú, Văn sách còn truyền lại với cách
hành văn và ý nghĩa thật khúc triết mới thấy, dù là văn chương trích cú,
chế độ thi cử thật là khó khăn, đúng là: "Thi không ăn ớt thế mà cay."
Tú xương đã thể hiện được tâm trạng của người thi hỏng:

"Một đàn thằng hỏng đứng mà trông
Nó đỗ khoa nầy có sướng không?
Trên ghế bà đầm nhoi đít vịt
Dưới sân ông cử ngổng đầu rồng”

Về định chế giáo dục, Việt Nam đã thành lập Đại Học, từ thế kỷ thứ 11.
Văn Miếu đã được lập từ năm 1070 để thờ Đức Khổng Tử và làm cơ sở
diễn giảng triết lý thánh hiền. Vua Lý Nhân Tông lập Quốc Tử Giám năm
1076. Vào đời nhà Trần, Quốc Học Viện được thành lập để diễn giảng Tứ
Thư và Ngũ Kinh. Các định chế giáo dục này, tồn tại cho đến thế kỷ thứ 20.
Ngày nay trong thành nội Huế, Quốc Tử giám vẫn là nơi trang nghiêm biểu
tương cho nền quốc học.

Đến năm 1917, các định chế mới về giáo dục do Dụ Cải Cách Học Chánh
năm 1908 và năm 1917 ra đời thay đổi cả phần danh xưng lẫn nội dung
các môn học. Kỳ thi Mậu Ngọ năm 1918 là kỳ thi cuối cùng của chế độ thi
cử theo Hán học.
Viện Đại Học Đông Dương được thiết lập năm 1906 tại Hà Nội, sau đổi
thành Đại học Hà Nội. Viện Đại học Hà Nội có chi nhánh tại Saigòn. Năm 1955 gọi là Viện Đại học Quốc Gia Việt Nam và năm 1957 đổi thành Viện Đại học Sàigòn. Viện Đại Học Huế thành lập năm 1957

Một số Đại học công khác cũng được thành lập vào thời kỳ Đệ Nhất và Đệ
Nhị Cộng Hoà như Đại Học Cần Thơ (1966), Viện Đaị hoc Bách Khoa Thủ Đức (1974) và các Đại học Cộng Đồng (Community Colleges) như Đại học
Tiền Giang - Mỹ Tho (1971), Đại học Duyên Hải-Nha Trang (1974), Đaị học
Đà Nẵng (1974). Các đại học tư được thành lập như Đại học Đà Lạt (1957), Đaị học Vạn Hạnh (1964), Đại học Phương Nam (1967), Đaị học An Giang ( 1970) Đại học Cao Đài-Tây Ninh ( 1972), Đại học Regina Pacis ( 1973).........

Vào cuối thế kỷ thứ 19, và đầu thế kỷ 20, một số cơ sở giáo dục được
thành lập tại Sàigòn như Trường Tabert lập năm 1890, Trường Gia Long
năm 1915, Trường Petrus Ký năm 1928. Tại Huế, Trường Quốc Học Huế
năm 1896, Trường Đồng Khánh năm 1917, Trường Pellerin năm 1904. Tại Hà nội, Trường Puginier năm 1897 và Trường Bảo Hộ năm 1908, sau 1945 được đổi thành Trường Chu Văn An (Trường Bưởi). Trường Đồng Khánh Hà nội mở năm 1917, sau đổi thành Trường Trưng Vương......là những trường nỗi tiếng trong thời Pháp thuộc và Đệ Nhất, Đệ Nhị Công Hoà sau nầy trước năm 1975.

Ngoài các đại học chuyên khoa về các ngành nhân văn và khoa học, chính quyền còn lập thêm trường chuyên nghiệp về ngành quản trị công quyền như trường Hậu Bổ lập năm 1903 tại Hà nội và tại Huế năm 1911. Đến năm 1912, trường Hậu Bổ được đổi thành Trưòng Sĩ Hoạn (École des Mandarins). Kể từ năm 1917 được đổi thành Trường Pháp Chính (École de Droit et d’Administration). Trường Luât và Hành chính / School of Law and Administration) để đào tạo các viên chức cai trị cho chính quyền trung ương và địa phương, các cấp Tri Huyện, Tri Phủ, Tổng Đốc, Thượng Thư... cho Triều Đình Huế. Hậu thân của trường uyên bác nầy là Học Viện Quốc Gia Hành Chánh được tái lập năm 1952 dưới sự bảo trợ của Đại học Michigan State University của Hoa Kỳ.

Việt Nam đã thành lập Đại Học từ năm 1070 và cấp bằng Tiến Sĩ từ năm
nền học chế của nước nhà. Từ ngàn xưa, ý nghĩa cuả danh từ đại học dành cho sinh đồ được minh định trong sách Đại học, một trong 9 cuốn sách giáo khoa của nền cồ hoc Trung Hoa gồm có Tứ Thư: Đại học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử và Ngũ kinh: Kinh Thi, Kinh thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu hợp lại thành chín bộ sách giáo khoa của Nho giáo ảnh hưỏng đến nền giáo dục Việt Nam gần một ngàn năm lịch sử, qua các triều đại cho đến khoa thi Hương cuối cùng năm Mậu Ngọ 1918.

Triết lý giáo dục Nho giáo chú trọng đến luân thường đạo lý, biến hoá tùy thời, thực tiển từ cách vật trí tri, thành ý, chánh tâm đến tu thân, tề gia, trị quốc , bình thiên hạ... Giáo dục ngành đại học cốt để (1) làm sáng cái đức tính của mình ; (2) để cải tiến dân sinh, giúp dân bỏ cái xấu, theo cái tốt và (3) an trụ ở nơi chí thiện. ”Đại hoc chi đạo, tại minh minh đức, tại thân dân, tại chỉ ư chí thiện”.
Ba cương lĩnh nầy được cụ thể hóa bằng sách lược đào luyện qua tám
phương cách để giúp con người trở thành đại nhân, mẫu người quân tử
theo quan niệm của Nho học (1) Cách vật: tiếp cận và tìm hiểu sự vật. (2)
Trí tri: đạt sự hiểu biết thấu đáo. (3) Thành ý: làm cho ý của mình được
thành thực. (4) Chánh Tâm: làm cho tâm được trung chính. (5) Tu thân: tu
sửa chính mình. (6) Tề gia: xếp đặt mọi sự cho gia đạo hài hoà. (7) Trị
quốc: khiến cho nước được an trị. (8) Bình Thiên hạ: khiến cho thiên hạ
được yên bình.

Tại Mỹ, mãi đến thế kỷ thứ 17 mới thành lập Đại Học. Đại Học Harvard
được lập vào năm 1638. Viện Trưởng Increase Matter, không được Đại
Học Anh cấp bằng Tiến Sĩ. Hội đồng khoa Đại Học Harvard quyết định cấp
bằng Tiến Sĩ cho ông Matter để ông có đủ thẩm quyền cấp bằng cho ban
giảng huấn và sinh viên tốt nghiệp. Hơn 300 năm sau Đại Học Harvard mới
được công nhận vào quy chế Đại Học chung do Khu giáo dục công nhận
(Accredition) vào năm 1949.

Nền giáo dục ở Mỹ, mỗi Đại Học có quy chế riêng và tự trị, mặc dù đa số các Đại Học phải theo các tiêu chuẩn về tài chánh, giảng huấn, cơ sở và học liệu do 1 trong 6 khu định chuẩn công nhận. Các Hội đồng này do tư nhân thành lập và quản trị. Một số đại học do Tiểu bang cấp giấy phép và không màng liên hệ đến các Hội đồng này. Hiện nay có trên 2000 Đại Học tại Mỹ, là một quốc gia cung cấp nhiều khoa bảng nhất thế giới.

Theo tài liệu của US Department of Labor thì chỉ trong niên khóa 1985-86:
- 1,300,000 SV được cấp bằng cử nhân (BA, BS..)
- 288,000 SV được cấp bằng Cao Học (MA, MS..)
- 32,000 SV được cấp bằng Tiến Sĩ (Ph.D, Ed.D..)
chưa kể đến các văn bằng Trung cấp như Associate Degrees (AA,AS..)
cán sự học 2 năm hoặc các chứng chỉ (Certificate học dưới 2 năm như
chứng chỉ về thương mại, phụ tá luật lệ, kỷ thuật v.v...). Số sinh viên tốt
nghiệp hằng năm tính đến 2011 không mấy thay đổi.

Danh từ BA (Bachelor of Art) được hiểu như là một "Bồ chữ” (A batch of
knowledge) như Cao Bá Quát cho rằng trong nhân gian có 4 "Bồ chữ", ông ta và gia đình chiếm hết 3 bồ, còn lại một bồ cho thiên hạ!

Ngày trước, danh từ Bachelor chỉ dùng cho đàn ông, còn đàn bà không
được dùng vì không "xứng đáng"! Đàn bà đỗ Cử Nhân chỉ được gọi là
Mistress of Art hoặc Maid of Science. Dù bị kỳ thị nhưng vẫn còn khá hơn
ở Trung Hoa và Việt Nam. Theo quan niệm cổ thì nữ giới "chỉ lo việc trong
nhà, khi vào canh cửi khi ra thêu thùa. Trai thì đọc sách ngâm thơ, dùi mài
kinh sử để chờ kịp khoa, mai sau nối được nghiệp nhà, trước là tỏ mặt sau
là ấm thân". Mạnh Lệ Quân phải giả trai mới được dự thi và được bổ nhiệm
ra làm quan.

Ngày trước đỗ Cử Nhân (BA, BS...) là thành công trên đường học vấn và
thành danh được liệt vào hàng "kẻ sĩ”. Sĩ rồi mới đến Nông, Công, Thương và được tiến cử vào hàng Công Hầu Khanh Tướng. Ngày nay, với
cấp bằng Cử nhân cũng đủ sống với đời về cả "Danh" cũng như "Phận".
Có thể nói rằng hấp thụ kiến thức cần thiết là trình độ học vấn ở bậc Cử
Nhân. Nghiên cứu thêm để tinh luyện suy luận ỏ bậc Cao Học và phát
triển sáng tạo ở bậc Tiến Sĩ. Cao học thường học lại các môn đã học ở cử Nhân, tùy ngành, và nghiên cứu thêm về thực trạng của một vấn đề. Tiến Sĩ cũng thường thâm cứu lại những môn đã học, thêm phần suy diễn, đặt giả thuyết (hypotheses) và tìm cách chứng minh bằng thực nghiệm (test) hoặc áp dụng kiến thức nghiên cứu sự liên hệ nhân quả giữa các hiện tương chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá....

Việt Nam trước năm 1975, các văn bằng đại học thường được cấp chuyên
ngành học từ cấp cử nhân, cao học đến tiến sĩ phỏng theo hệ thống giáo
dục từ thời Pháp thuộc.
Tại Mỹ đa số ngành chuyên môn cũng vậy. Tuy nhiên ở VN các ngành như
Luật khoa, Y khoa thì sinh viên có bằng Tú Tài II có thể ghi danh theo học,
nhưng tại Mỹ, các trường luật, y khoa chỉ nhận các sinh viên đã có văn
bằng cử nhân trở lên mới được xin nhập học... Sinh viên tốt nghiệp bậc Cử
nhân các ngành kỷ thuãt, khoa học, kinh tế, nhân văn,... đều có thể nạp
đơn xin vào ban Cao học Kinh doanh, Tiến sĩ luật khoa, Tiến sĩ y khoa
...sau khi trải qua một kỳ thi Admission Test, thường với số điểm trên 500
và các điều kiện khác mới được cứu xét....

Chung quy mục đích của giáo dục là phát triển kiến thức và tinh luyện suy
luận. Về luân lý, nhằm đào tạo con người trở nên cao thượng hơn vì giáo
dục mà thiếu lương tâm chỉ làm thêm bại hoại tâm hồn "Science sans
conscience n'est que ruine de l’âme".
Do đó mà Nguyễn Công Trứ đã đặt sứ mệnh của Kẻ Sĩ rất rõ rệt: "Trong
lăng miếu ra tài lương đống, ngoài biên thùy rạch mũi can tương" để phụng
sự quốc gia dân tộc.

Sự thành công ở đời, phần thì do khoa bảng phần khác do kinh nghiệm.
Học và Hành đều nhằm mục đích tinh luyện kỷ năng (skill). Thế thì nếu
thành công trong một ngành chuyên môn nào đó, do kinh nghiệm hoặc do
các phương thức khác, sự thành công này không thua gì khoa bảng.

Các nước tân tiến, ngoài ngành văn, ngành võ cũng được phát triển.
Trường West Point của Hoa Kỳ huấn luyện sinh viên cả văn lẫn võ. Sau khi
xuất ngũ, cựu sinh viên West Point thường được trọng dụng trong ngành
kinh doanh và các sĩ quan cấp tướng phải có bằng Cao học.

Tại Việt Nam, tuy khoa bảng thường nói đến văn tài, nhưng võ lược dưới
thời quân chủ cũng có văn bằng Võ Cử Nhân. Các quân trường sĩ quan
huấn luyện quân sự 1 hoặc 2 năm của QVNCH, tương đương với bằng
Trung Cấp / Cao Đẳng (AA hay Associate degree in Military Sciences) hay 4 năm
tưong đương với Cử Nhân Thực Dụng Khoa Quân Sự. Tại Trung hoa ngoài Cử Nhân
Võ còn có Võ Trạng Nguyên.

Không phải khoa bảng nào cũng thành công, ngoài kiến thức, kinh nghiệm
thu nhận được, mỗi người còn có biệt tài thiên phú, hoặc do khả năng tự
đào luyện thành người hữu dụng. Khi quân Minh xâm lăng Việt Nam, vua
quan trốn chạy. Lê Lơị người dân áo vãi đất Lam Sơn đã dựng cờ khởi
nghĩa, quy tụ quần hùng, 10 năm (1418-1428) nếm mật năm gai, đã cứu
giang sơn ra khỏi nơi đắm đuối, lập nên triều đại Hậu Lê.
Bên phương trời Tây có triết gia Socrate, được mệnh danh là sư tổ của
nền triết học Tây phương. Ông nỗi tiếng là người giỏi nhất vì đi đâu ông
cũng nói ” Điều tôi biết rõ là tôi không biết gì cã - As for me, all I know is
that I know nothing”. Thế là ông được mọi người đua nhau giải thích cho
ông những gì họ biết. Học như vậy, khỏi mất tiền mà được nhiều người
thương là hiếu học ! Trái lại, triết gia Khổng Tử ở phương trời Đông nỗi tiếng vì đã chu du lục quốc để thuyết minh về đạo lý làm người, tu, tề, trị, bình.

Đức Khổng Tử (551-479 BC và Socrate (470-399 BC) có điểm tương
đồng là chủ trương cái gì biết thì cho là biết, cái gì không biết thì nói là
không biết, chú trọng vào vấn đề công lý, đạo đức, nhân cách làm người...
và cũng gần có chung một quan niệm” Thuận Trời thì sống, chống Trời thì
chết”!.
Trong lúc Socrate chủ trương muốn sống xứng đáng phải biết luôn tự xét
mình vì ”The unexamined life is not worth living for a human being” và ”I
do not fancy that I know what I do not know”. Thì Đức Khổng Tử khuyên
nhân thế ” Từ thiên tử dĩ chí ư thứ dân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản”. Từ
vua cho dến thưòng dân, ai ai cũng lấy sự sữa mình làm gốc. Đúng là
thượng trí gặp nhau ” Les grands esprits se rencontrent”. ” Great minds
think alike”.

Ảnh hưởng của hai nhà hiền triết nầy thật sâu rộng nhất là về thái độ làm
người. Người Tây phương nghe nhiều hơn nói và thích nghe để học hỏi.
Người Đông phương thích làm thầy, nói nhiều hơn nghe!?
Trường đời là Đại Học hữu hiệu nhất tôi luyện con người làm nên sự
nghiệp. Hiện nay, có trên 300 ngành học khác nhau và xã hội tân tiến như
Hoa Kỳ có trên 2000 nghề chuyên môn. Người Mỹ quan niệm ”thầy” của ngành nầy là ”học trò” của ngành khác, nên khi gặp vấn đề không thuộc ngành chuyên môn của mình, thường trả lời ”I don’t know”. Phần khác vì tinh thần trách nhiệm, người Mỹ không”advise” người khác về những vấn nạn không thuộc ngành chuyên môn của mình. Còn người Việt, ít khi nghe nói
”I don’t know”. Nhân viên các cấp, các ngành trong công ty, công sở đều phải học hỏi trong thời gian làm việc để thăng tiến nghề nghiệp, để đủ điều kiện hành nghề theo luật định, nên vấn đề tu nghiệp rất quan trọng để cập nhật kiến thức.

Thường các bậc phụ huynh khuyên con cháu lo học hành vì hiểu rõ tầm
mức quan trọng của sự học trong đời sống. Ngày trước ở Việt Nam đỗ Tú
Tài như Tú Xương không có cơ hội thăng tiến. Ngày nay tại các quốc gia
tân tiến mà chúng ta đang cư ngụ, mọi ngành hoạt động đều cần chuyên
viên có kỹ năng tinh luyện, được chứng minh bằng kiến thức và kinh
nghiệm. Nếu không có nghề chuyên môn, cạnh tranh với đời thật là vất vả.
Đa số những người có kiến thức và kinh nghiệm ở Việt Nam, sau ngày di
tản, tuổi tác đã chồng chất, lại phải lo gánh nặng gia đình, còn đâu thì giờ
để theo lũ em học hành như xưa.

Vì vậy, các bậc tiền bối chỉ trông nhờ vào lớp hậu sinh, con cháu chuyên tâm nghiên bút, chẳng những để thỏa mãn nhu cầu hiểu biết, vinh thân, phì gia, mà còn làm:
"Nở nang mày mặt, rở ràng mẹ cha
Trên vì nước, dưới vì nhà
Một là đắc Hỉếu, hai là đắc Trung."
Hiếu thảo với mẹ cha, đem tài năng phục vụ nhân quần xã hội là niềm
mong ước chung của các bậc phụ huynh vậy.

Trần Xuân Thời



trả lời


Đặc San Cao Niên


Xuân Thơ

Bên này bờ đại dương nhìn về quê hương vào mỗi cuối Đông lòng cứ nôn nao. Mùa Xuân Bên Ấy thế nào hỡi em?
gọi em môi hồng của nắng
viết lời tình khúc vào Xuân

Nỗi háo hức của tôi mong một chuyển mùa từ Đông vào Xuân có nắng ấm, hoa tươi với tình đời nhân ái. Chứ không phải trong tâm trạng người lữ khách đi Tìm Lại Mùa Xuân trong khu rừng phong trụi lá nơi vùng Đông Bắc Mỹ buổi tàn Đông với nỗi băn khoăn:
có gì vui
trên bước lưu vong
có gì vui
trên miền đất lạ
có gì vui
trong Tết xa nhà
có gì vui
bạn bè trôi nổi
có gì vui
trong men rượu cay!

Đã Tháng Chạp ta, cây trong rừng phong vẫn khẳng khiu, cành trơ trong gió xoáy, chưa thấy mầm nào chớm nẩy chồi xanh.
Sương vây trắng quanh ngọn nắng đầu ngày, mà cũng đủ lóe lên tia sáng tin yêu và hy vọng. Niềm hy vọng Em Mãi Là Mùa Xuân trên Thảo Nguyên xanh với những cụm hoa dã quỳ vàng mượt, cuốn hút thơ tôi vào mộng đời xanh. Thơ xoãi bước thong dong từ cao nguyên về duyên hải để ngắm những hạt pha lê cát bám bờ vai nâu thấm mặn trùng dương. Thơ tiếp bước về phố thị tìm hương hoàng lan thoang thoảng trên làn tóc mịn. Bằng ấy dáng xưa đơm mùa Xuân tuổi ngọc. Nhưng:

nắng lên mà rét chưa buông
nên hoa chậm mở cánh vườn Xuân em!
Chiều cuối năm, mở cửa ra hiên cầm chai rượu hồng bám đầy tuyết trắng, tôi lại thèm uống giọt nắng xưa vào mùa phượng trỗ. Uống ngụm rượu lạnh thơm mùi dâu chín, đâu đủ độ say sao lòng chao nghiêng trong mùa Đông băng giá xứ người! Tạo nên ảo giác một cuộc hẹn tương phùng cùng em trên vùng đất hứa:

mai em nhé mình về nơi ấy
anh ươm thơ trên môi em ngoan
nghe khúc khích tiếng cười trẻ dại
nũng nịu em bay theo diều hồng

em có thấy một dòng sông mới
dâng phù sa vào gốc mạ thơm
trên cánh đồng anh vừa nghĩ tới
không hề lưu dấu vết căm hờn

Khuấy trộn mùa quanh cho trí lẫn vào tiềm thức, bật lên nỗi nhớ da vàng bọc huyết thống Văn Lang. Quấn quít dòng thơ chảy ngược từ tâm thức tràn lên ngõ mắt găm chữ vào từng bước lưu vong. Từng bước xoãi dài từ quê nội ra quan ngoại, gói ghém theo nỗi nhớ ngút ngàn về phố chợ quê tôi mùa Tết ngày xưa. Nhớ từng gánh hàng hoa trong phiên chợ sớm, nhớ từng màu mức và trái cây tươi khoe sắc dưới lung linh ánh nến trên bàn thờ Tổ Tiên. Nhớ cả mùi hương trầm và khói pháo từ nhà ra ngõ của làng, của phố, của một quê hương nặng nghĩa ân tình.

về thôi, Tết đã đến rồi
Mẹ chờ đun lửa canh nồi bánh chưng
Cha chờ rót chén rượu mừng
đêm chờ ngày mới núi rừng rộ hoa

về thôi, ừ nhỉ, về đi
để xem Hồng Lĩnh, Ba Vì còn không
Cao Nguyên còn bạt ngàn thông
Miền Tây còn những tấm lòng rất Thơ

Sự rủ rê mơn trớn hồn thơ từ háo hức đến nghẹn ngào. Ôi ngàn thông xưa nơi cao nguyên đang hóa đá. Hồng Lĩnh, Ba Vì nay đã rêu hoang! Nên mãi Thơ chờ Xuân nở hừng đông trên mặt đất để được:
uống no một bữa khát khao
nước nguồn sông Mẹ ngọt trào đáy tim
nghe không em! triệu lời chim
reo vui tấu khúc Bình Yên Lạc Hồng!

Những thân thương chỉ còn trong luyến nhớ, bởi cánh tay trần không thể chạm tới dấu yêu xưa. Đành dùng cánh tay thơ vói qua hoài niệm để chạm mùa Xuân. Chạm vào mạch đất quê mình đã khuất xa từ thuở lưu vong sau cuộc đổi đời, để thoát khỏi những đòn thù hung hiểm của bạo lực. Những đòn thù đập nát tình người, vùi chôn phẩm giá. Tàn phá cả một nền văn hóa Việt Nam vốn được xây trên nền tảng lễ giáo và nhân nghĩa!

Nỗi khắc khoải nhớ thương Quê Mẹ đối với người lưu vong, quật xuống dòng thơ những vết hằn u uẩn! Cho dẫu tôi đã chọn hướng nhân bản cho chữ nghĩa bước đi, đau thương và chua xót vẫn ẩn sau mặt nổi của Thơ. Viết từ quán triệt mà đọc như mặc niệm ngôn từ. Cánh thơ rũ xuống ngấm vào mạch đời những trầm khúc đau lòng. May còn chút hương thơ tỏa trong gió viễn phương nối nhịp tình người giữa hai bờ Đông Tây tạo nên nét sử thi làm quà giỗ Tết:

mùa Tết mà rưng cay khoé mắt
phải anh vừa nhắc chuyện Mậu Thân
Huế chít khăn sô buồn thấm đất
mưa phùn phủ trắng mộ đời hoang

Để Thơ không lịm chết khi mùa Xuân hoài vọng chưa về. Tôi phải nhờ dáng thơ làm cứu cánh, giúp tôi đi nhẹ hẫng bước đời trên hành trình tìm lại mùa Xuân Văn Lang của giòng giống Lạc Hồng.
Thơ không chết vì Xuân còn sống mãi
Đời lại vui từ ấy có Xuân Thơ!

Cao Nguyên
Bắc Mỹ cuối Đông 2017

@

DzuyLynh diễn đọc:

https://app.box.com/s/7zc5omak2l8ys7v5a0j6



trả lời


Đặc San Cao Niên


Chuyển Mùa

(mến tặng nhà văn Trương Anh Thụy
- tác giả tiểu thuyết Chuyển Mùa)


tàn Đông gió gọi chuyển mùa
bình minh hé mắt nắng đùa rộ qua
thắm tươi muôn sắc cỏ hoa
ngát hương đồng nội quê nhà Việt Nam

chuyển mùa tấu khúc hợp đàn
triệu chim Hồng Lạc vượt ngàn vào Xuân
gieo trên đất, hạt hào hùng
tưới dòng nhiệt huyết núi rừng trỗ hoa

Cha Ông chưa ngại đường xa
Cháu Con tiếp bước thiết tha về Nguồn
chân vui hưng phấn dập dồn
tay chuyền ngọn lửa rọi hồng chân quê

chuyển mùa phá cuộc hôn mê
gọi người thức dậy hướng về tương lai
quên đen đêm, nhớ sáng ngày
giục Trời vỡ Đất, Người say Ân Tình

chuyển mùa bỏ giấc phù sinh
bởi trong mạch đất có hình bóng ta
lời Mẹ ru tận ngàn xa
vẫn còn âm hưởng trải qua một đời

chuyển mùa thao thức bồi hồi
chờ nghe Non Nước trao lời hồi âm
giữa Quê bày tiệc rượu Xuân
theo mùa én gọi chúc mừng tuổi nhau!

Cao Nguyên



trả lời


Đặc San Cao Niên


SĨ PHU VIỆT NAM ĐỜI XƯA VÀ NAY

Vai trò Sĩ phu Việt đời trước thật là cao qúy và quan trọng, vì họ là tinh hoa của xã hội, là người hướng đạo tiên phong của xã hội, làm gương sáng trong nhiệm vụ gìn giữ, bảo vệ sơn hà, xã tắc theo đúng tinh thần Nho Giáo:

Tận trung báo quốc (lấy cái chết để báo đáp đất nước)
Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách (đất nước hưng vong, kẻ tầm thường cũng phải có trách nhiệm)

Vai trò sĩ phu Việt đời nay cũng vẫn mang những truyền thống cao qúy đó, nhưng một số những cơ chế quản lý xã hội bất bình thường đã làm vai trò lãnh đạo của kẻ sĩ Việt bị mất phẩm chất.

Lê Qúy Đôn (1726-1784) viết: có năm đại họa mất nước, tan gia đình là:

Trẻ không kính gìa
Trò không trọng thầy
Binh kiêu, tướng thoái
Tham nhũng tràn lan
Sĩ phu ngoảnh mặt

Quan niệm về Kẻ Sĩ như thế nào?

Sĩ là gì? -Kẻ Sĩ là người xuất thân từ khoa bảng. Đó là lớp người được đào tạo để trị nước, an dân. Học là cơ sở để trở thành Kẻ Sĩ. Kẻ Sĩ có đầy đủ những đức tính Nhân, Trí, Dũng. Mục tiêu phục vụ của Kẻ Sĩ là Chân-Thiện-Mỹ mà thực tiễn là Giúp Đời, làm cho cuộc sống của người dân trong sạch, có đạo đức, và tươi đẹp.
Kẻ Sĩ là hiện thân của người Quân Tử mà Khổng Tử đã viết: “Có thể đem vận mệnh quốc gia mà giao phó cho họ. Dẫu có gặp nguy hiểm đến tính mạng thì họ cũng không dao động.”

Trong thi văn, cụ Nguyễn Công Trứ (1778-1858) là một Nhà Nho đã đề cao vai trò của Kẻ Sĩ rõ nét nhất. Ông viết:

Tước hữu ngũ, Sĩ cư kỳ liệt
Dân hữu tứ, Sĩ vi chi tiên
Có giang san thì Sĩ đã có tên
Từ Chu, Hán, vốn Sĩ này là qúy

Suốt cuộc đời của Nguyễn Công Trứ là gương sáng của Kẻ Sĩ: tận tụy phục vụ cho lợi ích cuả nhân quần, xã hội với tinh thần công, minh, chính, trực.

Chính từ quan niệm rất cao đẹp về Kẻ Sĩ kể trên mà từ trứơc đến nay đất nước Việt ta vẫn luôn luôn sản sinh những con người đã sống đúng với tinh thần của Kẻ Sĩ.
Sở học cuả Kẻ Sĩ ngày trước bao gồm đủ cả thiên văn, địa lý, dịch lý, tướng số, văn học, lý luận, số học, và đạo đức chính trị dựa vào học thuyết cuả Khổng Mạnh mà mẫu người cuả thời đại là Quân Tử.
Quân tử là gì? Không có một từ ngữ nào của Tây Phương dịch đúng ý nghĩa từ quân tử.
Những từ như true gentleman, superior man, hay man-at-his best, chỉ diễn đạt được một phần hình ảnh của người quân tử.
Khổng Tử, khi mô tả về người quân tử, đã đưa ra nhiều dẫn dụ về phẩm chất tương phản cụ thể giữa tiểu nhân và quân tử như:

Quân tử hoà nhi bất đồng.
Tiểu nhân đồng nhi bất hòa.
(Quân tử hòa mà không đồng; kẻ tiểu nhân đồng mà không hòa).

Quân tử khoan hòa mà không kiêu căng.
Kẻ tiểu nhân kiêu căng mà chẳng khoan hoà.

Quân tử chi giao đạm nhược như thủy.
Tiểu nhân chi giao điềm như mật.
(Lòng người quân tử giao thiệp trong như nước) [ai cũng thấy được]
Lòng kẻ tiểu nhân giao thiệp kín đặc như mật).

Nhưng không phải Kẻ Sĩ nào học sách thánh hiền đề trở thành người quân tử cả. Có nhiều kẻ Sĩ giả nhân, giả nghĩa, đời gọi là ngụy quân tử.

Nước ta trong suốt thời gian lập quốc từ thời Nhà Đinh (968-1009), Lê, Lý, Trần Lê, đến thời Nhà Nguyễn (1802-1955), tinh thần Nho Giáo, Phật Giáo, đã là nòng cốt để tạo nên những bậc Sĩ anh hùng, hào kiệt tên tuổi còn để lại đến ngày nay như Ngô Quyền, Trần Thủ Độ, Trần Quốc Tuấn (Hưng Đạo Vương), Trần Quang Khải, Lê Văn Hưu, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Ngô Sĩ Liêm, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đào Duy Từ, Lê Qúy Đôn, Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du, Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Nguyễn Trường Tộ, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Nguyễn Hải Thần, …
Điểm đặc thù trong trong quá trình tranh đấu của nước ta chống ngoại xâm đặc biệt chống Trung Quốc xâm lược, hầu hết các chiến sĩ đều là những thi sĩ.
Cố thi sĩ Trần Quốc Thái (CA) viết trong Lời Mở trong thi phẩm Bài Thơ Trên Cát của ông:

Tự phân tích bản than tôi, tôi khám phá ra một điều rất kỳ thú: cái hồn thi nhân tạo ra cái thần chiến sĩ … Hầu hết các đại thi hào của dân tộc ta, điển hình là hai thời vàng son – Lý và Trần - đều là những chiến sĩ anh hùng kiêm thi sĩ. Thừa hưởng di thống của tiền nhân, hấp thụ khí thiêng của sông núi, con cháu đời này sang đời khác đều là chiến sĩ kiêm thi sĩ.

Thi sĩ Trần Quốc Thái đã ra người thiên cổ, nhưng những lời thơ khảng khái của ông còn đây trong bài “Bức Thư Không Gửi”:

Cha ơi,
Con sẽ về dựng cờ cho lá cây rừng mở hội
Chặt xích xiềng cho toàn dân vùng lên hỏi tội
Loài Cộng nô quên gốc cội Tiên Rồng

Trước tham vọng xâm lăng của Nhà Tống, Trung Quốc, Thi sĩ Chiến Sĩ Lý Thường Kiệt viết lên bốn câu thơ bất hủ:

Nam quốc sơn hà Nam Đế cư Đất nước Nam ta Nam Đế ngự
Tiệt nhiên định mệnh tại Thiên Thư Tuyệt nhiên số đã định nơi Trời
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm? Cớ sao nghịch tặc qua xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư Nhất định nếm mùi thất bại thôi

Trong cuộc kháng chiến chống quân nhà Nguyên (Mông Cổ), Kẻ Sĩ Trần Bình Trọng khảng khái trả lời Thoát Hoan: “Ta thà làm qủy nước Nam chứ không thèm làm Vương đất Bắc.”

Kẻ Sĩ Cận Đại

Trong giai đọan đất nước lâm nguy sắp sửa rời vào tay thực dân Pháp, nhiều sĩ phu đã vùng lên kháng Pháp như Nguyễn Công Trực, Trương Định, Thiên Hộ Vương, Đoàn Hữu Trưng, Thủ Khoa Huân, Đặng Như Mai, Tôn Thất Thuyết, Vua Hàm Nghi, Hoàng Hoa Thám, Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật, Phan Bội Châu, Vua Duy Tân, Nguyễn Thái Học, Nguyễn Thị Giang, Lý Đông A, Nguyễn Hải Thần, …
Họ là những Kẻ Sĩ mạnh dạn đứng lên xướng nghĩa hay ứng nghĩa, lãnh đạo những phong trào chống thực dân Pháp, tiếp nối ngọn lửa đấu tranh của dân tộc Việt từ ngàn xưa cho đến khi giành được độc lập, tự chủ mới thôi.

Nhóm lãnh đạo của Đảng Cộng Sản như Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Phạm văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, v.v. có thể coi là Kẻ Sĩ không?

Câu trả lời là “Không” bởi vì nhóm CS này đã mắc vào một phẩm tính đại kị của Kẻ Sĩ là “lừa dối” hay “trí trá” có nghĩa là họ chủ trương sử dụng mọi phương tiện dù có đê hèn hay dã man đến đâu để họ đạt được mục đích. Đó đó là phương châm hành động mà họ đã dạy cho tất cả các đảng viên: “Mục đích biện minh phương tiện”.

Tóm gọn, những chính sách của Đảng CSVN đưa ra đều đã và đang thảm bại và càng ngày càng đưa đất nước đến chỗ tan rã về mọi mặt.

Đảng CS Trung Quốc và đất nước TQ cũng thế: đang đứng trước một sự tan rã không thể tránh được khiến lãnh tụ Tập Cận Bình đã lập đi lập lại câu hỏi: “Tôi còn biết làm gì bây giờ?” trong bài nói chuyện nội bộ mới đây được lọt ra ngoài đăng trên Tạp Chí Tiền Tiêu ở Hồng Kông, số ra Tháng 4/2013. Trong bài nói, họ Tập đã nêu ra những hiện tượng (Đổi Mới) của Khrushev, Gorbachev (Nga) và khuynh hướng thượng tôn pháp luật ở TQ hiện nay. Những sự kiện này có phải là những chỉ dấu cho thấy rằng CSTQ sẽ phải có sự thay đổi lớn để tránh mô sự thay đổi như ở Tunisia, Lybia, và Syria hiện nay?


Kẻ Sĩ Thời Nay

Kẻ Sĩ Việt khoa bảng thời nay nhiều lắm nhưng bị phân hoá khiến cho một số không ít đã đứng bên ngoài dòng chính của thời cuộc.

Mặt khác, một số vẫn còn mang nặng tính cục bộ, điạ phuơng, bè phái, và những tư tưởng lỗi thời khiến cho những nỗ lực đất tranh cho quê hương sớm thoát khỏi ách Cộng Sản bị trì trệ. Từ đó, cộng đồng Việt ở hải ngoại chưa có một tiếng nói thống nhất, chưa có lãnh tụ.

Một lý do khác nữa là qúa trình xây dựng cộng đồng Việt còn qúa non trẻ. Có lẽ chúng ta còn phải chờ cho lớp trẻ, lớp thế hệ thứ ba hay thứ tư đứng ra lãnh đạo mới đủ điều kiện (kiến thức, điạ vị, và tài chính) để có thể có sức mạnh đáng kể.

Tuy nhiên, trước sự lãnh đạo hèn kém và tàn bạo của các Đảng Cộng Sản, nhiều Kẻ Sĩ của thời đại ở trong nước đã can đảm đứng lên lên tiếng chống chế độ kể từ những ngày Đảng CSVN mới tiếp thu Miền Bắc, 1954.

Nhóm nhân vật rất đông đứng lên chống chế độ rất sớm là Kỹ Sư Hồ Đắc Liên (con cũa ông Hồ Đắc Điềm), Học Giả Đào Duy Anh, Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường, Triết Gia Trần Đức Thảo, Nhà Văn, Nhà Báo Phan Khôi, Nhà Thơ Trần Dần, Nhà thơ Phùng Quán, nhà văn Bùi Quang Đoài, nhà văn Minh Hoàng (Vũ Tuyên Hoàng), nhà văn Phùng Cung (viết “Con Ngựa Già của Chúa Trịnh”), nhà giáo Trần Lê Văn (viết “Bức Thư Gửi Người Bạ Cũ”), kịch tác gia Hoàng Tích Linh (em nhà văn Hoàng Tích Chu, viết vở: “Xem Mặt Vợ”), nhà soạn ca khúc kiêm họa sĩ Văn Cao (viết bài “Đàn Chim Việt”, “Tiến Quan Ca”, “Không Quân Việt Nam”, “Hải Quân VN”), nhà nghị luận Trần Duy (viết bài: “Những Người Khổng Lồ”), kịch tác gia kiêm trước tác gia Hoàng Cầm (viết: kịch thơ “Viễn Khách”, sách dịch “Một Nghìn Đêm Lẻ”), nhà văn kiêm nhà thơ Hữu Loan (viết: “Màu Tím Hoa Sim (thơ), “Cũng Những Thằn Nịnh Hót”, Lộn Sòng”, hoạ sĩ Sĩ Ngọc (Hà Nội, viết bài “Làm Cho Hoa Nở Bốn Mùa” nhằm đả kích Trường Chinh), nhà soạn giả kiêm đạo diễn Chu Ngọc (Vĩnh Yên, viết “Chúng Ta Gắng Nuôi Con” nhằm chế diễu cái thói xấu đương thời.); Kịch tác gia kiêm nghệ sĩ Như Mai (Hà Nội, viết “Tiếng Trống Hạ Hồi” và “Thi Sĩ Máy” chế riễu chính sách chỉ huy văn học của Đảng CS.); nhà biên soạn từ điển Đào Duy Anh (Thanh Hoá, viết bài “Muốn Phát Triển Học Thuật” nhằm chỉ trích chủ nghĩa giáo điều và tôn sung lãnh tụ và đề cao tự do sáng tác.); nhà triết học Trần Đức Thảo (Hà Nội, viết bài “Nội Dung Xã Hội và Hình Thức Tự Do” phê phán chính sách Cải cách Ruộng Đất” và đề quyết rằng bịnh giáo điều, quan liêu, bè phái, và sung bái cá nhân là căn nguyên làm xã hội trì trệ.” Luật sư Nguyễn Mạnh Tường (Hà Nội, viết bài “Những Sai Lầm Trong Chính Sách Cải Cảch Ruộng Đất (CCRĐ)” mạnh dạn lên án chính sách CCRĐ của Mao Trạch Đông là dã man và ông nêu câu: “Người nào chỉ biết khóc thôi, hoặc cười thôi, không phải là trí thức” và “Kẻ thù số một của trí thức là bọn chụp mũ.”) [xem Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc, Mặt Trận Bảo Vệ Tự Văn Hóa, Nhà In Lion Press, 3018 S Akron CT, Denver, CO 80231]

Cuộc Đất Tranh của Trí Thức trong Nước Hiện Nay

Tiếp nối truyền thống đấu tranh của các nhà trí thức thời 1954 ở miền Bắc, hiện nay, sau 1975, trí thứ ở VN đã khởi sự đấu tranh chống ảng CS càng ngày càng mạnh và càng ngày càng đông mặc dầu nhà nước CS đã sử dụng công an và côn đồ đàn áp và bỏ tù rất dã man.

Không kẻ “nhóm kháng chiến cũ”, một số các nhà đấu tranh thuộc đủ thành phần xã hội (nhà thơ, nhạc sĩ, luật sư, nhà văn, nghệ sĩ, v.v):

Trần Huynh Duy Thức, Đoàn Huy Chương, Nguyễn Phượng Uyên, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đỗ Thị Minh Hạnh, Đinh Nhật Uy, Đinh Nguyên Kha, Phan Ngọc Tuấn, Võ Minh Trí, Nguyễn Ngọc Cương, Lê Thăng Long, Lê Công Định, Tạ Phong Tần, Phan Thanh Hải, Nguyễn Hữu Cầu, Vũ Đình Thụy, Phan Văn Bàn, Bùi Thúc Nhu, Nguyễn Đình Văn Long, Trần Tư, Lê Văn Tính, Bùi Đăng Thủy, Nguyễn Tuấn Nam, Đoàn Văn Diên, Đoàn Hữu Chương, Phạm Minh Hoàng, Trần Nam Phương, Dương Văn Sỹ, Việt Khang, Trần Vũ Anh Bình, v.v. cộng thêm vụ tù nổi dậy ở Xuân Lộc (30/6/130).

Cuộc Đấu Tranh Giữa Chính và Tà Bao Giờ Kết Thúc?

Chủ thuyết Cộng sản hình thành từ giấc mơ của Karl Marx và được thực hành bởi Lenin.

Trước những bức xúc của thời đại về nô lệ, bóc lột, và bất công, … Marx biện thuyết quy cho chế độ tư bản và quyền tư hữu như là thủ phạm và ông đưa ra chủ nghĩa vô sản với quyền làm chủ tập thể và khẩu hiệu “làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu” như là chủ nghĩa tiến bộ nhất của nhân loại. Và ông hô hào: “Vô sản! Đoàn kết lại!”. Chủ thuyết đó đã đáp đúng ước mơ nên đã được đông đảo các tầng lớp xã hội say mê hương ứng và tưởng như thiên đường CS sẽ là một hiện thực và họ đã sẵng lòng tôn thờ các lãnh tụ CS và nhắm mắt tin tưởng vào những giáo điều của các lãnh tụ.

Liên Xô và các nước Đông u là những nước đã sớm ra khỏi giấc mơ này vào thập niên 1990.
Nay chế độ CS chỉ còn tồn tại tại Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba, và Bắc Hàn vì các nước này còn cố chấp tin vào những giáo điều nghịch lý lẽ và dựa vào đó để bảo vệ lợi ích và sự tồn tại cuả Đảng.

Nhưng chế độ CS đang thực sự giãy chết vì sức ép của mặt trận kinh tế (mất thị trường), tiền tệ (mất giá), chính trị (chống chế độ) và ngoại giao (mất đồng minh).

Hải Bằng.HDB



trả lời


Đặc San Cao Niên


CHINESE FALLACIES REGARDING
THE SOUTHEAST ASIAN SEA
Những Ngụy Biện của Trung Quốc về
Biển Đông Nam Á


Giới thiệu: Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích (1937-2016) từ trần ngày 3/3/2016 trên chuyến phi cơ bay từ Washington DC, Hoa Kỳ sang Manila, Philippines nơi ông dự kiến sẽ thuyết trình về chủ quyền Việt Nam ở Biển Đông – Dưới đây là tóm tắt và lược dịch bài viết "CHINESE FALLACIES REGARDING THE SOUTHEAST ASIAN SEA" của Giáo Sư.

***

Ngày 25 tháng Chín 2015, Chủ Tịch Tập Cận Bình đã gặp gỡ Tổng Thống Barack Obama tại Nhà Trắng để thảo luận một loạt các vấn đề ảnh hưởng đến Trung Quốc và Hoa Kỳ. Đây là một phần cuộc đối thoại giữa hai cường quốc nhằm mục đích góp phần duy trì hòa bình thế giới, bao gồm cả khu vực Đông Nam Á, nơi Việt Nam tọa lạc. Chính vì lý do đó chúng tôi đưa ra khuyến nghị này nhằm bảo đảm rằng các lợi ích của một quốc gia như Việt Nam sẽ không bị gạt ra ngoài hoặc hy sinh cho thần Mammon, tức giới đại tư bản thế giới, dù đó là đỏ hay trắng.

Biển Đông, Biển Nam, Biển Tây Philippines

Vùng biển quốc tế này thường bị gọi nhầm là “Biển Nam Trung Quốc” (South China Sea), đây là tên gọi chính thức của Hoa Kỳ từng được dùng bởi Tổng Thống Obama: "Chúng tôi đã có cuộc thảo luận thẳng thắn về Biển Đông và Nam Trung Quốc, và tôi khẳng định lại quyền của tất cả các quốc gia về tự do hàng hải và hàng không và về thương mại không bị cản trở. [...]"

Và đây là câu trả lời của Chủ Tịch Tập Cận Bình: "Quần đảo ở Biển Nam Trung Quốc từ thời cổ đại đã là lãnh thổ của Trung Quốc. Chúng tôi có quyền giữ vững chủ quyền lãnh thổ của chúng tôi và các quyền và lợi ích hợp pháp hàng hải."

Không có gì xa sự thật hơn câu đầu tiên của Chủ Tịch Tập mà qua đó Trung Quốc đã áp đặt toàn bộ yêu sách 80 phần trăm Biển Đông lên đó. Một khi chúng ta có thể chứng minh sự sai lầm trong lời tuyên bố này thì hiển nhiên các yêu sách Trung Quốc sẽ sụp đổ.

Ngụy Biện Đầu Tiên được chứng minh bởi thực tế là:
Không có bất cứ tấm bản đồ Trung Quốc nào tới tận thế kỷ 20 cho thấy chủ quyền của Trung Quốc vượt quá đảo Hải Nam.

Một sự thật được toàn thế giới biết đó là ngay cả những tấm bản đồ Trung Quốc, có từ thời Nhà Thanh cho đến 1909, đã xác định đảo Hải Nam là biên giới phía nam xa nhất của Trung Quốc. Các đội tàu Việt Nam thường xuyên thực hiện các chuyến đi hàng năm đối với các đảo thường được gọi là Biển Đông. Trong sách Phủ Biên Tạp Lục ("Các Ghi Chép từ Những Vùng Biên Giới" 1771), Lê Quý Đôn (1726-1784), có đoạn văn sau:

"Trong các quận của tỉnh Quảng Ngãi, huyện Bình Sơn có làng An Vĩnh ở gần biển, ngoài biển về phía Đông Bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh khác hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh giờ thì đến."

"Các thuyền ngoại phiên bị bão thường neo đậu ở đảo này. Chúa Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 người chèo, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng Hai âm lịch nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn sáu tháng, đi bằng năm chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển ba ngày ba đêm thì đến đảo ấy."

Rõ ràng rằng ít ra vào thế kỷ 17, người Việt đã từng tổ chức những đội thuyền thường xuyên khai thác Quần Đảo Hoàng Sa (Hoàng Sa nghĩa là Bãi Cát Vàng tiếng Việt, Xisah tiếng Hoa) và một phần Quần Đảo Trường Sa (Trường Sa tiếng Việt, Nansha tiếng Hoa), một chứng từ mà không có tài liệu Trung Hoa nào sánh được. Và rồi có cả trăm tấm bản đồ của người châu u từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 20 cũng chứng minh Hoàng Sa, và đôi khi Trường Sa, đã thuộc về các triều đại Việt Nam, với tên ban đầu là Cohinchina (Đàng Trong theo tiếng Việt) và vào thế kỷ 19 là Triều Đình An Nam (Empire d'Annam tiếng Pháp) – đó cũng là, những chứng cứ mà không tài liệu Trung Hoa nào có thể sánh được.

Trong tài liệu lịch sử, năm 1816 Vua Gia Long của Việt Nam được biết đã thân chinh ra đảo Hoàng Sa để khẳng định chủ quyền nước Việt. Năm 1836 Vua Minh Mạng đã cho người đo đạc Hoàng Sa để khẳng định đây là phần đất thuộc lãnh thổ Hoàng Gia Đại Nam, được đưa vào Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ ("Bản Đồ Hoàn Chỉnh của Nước Đại Nam Thống Nhất" tức là Việt Nam) vào năm 1838 được thực hiện bởi Quốc Sử Quán. Trong cuốn Nam Việt Dương Hợp Tự Vị của J. L. Taberd năm 1838 (in tại Derampore, Ấn Độ) cũng nói rằng Hoàng Sa là thuộc Việt Nam.

Ngụy Biện Thứ Hai được chứng thực bằng thực tế là:
Trung Quốc đã bác bỏ trách nhiệm tại quần đảo Hoàng Sa.

Bà Monique Chemillier-Gendreau, người có nghiên cứu sâu về đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc và Việt Nam đến quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, từng nói điều này về người Trung Quốc: "Trên thực tế, không có một dấu vết gì cho thấy Trung Quốc đã từng phản đối những tuyên bố chủ quyền của Vua Gia Long và những người kế vị ông, không có trong suốt thế kỷ 18 và đặc biệt cũng không có trong thế kỷ 19 khi các vị vua Việt Nam điều động việc khai thách các quần đảo này một cách chính thức trong vương quyền của họ". (La souveraineté sur les archipels Paracels et Spratleys, Paris: L'Harmattan, 1996, page 73)


Thậm chí có thể tìm tài liệu lịch sử Trung Quốc khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo này. Ví dụ, trong Hải Quốc Đồ Chí (Haiguo Tuzhi – Bản Đồ và Hồ Sơ của các Quốc Gia Hải Dương, 1730) đã nói rằng "Vạn Lý Trường Sa là một dải cát nhô lên ở giữa biển. Dài vài nghìn dặm, nó được dùng như một hàng rào biên giới của vương quốc An Nam. "

Hòa thượng Shi Dashan (Thích Đại Sán trong cách phát âm tiếng Việt), người được mời đến giảng đạo tại triều đình chúa Nguyễn Phước Chu (1691-1725) cuối thế kỷ 17 cũng đã báo cáo trong hồi ký của ông: "Đảo cát mười ngàn lý có những cồn cát nằm sát bờ biển, chạy dài từ đông bắc qua tây nam; động cao dựng đứng như vách tường, bãi thấp cũng ngang mặt nước biển; mặt cát khô rắn như sắt, rủi thuyền chạm vào ắt tan tành; bãi cát rộng cả trăm dặm, chiều dài thăm thẳm chẳng biết bao nhiêu mà kể, gọi là “Vạn Lý Trường Sa” ('Sandbar of Ten Thousand Li' – Quần Đảo Dài Mười Ngàn Dặm), mù tít chẳng thấy cỏ cây nhà cửa […] Thời tiên vương [Nguyễn Phước Trấn, 1687-1691] hằng năm sai thuyền đánh cá đi dọc theo bãi cát, lượm vàng bạc khí cụ của các thuyền hư tấp vào." (Hải Ngoại Ký Sự - “Overseas Travelogue” Chuyện Ghi Lại Trên Biển Nước Ngoài, được dịch bởi Cheng Ching-ho (Trần Kính Hoa) từ bản tiếng Hoa năm 1963, Đại Học Huế xuất bản, trang 125).

Nhưng khẳng định mạnh mẽ nhất, là cho đến cuối thế kỷ 19, những công ty phương Tây có tàu bị đắm ở quần đảo Hoàng Sa khi đòi bồi thường từ chính quyền Quảng Đông thì luôn luôn được bảo rằng họ phải đến đòi triều đình nhà Nguyễn tại Việt Nam!

Ngụy Biện Thứ Ba tìm thấy trong:
Những đòi hỏi chủ quyền gian trá ngay trong thế kỷ 20.

Yêu sách của Trung Quốc dựa trên cơ sở cho rằng một tổng đốc tỉnh Quảng Đông, Zhang Yen-jun, phái một tiểu hạm đội tháng Năm 1909 ra quần đảo Hoàng Sa trong 3 tuần nhằm tuyên bố chủ quyền đối của Trung Quốc. Nhưng trong thực tế, câu chuyện thật ra là các đoàn thám hiểm đã dành 2 tuần neo lại quanh đảo Hải Nam để chờ thời tiết tốt, sau đó họ đã đi đến các đảo vào ngày 6 tháng Sáu trước khi trở về Quảng Châu ngay ngày hôm sau. Điều này là khó có thể được coi là một tuyên bố về chủ quyền.

Một vụ thám hiểm khác của Trung Quốc được cho là đã xảy ra vào năm 1902 mà Hoa Lục cho rằng "không thể cãi bàn" sau đó được tìm thấy trong năm 1970 trên các hòn đảo. Một nhà nghiên cứu người Pháp tại IRASEC (Institut de recherche sur l'Asie du Sud-Est contemporaine, có trụ sở tại Bangkok), ông Francois-Xavier Bonnet, đã trình bày tại một hội nghị tổ chức vào tháng Ba 2014 tại Manila rằng đó là một sứ mệnh siêu bí mật với trưởng nhóm là ông Huang Qiang đã được phái đến Hoàng sa vào tháng Sáu năm 1937 để đặt mốc chủ quyền giả có dấu năm 1902, 1912 và 1921 trên bốn hòn đảo trong giải quần đảo. Đó là cách tạo ra "bằng chứng" về chủ quyền mà Trung Quốc đã tự tạo ra, vào cuối thế kỷ 20.

Ngụy Biện Thứ Tư nằm ngay trong:
Tên tiếng Tàu của các hòn đảo.

Nhưng bằng chứng đáng chú ý nhất trong những đòi hỏi gian trá của Trung Quốc đã được vạch trần bởi Bill Hayton trong cuốn sách năm 2014 của ông, "Biển Đông - Đấu Tranh Quyền Lực Tại Châu Á". Trong đó tiết lộ rằng khi thực dân Pháp tại Việt Nam chính thức sát nhập sáu hòn đảo trong quần đảo Trường Sa vào tháng Năm 1933, lãnh sự Trung Quốc ở Manila, ông KL Kwong, lại chẳng biết chút gì về vị trí của hai quần đảo này. Sau khi biết rằng những hòn đảo này không nằm trong quần đảo Hoàng Sa, chính phủ Nam Kinh đã quyết định bãi bõ việc họ phản đối chính thức.


Trong một bài báo đã đóng góp cho Hội Nghị Manila tháng Ba năm 2014 về các tranh chấp Biển Đông, Bill Hayton cũng chỉ ra một điều thú vị trong những cái tên Trung Quốc của hầu hết các đảo ở Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Năm 1935, ông cho biết, chính quyền Tưởng Giới Thạch ở Nam Kinh đặt ra một ủy ban để đề ra những cái tên tiếng Tàu cho 132 hòn đảo nằm trong vùng biển Nam Trung Quốc mà có thể được tuyên bố là của Trung Quốc. (Ngẫu nhiên, con số 132 nạy lại rất gần với con số 130 đã được trích dẫn mãi từ năm 1777 của Lê Quý Đôn - trong đó cho thấy rằng 250 năm trước, người Việt đã có một kiến ​​thức rất chính xác về các đảo về những thứ họ cho là thuộc "biển Đông" của họ). Điều mỉa mai - ghi chú của Hayton - là ủy ban này đã không bao giờ đặt chân lên các đảo ấy nên tên Trung Quốc của các đảo ấy nghe rất "ba rọi" (vì có đâu mà đặt tên), chỉ là chữ dịch thô sơ từ tên tiếng Anh. Ví dụ, North Danger đã trở thành "Bei Xian" (Bắc Hiểm), Antelope Reef trở thành "Ling Yang" (Linh Dương), rồi đảo Money trở thành "Jin Yin Dao" (Kim Ngân Đảo).

Ngụy Biện Thứ Năm đã bị lật tẩy bởi sự lên án của Liên Hiệp Quốc rằng Trung Quốc đã chiếm đóng bằng võ lực quần đảo Hoàng Sa và một phần của quần đảo Trường Sa

Hoa Lục đã xảo quyệt trong việc tính toán thời điểm sự chiếm đóng bằng võ lực quần đảo Hoàng Sa tháng Năm 1974. Mặc dù Việt Nam Cộng Hòa đã gửi ra các lực lượng hải quân nhưng vẫn không đủ để chống trả lại lực lượng tấn công của Trung Quốc (phá hủy hai tàu Trung quốc trong cuộc đụng độ, trong đó có cả tàu chỉ huy). Ngụy Văn Thà, người đã tử nạn cùng với con tàu của ông, và 73 thủy thủ bị mất trong trận chiến trở thành anh hùng dân tộc, không chỉ đối với người dân miền Nam mà còn cả với người trẻ và người dân ở phía bắc trong vùng cộng sản.

Sự chống cự của 74 con người này đã chứng thực mãi mãi chủ quyền Việt Nam về quần đảo Hoàng Sa, hiện tại đang được coi là phần lãnh thổ bị Trung Quốc chiếm đóng chứ không phải là thứ được trao cho hay thuộc về Trung Quốc. Mặc dù Trung Quốc nắm giữ quyền phủ quyết trong Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc và do đó có thể cấm bất kỳ cuộc thảo luận nào về xung đột Biển Đông, Việt Nam vẫn có thể khẳng định rằng việc Trung Quốc dùng vũ lực chiếm lấy quần đảo Hoàng Sa và một phần của quần đảo Trường Sa từng thuộc về Việt Nam là vi phạm Điều 2.4 của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc. Chắc chắn cộng đồng quốc tế sẽ không đồng ý với cách chiếm đóng này như đã từng lên án Nga về cuộc chiếm đóng bằng bạo lực tại Crimea. Đó là cách duy nhất mà các nước nhỏ có thể bảo vệ chủ quyền và độc lập.

Những hiểu biết sai lầm của phương Tây

1. Về Tên Gọi

Cũng như Christopher Columbus đã nhầm người Mỹ bản địa là người dân bản địa của Ấn Độ, do đó đã gọi họ là Indians. Người Bồ Đào Nha khi họ tiến về phía đông từ Malacca (mà họ đã nhận được vào năm 1511) để đạt tới vùng đất bí ẩn "Cathay" của Marco Polo đã gọi vùng biển quốc tế trước khi họ đến được là "Mare da China" (Biển Trung Hoa) - một cách đặt tên nhầm lẫn được giữ mãi đến ngày nay như chúng ta có thể thấy trong tên gọi chung của Pháp "Mer de Chine" hoặc "Mer de Chine méridionale" mà dịch sang tiếng Anh là "biển Nam Trung Hoa."

Trên thực tế, với Trung Quốc, như Bill Hayton nhắc nhở chúng ta, "đó chỉ là 'biển' hoặc theo chữ nghĩa, vùng biển phía nam - Nam Hải." Điều này đã và vẫn là một là cách khách quan nhận để chỉ đó là vùng biển cũng được gọi là "Biển Đông" trong tiếng Việt, có nghĩa là "biển phía Đông", hoặc "Biển Tây" tức là "biển phía Tây" với người Philippines. Bằng cách gọi vùng biển này là "Nam Hải" (Biển Nam), người Trung Quốc cổ đại đã không có tuyên bố chủ quyền trên đó, chỉ có người Trung Quốc ngày nay mới đang cố gắng lừa gạt thế giới bằng cách làm cho cái tên mà người phương Tây đã nhầm lẫn đặt ra có chữ "Trung Quốc" trong tên của "biển phía Nam" để đòi hỏi chủ quyền. Nhưng chúng ta cũng nên nhớ rằng "Ấn Độ Dương" không hề thuộc về Ấn Độ, vì vậy ngay cả cái tên "Nam Trung Quốc Dương" cũng chẳng thể cung cấp cho Trung Quốc bất kỳ đòi hỏi nào.

2. Biển quốc tế, không phải "biển nội bộ"

Dựa trên niềm tự hào của Trung Hoa và vinh quang quá khứ, đặc biệt là những chuyến hải hành của Trịnh Hòa (1404-1428), các nhà lãnh đạo Trung Quốc muốn khẳng định Biển Nam (Trung Quốc) như là một "neihai" (nội hải hoặc biển trong nước). Ở đây, họ được hỗ trợ bởi các tác giả phương Tây như Gavin Menzies với cuốn sách của ông này "1421: Năm Trung Quốc Phát Hiện Mỹ Châu" (mà ngay sau đó bị phát hiện là có nhiều gian dối).

Mặc dù Bắc Kinh vẫn chưa thể thuyết phục thế giới về chủ quyền của họ nhưng lại thực sự hành động như thể vùng biển Nam Trung Hoa là một "biển nội bộ" của Trung Quốc. Ví dụ, họ đã thiết lập quy tắc cho những tháng không đánh cá trong một số vùng biển Nam Trung Quốc kéo dài đến tận quần đảo Trường Sa và thực thi chúng để gây thiệt hại cho ngư dân Việt Nam và ngư dân các nước khác.

3. Quỹ đạo ảnh hưởng của Trung Quốc?

Một số lãnh đạo phương Tây cũng tin rằng giống như Hoa Kỳ khi đề ra học thuyết Monroe trong thế kỷ 20 đã tuyên bố lợi ích đặc biệt tại các vùng như vịnh Mexico hay vùng biển Caribbean, người ta cũng nên nhận ra một quỹ đạo ảnh hưởng của Trung Quốc tương tự trên Biển Nam (Trung Quốc). Tuy nhiên, so sánh này không kể đến nhiều yếu tố khác nhau giữa Bán Cầu phương Tây và các nước Đông Nam Á bao quanh Biển Nam (Trung Quốc) khiến cho sự so sánh thành khập khiễng .

Ví dụ, học thuyết Monroe có mục đích bảo vệ sự độc lập của các nước châu Mỹ La Tinh không bị can thiệp của châu u và các cường quốc khác. Trong trường hợp của Biển Nam (Trung Quốc), đó là cho bản thân Trung Quốc, tuy nhiên, nó lại xâm phạm vào vùng lãnh hải của các nước xung quanh vùng nước này, chiếm đảo và những thứ không từng thuộc về Trung Quốc trong lịch sử, đuổi ngư dân các nước ra khỏi ngư trường truyền thống của họ, đưa giàn khoan dầu vào vùng lãnh hải của Việt nam chẳng hạn, và nâng cấp các đảo và các tính năng thành tiền đồn quân sự, do đó mở rộng tầm với của Trung Quốc gần một ngàn dặm về phía nam và đe dọa đến hòa bình trong một khu vực mà trong nhiều thế kỷ được coi là ổn định và thân thiện.

Như vậy, trong khi Hoa Kỳ cùng với những học thuyết Monroe đứng ra như người bảo vệ của các nước nhỏ, Trung Quốc đứng ra như kẻ xâm lược trong khu vực đe dọa hòa bình của vùng nước quốc tế từ lâu được biết đến như một con kênh thanh bình cho vận chuyển quốc tế cho những nền kinh tế hàng đầu thế giới.

Kết Luận

Đây chính là thời điểm cấp thiết mà chúng tôi cần cải chính những vấn đề và quan niệm sai lầm nêu trên và có một cái nhìn cân bằng hơn của toàn bộ sự việc. Ví dụ, từ năm ngoái, tại Hội Nghị Philippines-Việt chung về tranh chấp Biển Đông (ngày 27 tháng Ba năm 2014, tại Manila), Hội Nghị đã chấp nhận các đề xuất được quy định bởi các đoàn đại biểu Việt Nam đưa ra một cái tên trung lập nhằm thay thế sự nhầm lẫn của tên hiện đang được áp dụng cho vùng biển quốc tế này. Thay vì là "Biển Nam" nhìn từ Trung Quốc, "Biển Đông" cho Việt Nam và "Biển Tây Philippines" cho người Philippines, chúng ta nên theo đề nghị của tổ chức Nguyễn Thái Học Foundation sau các tham khảo với nhiều sử gia và các nhà địa lý của khu vực để gọi đó là "Biển Đông Nam Á."

Các chính sách của Mỹ xoay vòng đến châu Á, công bố từ năm 2010, nên được chào đón như nhiều nước trong khu vực, từ Nhật Bản xuống Philippines, Singapore, Australia và New Zealand, không loại trừ Ấn Độ, nhìn để lãnh đạo của Mỹ trong việc chống lại các mối đe dọa chiến lược của Trung Quốc của quyền bá chủ trong vùng biển Đông Nam Á

Và đó cũng là lý do mà chúng ta nên hỗ trợ vụ kiện Trung Quốc của Philippines hiện đang được xử lý bởi Tòa án Trọng tài Thường trực ở The Hague. Và cần thiết có lẽ là một tấm bản đồ có thể được đưa ra bởi Việt Nam, đặc biệt là Việt Nam Cộng Hòa trong đó có thẩm quyền rõ ràng trên các quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa sau một loạt các thỏa thuận quốc tế một số trong đó đã được ký kết thậm chí là Trung Quốc (Hội nghị Hòa bình San Francisco năm 1951, Hiệp định Geneva của ngày 20 tháng 7 năm 1954, Paris Hiệp định Hòa bình của ngày 27 tháng 1 năm 1973, và Luật Quốc tế 02 tháng 3 năm 1973).

***
Trịnh Bình An



trả lời


lên trên