1, 2, 3, 4  >                 Tác Giả và Tác Phẩm                 <<< tìm >>>                 BÀI MỚI . muc luc . vào



Văn Hóa Sử


Xuân Nguyện Cầu

Thời gian đang bắt đầu vào tháng 2 năm 2015. Hằng triệu người Việt lưu vong đang sống trên các vùng đất tạm dung từ Mỹ sang Pháp, Đức, Ý, Canada… còn đang giữa mùa Đông giá lạnh. Mong mùa Xuân về với nắng ấm cho những bầy chim trốn tuyết về lại cảnh rừng quen, nhìn cây lá xanh tươi và những nụ hoa chớm nở.

Xuân khởi sắc trên vạn vật gây xôn xao trong lòng người những niềm vui. Trong âm hưởng giao thoa của những lời chúc mừng năm mới, tuổi trẻ thêm nguồn hy vọng, hưng phấn tiếp bước vào đời với một tương lai tươi đẹp trong cuộc sống tự do và bình đẳng.

Cùng thời điểm, mọi người Việt lưu vong hướng tầm nhìn về quê hương. Sau 40 năm tập đoàn cộng sản cưỡng chiếm miền Nam, thống nhất đất nước . Đã đẩy dân tộc vào cuộc lầm than do chủ trường độc tài đảng trị. Đặt xã hội trong vòng phong tỏa khắc nghiệt. Mỗi oán than về nỗi cơ cực đói nghèo trong sinh kế hằng ngày; Mỗi bày tỏ về đất và biển đảo bị rơi vào tay Trung cộng ; Mỗi yêu cầu về sự bảo tồn văn hóa lịch sử, bảo tồn đạo đức nhân văn .... Tất cả đã bị đàn áp, khủng bố làm tê liệt tình thần và đau thương thể xác.

Các tôn giáo cũng bị triệt hạ uy tín, khủng bố và đàn áp các người lãnh đạo tinh thần và các giáo dân dám đòi hỏi tự do tôn giáo và sự tự trị của giáo hội. Bởi mọi người, mọi tổ chức, mọi tôn giáo phải do Đảng chỉ đạo theo đúng đường lối đọc tài cai trị.

Các cuộc xuống đường của dân oan bị chính quyền cướp nhà đất; Xuống đường đấu tranh về quyền làm người; Xuống đường để phản đối nhà nước xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo .... Đều bị đàn áp triệt để với đủ các phương tiện bạo hành đối với từng cá nhận. Thậm chí những nhà văn, nhà báo, nhạc sĩ khi phát biểu tư tưởng bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo vệ nhân quyền nhân phẩm đều bị bắt bỏ tù.

Tình trạng nhân quyền tại Việt Nam ngày càng tồi tệ do sự đàn áp ngày càng gia tăng, theo nhận định và đánh giá của ủy ban nhân quền Liên Hiệp Quốc và các tổ chức bảo vệ quyền làm người. Điều rõ ràng nhất là các người tù lương tâm trong các nhà tù luôn bị ngược đãi từ đánh đập, tra tấn đến biệt giam và cô lập. Sự thăm viếng của thân nhân người tù cũng quá khó khăn, vừa bị đòi hỏi điều kiện vừa bị đe dọa an ninh kể cả người trong tù và thân nhân liên hệ.

Trước tình hình khắc nghiệt từ xã hội đến nhà tù, trước sự đàn áp thô bạo của các lực lượng vũ trang. Tinh thần tranh đấu vì tự do, dân chủ và nhân quyền vẫn không suy giảm. Các tù nhân lương tâm trong các trại tù luôn kiên định tinh thần vì dân chiến đấu, vì nước hy sinh. Trong các trại tù, đã và đang có nhiều tù nhân lương tâm tuyệt thực để phản đối bản án, phản đối chế độ hà khắc của nhà tù. Trường hợp tuyệt thực của Bùi Thị Minh Hằng, Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Hồ Thị Bích Khương, Đặng Xuân Diệu, Đinh Nguyên Kha, Trần Thị Thúy, Lê Thị Phương Anh, Tạ Phong Tần, Lê Quốc Quân ... Đã đánh động lương tâm nhân loại.

Tinh thần quốc gia dân tộc ở Việt Nam hiện nay cần phải được soi sáng bằng những ngọn đuốc công lý thắp lên từ mỗi trái tim Việt Nam còn thiết tha về giang sơn tổ quốc, về đạo đức nhân văn của một dân tộc được khai mở và xây dựng bởi những con người dám vì nướ hy sinh.

Mùa Xuàn dẫu có về trên quê hương, những hàng cây xanh bị đốn ngã, những di tích văn hóa sử bị đập phá, những thuần phong mỹ tục bị triệt tiêu không thể phục hồi. Mọi đổ nát của đất nước, mọi rối loạn của xã hội, mọi băng hoại của đạo đức cần phải được chấm dứt với quyết tâm của toàn dân trong cuộc chiến đấu diệt trừ tập đoàn cộng sản. Còn cộng sản, tinh thần tự chủ quốc gia không tồn tại, quyền làm người không thể thực thi.

Trong nồng ấm của đất trời, trong tình thương nhân ái, hàng triệu người Việt lưu vong xin chung chia nỗi đau của những tù nhân lương tâm, nỗi uất hận của toàn dân đang chịu sự cai trị hà khắc và tàn độc của tập đoàn cộng sản Việt Nam. Xin ơn trên và hồn thiêng tổ quốc phù trợ cho cuộc đấu tranh của một dân tộc bị tước bỏ quyền làm người, sống đau thương trên chính quê hương của mình.
Nguyện cầu cho quốc thái dân an trong mùa Xuân mới.

Cao Nguyên
Washington.DC - Feb 3, 2015

@

Voice On Radio CTM - Chủ đề Việt Nam Ngày Nay
https://app.box.com/files/0/f/0/1/f_25901248591



trả lời


Văn Hóa Sử


Tản Mạn Trên Trời

Gần nhau tản mạn bên đời
Xa nhau tản mạn trên trời cũng phê
Online một bữa về quê
Ngắm xem đất nước nhiêu khê cỡ nào !

Bạn đừng cười với lời mở của tôi trong một bài tản mạn trên trời. Từ FaceBook đến các WebSite mà tồi thường ngồi nghe ngẫm nghĩ nhiều điều xoay quanh trọng tâm: Quê Hương tôi.
Tôi đã viết nhiều bài tản văn cũng như thơ nói về Quê Hương, nhưng chỉ là những chiếc lá trong rừng cây . Những cảm nghĩ từ hồi tưởng, từ thực tế nhìn vào nhân vật và sự kiện, cũng chỉ là một phần của vết thương của chiến tranh và của hòa bình.

Sự nhức nhối của vết thương chiến tranh là đương nhiên, nhưng nhức nhối trong hòa bình càng kinh khiếp hơn. Bởi hòa bình trên quê hương là giả tạo, sức tàn phá của hòa bình gây tổn thất về nhân mạng, về tài sản, về mọi mặt sinh hoạt xã hội còn lớn hơn trong chiến tranh. Nguyên nhân chính là quê hương bị đặt trong sự thống trị của cộng sản.

Trong lịch sử đương đại 100 năm qua, đất nước nào cộng sản cai trị đều đều tổn thất và phá sản như nhau. Sự tổn thất và phá sản về người và của chưa thấm gì với sự tổn thất và phá sản về đạo đức, nhân văn của một dân tộc. Bởi với người thì lớp sau nối theo lớp trước theo vòng luân chuyển sinh tồn, tài sản thì xây lên từ sự tàn phá, nhưng đạo đức lương tâm của một dân tộc muốn phục hồi sau khi chế độ cộng sản bị tiêu diệt, cần phải đợi cả trăm năm sau.

Trở lại với tản mạn trên trời. Chỉ riêng với FaceBook, từ Trang Chung đến các TimeLine của từng người, hằng ngày có ngàn chuyện để xem . Xem để cảm nhận về những quan điểm nhân sinh đồng hành, xam cả những dị biệt trong cách nhìn về cuộc sống xoay quanh trục chuyển của vũ trụ, mà nghiệm ra luật vận hành âm dương, tốt xấu, thiện ác ...bổ sung cho nhau.

Trong cái rủi có cái may, trong cái hay có cái dở. Thẩm thấu mọi điều may rủi, dở hay... rồi ngắm lại mình, biết được mình còn được là mình thì còn gì vui hơn. Và càng vui hơn khi biết mình còn có bạn đồng hành với những lời tâm tình rất thật. Thật ở chỗ mình nhận biết Tâm dẫn cái Trí của bạn đi suốt quãng đường dài trên hành trình khó nhọc đầy những trầm thăng, vinh nhục mà chẳng lấy điều gì làm trọng ngoài một chữ Nghĩa đối với Đời.

Khi bạn bấm Like với điều tôi viết "đời đã chật sao lòng ta không rộng" là đã có một niềm vui trong ngày như nhạc sĩ Trịnh Hưng viết "cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy / ta có thêm ngày nữa để yêu thương". Những yêu thương của một ngày nối tiếp nhau sẽ giúp mình đủ sinh lực vừa đi vừa chuyển tải những ý lời vừa thích nghi cho cuộc sống đời thường, vừa tạo thế đứng cho lập trường cầu tiến và hiến dâng.

Có như một tấm lòng
mới hiểu từng ngọt đắng
từ mỗi điều ước mong
trong thường hằng cuộc sống!
...
Có như một người Mẹ
mới thấu tiếng khóc con
dẫu thăng trầm dâu bể
vẫn nhớ cánh tay bồng!

Cảm ơn những tấm lòng từ tri âm đến tri kỷ đang đi cùng với tôi về phía chân trời chân thiện mỹ mà không kể điểm mốc thời gian. Đi như Bùi Giáng trên "đường về Đà Lạt":
Non nước ấy chìm đâu em có biết
Dựng bên trời để nhớ để quên đi
Chiều trở lại để dư vang chia biệt
Vọng miên man trường hận thở than gì!

Non nước ấy chìm đâu? Tôi có biết. Biết để đi theo hoài vọng sự phục hưng một quê hương luôn cưu mang tình Người và Đất . Điều may mắn là tôi đang có những người bạn trẻ, biết lắng nghe và sẵn sàng tiếp nhận sự hoài vọng từ thế hệ cha, ông. Thành đạt thế nào còn tùy theo vận nước dưới sự chở che và ủy thác của các đấng quyền năng và hồn thiêng Tổ Quốc.

Điều trước tiên là mỗi người đang cùng đi về một hướng với thái độ tích cực phục hồi giá trị làm người. Một con người luôn tử tế với cuộc đời trong nhân cách sống.

Không gian đang vào cuối mùa Thu, nhìn là vàng lìa cành bay theo gió và trở về với đất nuôi một mùa xanh mới, hy vọng lại vươn lên từ những tàn phai:
còn hối tiếc mùa xanh còn hy vọng
cầm trong tay cho chắc những niềm tin
chờ đất trở thêm một lần gieo hạt
mầm nỡ nào không mọc những chồi non!

Phải, chúng tôi đang chờ mùa đất trở trên quê hương, để cùng nhau về gieo hạt mới. Mong lắm thay.
Cảm ơn các bạn đã xem chút tản mạn trên trời. Cầu xin ơn trên ban phúc lành cho chúng con, những người con của mẹ Việt Nam đang sống giữa gian truân vẫn mang niềm hoài vọng: Dựng trong tim một dãi sơn hà!

Cao Nguyên
Đông Bắc Mỹ - Cuối Thu 2015

@

Tôi Chỉ Muốn Làm người:
https://www.youtube.com/watch?v=sZliPvhyGQ4



trả lời


Văn Hóa Sử


Thao Thức

Rồi Tháng Tư cũng qua. Đau Thương rồi cũng lắng.
Rồi hiện tại cũng qua. Khi mở cửa vào tương lai.

Nhưng chắc chắn một điều không thể tách rời quá khứ khỏi cuộc đời mình, nhất là quá khứ của một cuộc hành trình đầy chông gai, cuồng lũ và bão lửa. Do bất trắc của thiên nhiên hợp cùng sự cuồng nộ của lòng người dậy lên dòng đời nghiệt ngã!
Quá khứ của một thời như vậy làm sao quên? Biết nhớ là đau thương, nhưng muốn quên là không thể. Quên là tự phản bội với chính mình, phản bội với những người cùng đồng hành trong thời nghiệt ngã đó. Quên là từ chối trách nhiệm của một người dân đối với quốc gia, dân tộc. Thấm thía hơn là mình cố tình đốt cháy căn cước tị nạn, trong đó có cả lời thề và lời xin lỗi. Xin lỗi quê hương đành đoạn rời xa mang theo tâm niệm hi sinh vì tổ quốc . Đồng thời xin lỗi quê hương thứ hai đã cưu mang mình về một lời thề hiến định của một công dân nhập lưu dòng sống mới .
Mai Ba Mươi/ bữa nay Hai Chín / ta đếm thời gian / câm nín ngược dòng …! Đúng, ngày mai 30 tháng 4 , một điểm mốc thời gian của lịch sử Việt Nam đỏ au của nước mắt và máu của bao nhiêu triệu người dân Miền Nam Việt Nam bị xé toạc phận người bởi quân cuồng nô phương Bắc. Một cuộc dìm chết cả đất và người dưới sức mạnh của bạo lực tàn ác. Không chỉ hôm nay, những người chung số phận lưu vong hồi tưởng và mặc niệm ngày lịch sử đau thương đó. Mà mãi mãi những thế hệ tiếp nối cần phải nhớ.
Chính vì những điều không thể quên, mà Tháng Tư vừa đi qua, tâm trí vẫn còn lắng đọng những u buồn trầm uất . Trong bất chợt mỗi đêm về giấc ngủ chưa yên, tình còn thao thức với những chung chia niềm thương đau với đất và người.
Ai đã từng thao thức về nỗi niềm chung khi nghĩ về những tháng năm xưa của 40 năm về trước . Từ cuộc sống của bản thân và gia đình trên một miền đất hiền hòa, an cư và thịnh vượng . Bỗng dung bị cơn lốc đỏ cộng sản tràn qua gây đổ vỡ mọi an lành có được! Sự ly tán khởi đầu từ vượt đất, vượt biển xa nguồn, chấp nhận cuộc sống lưu vong, để mãi mãi nhìn về quê hương trong niềm đau bất tận !
Tôi và những đồng đội chiến binh Việt Nam Cộng Hòa, sau nhiều năm thi hành trách nhiệm vệ quốc an dân, bị cơn bão hận thù thổi bay đi tứ tán rồi xoáy cuộn vào những trại tù on nghiệt .
Bao nhiêu năm sống trong các trại tù khổ sai, chúng tôi hiểu thân phận mình như một loài sinh vật bị đọa đày . May thay còn điểm tựa lương tri giữ mình đứng thẳng với sự yểm trợ niềm tin của gia đình và tổ quốc . Để có hôm nay được sống trên vùng đất tự do được gọi là quê hương thứ hai, vẫn mang trong tâm nỗi lòng người Do Thái dựng trong tim một dãi sơn hà .
Chính niềm tin và khí tiết chinh nhân đã thôi thúc những người lính già mà đồng bạn ví như những con ngựa què, lê bước chân mình trên hành trình dang dở để hiến thân cho cuộc sinh tồn dân chủ và tự do của gia đình và tổ quốc . Với may mắn đôi tay còn giữ được cây bút và ngọn cờ vàng ánh màu chủng tộc thiêng liêng. Dĩ nhiên chúng tôi luôn tự nhủ cần kiên trì ý chí, phải vượt qua những trở ngại khách quan như khi thoáng gặp những tấm căn cước tị nạn của người thân quen vất bỏ trên đường. Vẫn biết những mâu thuẫn và va chạm là sự tất yếu trong sinh tồn xã hội, nhưng lòng vẫn thấy băn khoăn khi vết mực vấp vào nghi vấn thường tình. Thoáng nghĩ vu vơ về bản chất con người rồi cũng nhòa đi khi ngọn bút chạm vào những vết thương xưa. Việc cần làm , phải làm, đâu có lớn lao gì so với những anh hùng hy sinh vì tổ quốc.
Viết là nhu cầu của cuộc sống, như hơi thở cần tiếp truyền đủ máu cho con tim còn nhịp khát khao dẫn lực chân tình về với ngày mai có thế hệ cháu con sẫn sàng tiếp nhận. Viết để chuyển tải từ hôm nay đến ngàn sau tâm tư của một người dân mất nước:
Đất không Nước và ta người tàn phế / Vói hai tay không thể chạm Quê Hương!
Hai tay không thể chạm Quê Hương, chỉ còn biết chạm Quê Hương bằng hơi thở nồng nhiệt của mình . Những hơi thở mang niềm hy vọng đốt cháy sự khắc nghiệt của dòng đời, làm tan rã lòng thù hận của “bên thắng cuộc”.
40 năm quá dài và quá đủ để người Miền Bắc thấu hiểu tấm lòng của Đất và Người Miền Nam. Đủ để những người cộng sản hiểu rõ ai giải phóng ai. Và ai thắng ai khi nhìn thấu nỗi lòng nhân dân cả nước! Điều rõ ràng minh bạch là sự điêu tàn của cả Đất và Người trên quê hương do chiến tranh để lại. Tệ hại hơn những vết thương chiến tranh thay vì hàn gắn đã bị chủ nghĩa cuồng nô thù hận xé toạc ra tạo thêm điêu tàn trên quê hương.
Mỗi một gợi ý về niềm đau của đất nước, về nỗi thống khổ của người dân nơi quê nhà là mỗi trở mình thao thức. Hơn hai mươi năm chịu cuộc lưu vong, bao nhiêu dòng nghĩ chảy tràn cảm xúc thương đau xuống ngòi bút. Hằng triệu con chữ ngậm ngùi vượt đêm thao thức bày tỏ cùng thế gian nỗi tủi buồn của một chinh nhân, vừa là nạn nhân và chứng nhân của cuộc chiến hai mươi năm khốc liệt.

Cao Nguyên



trả lời


Văn Hóa Sử


Sen và Bão

Trưa ngày 25/10/2015. Khi đến dự buổi giới thiệu tác phẩm "The Lotus And The Storm" của nhà văn Lan Cao tại Jewish Community / Virginia. Tôi có cảm tưởng mình đi vào một không gian văn học sử mới với những tà áo dài màu hồng của các chị em hội cựu nữ sinh trường Trưng Vương chào mừng quan khách ngay tại sảnh đường.

Những người đến dự buổi giới thiệu sách gồm cả ba thế hệ người Mỹ và người Mỹ gốc Việt. Sự hân hoan náo nức trên từng nét mặt quan khách đối với một tác phẩm văn chương là một dấu ấn mới mà mọi người hiểu ra nét đẹp kiêu hùng của một thời kỳ hưng thịnh đang được phục hồi. Sự phục hồi vượt trên những đau thương trầm uất của một đất nước bị chiếm đoạt bằng bạo lực.
Bốn mươi năm sau cuộc chiến là một chuỗi dài thời gian lướt trên những đổ vỡ bi đát của phận Người và Đất của quê hương Việt Nam. Một đất nước vốn được xem là phòng tuyến trên vòng đai Đông Nam Á trong vai trò chống ngoại xâm phương Bắc.

"The Lotus And The Storm" là một tác phẩm văn học sử. Sen và Bão là hòa bình và chiến tranh. Khởi đầu từ hòa bình yên ả của vùng đất phương Nam với sự bảo vệ của một chế độ Cộng Hòa Nhân Bản, đến chiến tranh chống chủ nghĩa Cộng Sản phương Bắc xâm lăng. Rồi ngược lại, từ chiến tranh vệ quốc phương Nam bị thế lực ngoại bang bức tử một quân đội kiêu hùng, đến một hòa bình giả tạo trên quê hương. Một sự hòa bình trên danh nghĩa của phe tự cho mình thắng cuộc.

Bốn mươi năm đã qua, với sự hòa bình giả tạo trên toàn lãnh thổ Việt Nam, sự đổ vỡ của xã hội gần như toàn diện từ nền văn hóa dân tộc, từ nhân bản Văn Lang, từ huyết thống Lạc Hồng, đến mọi sinh hoạt đời thường của đồng bào cả nước. Hai chữ "Đồng Bào" dường như ngày càng bị lãng quên.

Đúng là chiến tranh đau và nhức nhối hòa bình!

Trở lại với buổi giới thiệu tác phẩm, điều thích thú nhất với tôi khi nghe khoa học gia Dương Nguyệt Ánh nói về tác giả và tác phẩm. Tôi không nghĩ do cái duyên thiên định bà Dương Nguyệt Ánh gặp Cao Phương Lan từ năm 2008 mà bà quyết định nhận lời làm diễn giả cho tác phẩm. Mà chính tác phẩm mới là nguyên nhân. Bởi từ nguồn cội gia đình, thân tộc, tác giả Cao Lan đã đưa người đọc tác phẩm đi vào những hệ lụy cùng cưu mang: Quê Hương và Vận Nước. Từ khổ nhục của cuộc sống sau khi cộng sản Miền Bắc cưỡng chiếm Miền Nam Việt Nam, đến những khắc khoải suốt thời gian bỏ nước sống lưu vong.
Điểm nhức nhối trong những cưu mang ấy là vết thương do chính đồng bạn và đồng minh gây ra.

Hội chứng Việt Nam chưa ngừng rỉ máu
Viết trường ca, con cháu tiếp cha ông
...
Triệu người chết vì những lời phản bội
Bao nhiêu triệu lòng đau bởi những hoài nghi!
(hội chứng Việt Nam / Cao Nguyên)

Từ sự hoài nghi của người Mỹ trong phong trào phản chiến do quyền lợi của tập đoàn tư bản phát động. Đến sự hoài nghi những chiến hữu ngày xưa đã quay lưng chối từ trách nhiệm, thậm chí còn trở cờ phản bội sự hy sinh xương máu của đồng đội, phản bội lòng tin yêu của nhân dân Miền Nam suốt 20 năm bảo vệ và xây dựng quốc gia.

Điều may mắn cho dân tộc là còn một tập thể hậu duệ Việt Nam Cộng Hòa biết thắp sáng lên niềm tin về một tương lai cho quê hương. Khởi đầu bằng những minh chứng công bằng lịch sử qua cuộc chiến tranh ý thức hệ Quốc - Cộng. Tính nhân bản đã làm nên những tác phẩm như tấm gương soi lại quá khứ đau thương mà nhận ra những nét đẹp hào hùng của quân lực Việt Nam Cộng Hòa, nhận thấy sự phi nghĩa của tập đoàn cộng sản gây ra chiến tranh tàn khốc và hủy diệt. Một trong những tác phẩm đó là "The Lotus And The Storm" (Sen và Bão).

Cùng thời gian đồng hành của những tác phẩm văn học sử được viết bởi những tác giả Việt Nam, còn có những tác phẩm của những tác giả ngoại quốc đã từng tham chiến bên cạnh quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Tất cả là những chứng nhân trung thực của một thời bão lửa, và cả thời hòa bình giả tạo gây nên bởi cộng sản Việt Nam.

Qua những tác phẩm văn học sử đó, thế hệ trẻ Việt Nam sống ở quốc nội hay hải ngoại đang từng bước hiểu thấu chính nghĩa và phi nghĩa của cuộc chiến. Xây dựng niềm tin và hướng tới tương lai bằng những hành động thiết thực trong cuộc tranh đấu vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho quê hương Việt Nam.

Trước thềm năm mới 2016, hy vọng và niềm tin về một Việt Nam hưng thịnh và hạnh phúc nhân dân sẽ phục hồi. Sự góp sức của những cây bút chính danh văn học sử là một lực lượng đáng kể trong cuộc tranh đấu vì quê hương và dân tộc.

Xin chân thành cảm ơn những tấm lòng ưu ái từ tác giả đến người đọc "The Lotus And The Storm". Sau mùa bão, sen lại nở hồng và ngát hương trên đất nước Việt Nam.

Trân trọng,
Cao Nguyên
Washington.DC - Jan 21, 2016



trả lời


Văn Hóa Sử


Cách Mạng Nhân Bản

Quanh chiều thu xám, giữa lá vàng rơi . Mới thấm sự im lắng với nỗi buồn của kẻ ly hương vọng về cố quốc.
Sau mấy ngày miền Đông Bắc báo bão, mưa gió rì rào đủ cho cái lạnh tràn vào da thịt, chân lười bước dạo quanh rừng phong vào thu tuyệt đẹp với sắc lá vạn màu.
Đang mơn man nghiệm chính điều mình nói về tình đất, chất người trong video clip về buổi giới thiệu Tuyển Tập Lê Mai Lĩnh vừa nhận qua email, thì người bưu điện gõ cửa.
Lại sách. Chữ nghĩa sao đến nhiều thế. Giá mà bán được vài quyển sách đủ loại vừa nhận được trong tuần, cũng kiếm đủ tiền mua chai rượu sưởi ấm người lính già.

Sách nhận được chiều nay là đặc san "Văn Đàn Thời Đại" số 2 do chủ nhiệm Phạm Trần Anh gởi. Tuyển tập văn thơ không nặng lắm, chỉ trên 300 trang nhưng dung chứa biết bao điều cần được biết qua tự thuật và biên khảo của hơn 40 văn thi hữu bốn phương đã chứng kiến trước và sau cuộc chiến Việt Nam. Tất cả nội dung luôn xoay quanh trục xoáy hướng tâm vào cuộc phục hưng đạo lý, nhân quyền và kỷ cương quốc thổ.

Thời đại mới, văn phong phải mới. Chữ nghĩa phải nhanh mới bắt kịp dòng thời sự của thời đại tin học toàn cầu. Cần biết và hiểu từng sự kiện chính trị diễn biến liên tục tác động từ quốc nội ra hải ngoại và ngược lại. Sự tác đọng của thời cuộc bùng lên cuộc vận động tri thức của toàn dân chứ không là trí thức khoa bảng giáo điều phục vụ lợi ích cá nhân và phe nhóm.
Bởi thời cuộc ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của nhân dân, từ ấm no đến hạnh phúc, từ tự do dân chủ đến nhân quyền.

Trong nguồn tri thức toàn dân, phần chủ lực vẫn là các bạn trẻ trong và ngoài nước biết được trách nhiệm của mình là nối bước theo cha ông trên hành trình cứu và giữ nước đúng truyền thống chống ngoại bang Trung cộng và nội thù dân tộc là tập đoàn cộng sản Việt Nam.

Từ các bài học lịch sử qua cuộc chiến Việt Nam, các bạn trẻ trong và ngoài nước ngày càng thấu hiểu nguyên nhân và hậu quả cuộc chiến do tập đoàn cộng sản miền Bắc khởi xướng. Đã giết chết hằng triệu thanh thiếu niên miền Bắc trong cuộc chiến và triệt phá, san bằng nền đạo đức dân tộc Việt sau khi cuộc chiến chấm dứt. Sau 40 năm cộng sản thống trị toàn lãnh thổ, Việt Nam hôm nay là một xã hội hỗn loạn trên hầu hết môi trường sinh thái và nhân bản.
Nền giáo dục giáo điều tạo điều kiện cho bạo lực phát sinh thao túng xã hội phụ họa theo lực lượng cường quyền bạo ác gây tang thương cho nhân dân ở mọi nơi, mọi lúc.

Cuộc cách mạng văn hóa cũng cam go và đầy thử thách như cuộc cách mạng do các phong trào yêu nước đang diễn ra khắp nơi. Mỗi cá nhân của phong trào phải trực diện với kẻ thù hung ác, luôn muốn tiêu diệt sức đề kháng của tự do dân chủ phát sinh từ ý thức căn bản quyền làm người.

Để sống còn đúng nghĩa con người, quyền làm người được xác định từ những người dân bị chính quyền cướp đi tài sản, từ người trí thức bị cơ chế Đảng buộc phải đi theo con đường chủ nghĩa phản quốc và mị dân, từ nhân sinh đòi hỏi quyền được sống trong an vui và tự chủ, từ thế hệ trẻ muốn mở rộng tầm nhìn vào thế giới tự do... Nhưng tất cả đã và đang bị gọng kềm độc tài của chế độ siết chặc và đè nén. Cho nên sự bùng phát để thoát ra khỏi ách thống trị là lẽ đuong nhiên và tất yếu, khi con người cần phải được đứng đúng vị trí làm người.

Tôi muốn được làm người! Từ lời than van đến tiếng kêu thống thiết từ mỗi con người hay từ mỗi dân tộc đều làm cho nhân loại bàng hoàng khi nhìn vào nơi phát ra lời kêu cứu. Việt Nam đó, quê hương tôi bây giờ như thế đó. Các hội đoàn và tổ chức nhân quyền trên thế giới đau lòng và phẩn nộ cảnh báo. Thế nhưng tập đoàn cộng sản Việt Nam cứ phớt lờ, mặc cho dân nghè đói, văn hóa suy tàn, đạo đức dân tộc bị hủy diệt theo chủ trương bất biến của cộng sản: ngu để trị, đói phải theo, sợ hãi phải im lặng!

Cuộc thống trị của cộng sản hơn 70 năm trên đất Bắc và 40 năm trên toàn cõi Việt Nam, đã đưa đất nước Việt Nam vào thời kỳ hỗn loạn và băng rã toàn diện nền văn hóa dân tộc và nhân phẩm con người. Sự rối loạn xã hội đồng thời với sự khuynh đảo của bọn Hán nô nhập cư theo thỏa thận của Việt cộng và Trung cộng nhằm chiếm hữu từng phấn các vùng đất Việt Nam. Báo động toàn dân về thảm họa diệt chủng và mất nước.

Từ lời kêu cứu tôi muốn được làm người đến nổi đau về thảm họa diệt vong, mỗi người dân Việt cần phải hợp lực vùng lên thực hiện cuộc cách mạng để cứu chính mình và thế hệ con cháu mình thoát khỏi cuộc thống trị tàn khốc của cộng sản Việt Nam. Không còn chế độ cộng sản, Việt tộc sẽ vươn lên, đất nước sẽ phú cường. Đó là việc tất yếu mà mỗi người dân có trách nhiệm phải làm đối với quốc gia, dân tộc.

Mùa Xuân 2016 với bao kỳ vọng mong chờ từ khắp nơi vào sinh lực của toàn dân vì tiền đồ tổ quốc. Mùa Xuân hy vọng tự do dân chủ được tái lập trên quê hương Việt Nam với cuộc cách mạng nhân bản được phát động từ quốc nội và sự yểm trợ tích cực của tập thể người Việt hải ngoại.

Cao Nguyên

Washington.DC - Jan 20, 2016



trả lời


Văn Hóa Sử


Nhân Vật và Sự Kiện

Trước tiên, Cao Nguyên chân thành cảm ơn tất cả thân hữu và các bạn gần xa về sự ưu ái và nhã tình đối với cá nhân qua hành trình chữ nghĩa.

Lúc đầu năm, tôi đã làm bản "Điểm Việc" gởi các bạn xem . Thế nhưng, vẫn còn nhiều người hỏi "Cao Nguyên - anh là ai?". Với bản thân, như bạn vừa xem qua bài "KHÔNG" trong tâm tình rất thật.

Với trách nhiệm của một người cầm bút đối với tình nghĩa đồng bào và quê hương. Được sự khích lệ của tất cả thân tình bằng hữu, nên tôi còn có mặt ở những nơi cần có mặt.

Một trong những nơi đó là góp phần làm nên vẻ đẹp của những tác phẩm mà người viết cùng tầm nhìn về quê hương Việt Nam thương yêu.

Một góc nhìn qua "Nhân Vật và Sự Kiện" hôm nay, mời các bạn xem Blog "Tủ Sách Tiếng Quê Hương" tôi vừa thực hiện .

Qua khuôn mặt chữ nghĩa, bạn sẽ thấy lịch sử Việt Nam tái hiện nét hùng tráng và nhiệt tâm của những người tự nguyện hiến thân cho quê hương và dân tộc.
Đặc biệt chính thể và chính nghĩa của thời kỳ Việt Nam Cộng Hòa cần được soi sáng bởi lương tri và lương tâm của nhân loại trên khắp mặt địa cầu.

Điều mong ước của những người cầm bút nói chung và của các anh chị em đồng hành trong nhóm xây dựng và phát triển Tu Sách Tiếng Quê Hương:
“Đưa sách Việt đến gần người Việt”.

Rất mong các bạn đồng cảm, chia sẻ cùng nhau về tâm tình của tôi hôm nay .
Thân chúc các bạn luôn an vui, hạnh phúc và thành công.
Trân trọng,
Cao Nguyên

Washington.DC- Fer 26, 2016
@

Tủ Sách Tiếng Quê Hương
http://tusachtiengquehuong.blogspot.com/



trả lời


Văn Hóa Sử


Tạm Biệt Anh Nguyễn Ngọc Bích

Như thường lệ sinh hoạt mỗi buổi sáng hằng ngày, tôi online check email và đọc tin. Sáng nay, vừa vào facebook tôi nhận được tin nhắn từ bạn thân: “Xin chia buồn cùng anh với tin anh Nguyễn Ngọc Bích vừa từ trần”. Tôi thật bàng hoàng với lời nhắn này, không thể tin được. Nhưng khi theo link dẫn vào nguồn tin, nơi trang báo Người Việt online, đọc bản tin: “Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích đã từ trần trên bầu trời Biển Đông, trên chuyến phi cơ bay từ Hoa Kỳ sang Manila, nơi ông dự kiến sẽ thuyết trình về chủ quyền Việt Nam ở Biển Đông”. Tôi đã tin và sự bàng hoàng trong tôi chuyển sang trạng thái đau nhói tim và lòng chùng xuống với nỗi buồn khôn tả!

Quả thực anh Nguyễn Ngọc Bích đã bỏ chúng tôi đi về nơi miên viễn. Anh ra đi một cách đột ngột không kịp giã từ gia quyến và thân hữu. Chỉ có mỗi người vợ thương yêu ôm lấy anh giữa lòng phi cơ đang bay trên bầu trời biển Đông.
Tôi vội gọi điện thoại đến một số anh chị em trong Câu Lạc Bộ Văn Học Nghệ Thuật Hoa Thịnh Đốn và Câu Lạc Bộ Sách … báo cho họ biết về tin buồn này. Miền Đông Bắc Hoa Kỳ cuối mùa Đông vẫn còn se lạnh, tin nhận chậm sau cơn ngủ qua đêm, nên có người vừa biết, có người chưa biết tin buồn. Nên khi nghe tin ai cũng bàng hoàng sửng sốt, buồn lắm khi người anh và cũng là người bạn thiết thân đã không còn có dịp siết chặt tay nhau với nụ cười hiền hậu của anh.

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người anh kính mến của tôi đã vĩnh viễn cách xa những thân hữu quanh anh. Nhắc đến giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, trong giới văn học và truyền thông hải ngoại và trong nước, tôi nghĩ người biết và hiểu anh không ít. Bởi nguyên cả cuộc đời anh luôn tận tâm với sứ mệnh của người cầm bút vì chính sử và tận tình với quê hương dân tộc với những việc làm mưu cầu sự tự do, dân chủ và nhân quyền.

Chỉ riêng cơ sở "Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ" do chính anh thành lập với mục đích nghiên cứu văn học sử Đông Phương và xuất bản những quyển sách có giá trị phục hồi và khai sáng văn học sử Việt Nam. Đã bày tỏ được tấm lòng nhân bản của anh qua chữ nghĩa, minh chứng phân tích và giải trình từ cội nguồn nhân ái Văn Lang đến tinh thiện và ác trong chiến tranh chủng tộc .

Cứ nhìn vào tiểu sử và quá trình hoạt động của anh, đủ thấy đây là một điển hình nhân cách sống vì Dân và vì Nước. Được ghi nhận và đánh giá cao qua từng bài viết của những ký giả Việt Nam và ngoại quốc. Sự luyến tiếc từ tình cảm đến công việc vì lợi ích quốc gia mà sự ra đi của anh là một tổn thất lớn trong lực lượng vệ quốc an dân. Sự tiếc thương không riêng với thế hệ tiên phong mà còn loang tỏa đến các bạn trẻ trong thế hệ tiếp nối truyền thống văn hiến Lạc Hồng và kỷ cương đạo đức Việt tộc .

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích là một người ngoài sự đa cảm và khả ái, còn là một người đa năng với sự hoạt động trên các lĩnh vực, từ văn thơ nhạc đến kinh tế và chính trị. Là một người lãnh đạo từ tâm và nhân ái khởi phát từ đạo đức Phật Môn khi anh chọn cho minh pháp danh Tâm Thiện. Từ Tâm Thiện anh đi trên hành trình phụng sự Tổ Quốc thương yêu với ý nguyện một Việt Nam dân chủ, phú cường và toàn vẹn lãnh thổ.

Anh trưởng thành từ bờ biển Đông và khi anh vĩnh biệt cõi đời trên bầu trời biển Đông. Hành trình của anh gợi cho tôi một ý tưởng vừa hào hùng vừa lãng mạn bắt nguồn từ ý chí chiến đấu không mệt mỏi của anh với hy vọng phục hồi nguyên trạng lãnh thổ Việt Nam từ đất liền ra hải đảo. Phải lấy lại Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam bị Tàu Cộng chiếm đoạt.
Nếu việc làm của anh, chính anh không muốn có danh gì với núi sông thì cũng phải có tên vì núi sông chứ? Lẽ công bình của trời đất hay công bình theo lẽ sống thế nhân cũng tất yếu nhận rằng anh xứng đáng được ghi tên trên một tấm bia đá nơi hải đảo Hoàng Trường Sa, khi được phục hồi nguyên trạng là lãnh thổ bất di dịch của đất Mẹ Việt Nam. Giá mà một phần di thể anh được rải trên những hải đảo mà anh quyết lòng đấu tranh gìn giữ thì đẹp biết chừng nào!

Viết về anh hôm nay, tâm tư tôi hoàn toàn lắng đọng. Riêng nghĩ về anh sau phút giây bàng hoàng, cảm xúc lại dâng tràn với từng nét nhân dáng anh còn in rõ trong tâm tôi với tất cả sự ấm nồng thân thiết của một người thầy, người anh. Tôi học được từ anh nhiều lắm, từ cách ứng xử nhu hòa trong cuộc sống đến sự trải nghiệm hướng đi của chữ nghĩa vì Người và Đất của nơi được sinh ra và của chỗ tạm dung. Sao cho tròn nghĩa vụ làm người.
Hạnh phúc lắm cho tôi khi được anh tiếp nhận với cả tình của một người anh và một người bạn. Qua thư riêng và điện thoại giao tiếp giữa anh và tôi, lúc nào cũng đầy ắp tình thân mến tâm giao.

Anh chia sẻ với tôi những ân tình trên chữ nghĩa khi tôi gởi anh một bài viết mới. Anh nói: "Cao Nguyên vẫn giữ phong cách riêng chuyển tải ân tình chữ nghĩa đến với Người và Đất rất chân thành". Lời nói của anh là món quà đẹp anh tặng tôi và nhắc tôi luôn nhớ mãi trách nhiệm của người cầm bút thật thà với chữ nghĩa và trân trọng người đọc bằng một chữ Tình.

Tấm lòng sống vì mọi người của anh được tất cả anh chị em trong CLB Văn Học Nghệ Thuật Hoa Thịnh Đốn ghi nhận sâu sắc và tâm đắc. Nên chi trong những buổi họp cộng đồng, hội cao niên, câu lạc bộ văn học ... Nếu thiếu vắng anh là như thiếu một tâm hồn đồng điệu cả về mặt nhân sinh nghệ thuật sống làm người trong tâm tư những thân hữu.

Từ những lẽ đó, tôi nghĩ trong hôm nay và tương lai, các sinh hoạt cộng đồng hay văn học anh không cô đơn, vì bên anh luôn có thân hữu và chiến hữu đồng hành. Hơn thế, người luôn đồng hành cùng anh ở mọi nơi và mọi lúc là Tiến sĩ Đào Thị Hợi - người vợ cũng là người trợ tá đắc lực của anh, cùng làm việc và cùng chia sẻ buồn vui qua những thăng trầm thời cuộc.
Anh ra đi, tôi cũng bị hẩng một ước mong thực hiện thi tập "Nhà Việt Nam", mà anh hứa sẽ giúp tôi chuyển dịch sang Anh Ngữ để chuyển tải đến các bạn trẻ về tâm huyết của thế hệ đàn anh những tâm tư và nguyện vọng phục hưng tự do dân chủ cho Việt Nam sau thảm trạng chiến tranh và chiếm đoạt quê hương do tập đoàn cộng sản phương Bắc gây ra.

Với chu kỳ sinh lão bệnh tử, trước sau gì mọi người cũng đến nơi mình phải đến, đương nhiên sẽ gặp lại nhau ở một tinh cầu mới có sự sống vĩnh hằng. Thay vì nói lời vĩnh biệt, tôi xin được nói lời tạm biệt anh Nguyễn Ngọc Bích, người anh trọng kính của tôi. Tôi biết thời gian tới, trong mỗi kỳ họp cộng đồng hay văn học vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn, mọi người vẫn nhắc đến tên anh vì tình và vì công việc thiếu sự tiếp sức của anh.
Tạm biệt anh nhé, nguyện cầu anh an vui nơi cõi vĩnh hằng và tiếp trợ anh em còn ở lại tiếp tục sứ mạng của người cầm bút phục vụ tự do bác ái và nhân quyền vì một Việt Nam đất Mẹ thương yêu .

Người em và người bạn thân tình của anh.

Cao Nguyên
Washington.DC - March 03,2016



trả lời


Văn Hóa Sử


Những Đóa Hoa Tình

Đầu Tháng Ba, miền Đông Bắc Hoa Kỳ chưa thoát khỏi những cơn gió lạnh Mùa Đông, máy sưởi vẫn còn rì rào phả ấm vào lúc đồng hồ bật lên một nấc theo nhịp gõ Mùa Xuân.
Anh ra đi giữa lằn ranh Đông - Xuân, giữa lạnh và ấm của Đất và Người. Nắng chưa đủ độ hồng như những đóa hoa từ thân bằng quyến thuộc, từ chiến hữu và văn thi hữu đem đến tặng anh, long lanh đủ các sắc màu mà hoa có được nhờ hơi ấm của tình người.

Tâm trí tôi thầm thì cùng anh, níu ngọn bút xuống ngoằn nghèo trên mặt giấy những vòng chữ như khi tôi nhặt những cánh hoa rơi quanh bờ huyệt thả bay xuống chạm nóc áo quan vốn đã ngập đầy những đóa hoa tình quanh một lẵng hoa hồng rực đỏ có cài giải băng trắng ghi dòng chữ "Của Bé Tặng Anh". Bé Hợi của anh đó - Tình của Chị gởi cho anh quá tuyệt vời. Tuyệt vời như lời cuối của Chị nói theo giọt nước mắt rơi trên những đóa hoa: "Anh an nghỉ nhé trong lòng đất Mẹ, lòng đất không hề phân biệt là đất quê mình hay đất quê người".

Đứng bên Chị, tôi nghe rõ điều đó. Nhìn những hạt cát bám trên cánh hoa tôi vừa nhặt, dẫu biết sau nở sẽ tàn, sau hợp sẽ tan, mọi sinh thể rồi cũng về với đất theo chu kỳ sinh tử hằng nhiên, nhưng mắt mình không ngăn được dòng lệ xót cay!

Nhớ năm kia tôi viết bài "Vãi Chữ Lên Trời" tiếp theo bài "Rải Tro Theo Gió" của nhà văn Nguyễn Tường Thiết về những hạt tro của di thể tướng Ngô Quang Trưởng thoát bay từ đỉnh đèo Hải Vân xuống lòng biển rộng. Hôm nay những cánh hoa thoát bay từ những bàn tay thân thương xuống lòng huyệt lạnh, chỉ khác ở dung tích mà không khác sự dùng chứa theo lời nguyện cầu sưởi ấm hồn người đã giả từ nhân thế.
Đất hay Nước vẫn ôm trọn một đời người khi ra đi về cõi vĩnh hằng!

Lúc còn bên nhau, chỉ cần một nụ cười mỗi khi gặp cũng đủ thấy vui. Khi xa nhau, mới cảm thấy ngậm ngùi với bao lời muốn nói. Thế mới hay, sự nhớ thương còn sâu đậm hơn tình thân mến. Lời của trái tim đẹp hơn tiếng nói của vành môi!

Anh Bích ơi! Tôi còn đủ chất lãng mạn ngôn từ như anh đã từng trêu tôi phải không? Thật sự hôm nay tôi rất muốn viết gởi anh một lá thư tình chứa đầy ngôn ngữ của trái tim đã từng thổn thức suốt chiều dài hơn nửa thế kỷ lịch sử đau thương mà anh em mình đã dấn thân nhập cuộc bảo quốc, an dân.
Như thơ tôi viết tiển biệt người chiến hữu năm xưa:
Vừa như mới ngã mũ chào
Mà phơ phất bóng chiến bào tầm xa
Ngựa giòn gõ vó bôn qua
Bụi hồng sương quyện lệ nhòa mắt cay!

Anh ra đi cũng quyện vào mắt người ở lại biết bao dòng lệ cay như vậy, anh ra đi đột ngột đến nỗi tôi không tin ở mắt mình khi nhìn anh nằm trong áo quan ở nhà quàn sáng nay!

Chữ nghĩa chứa chất liệu sử thi bao giờ cũng nhuốm nỗi buồn xa cội, rời quê. Muốn đột phá vòng khổ lụy bi ai, cần những lời ca dõng dạt như Người Nguyễn Đức Quang hát vang trong không gian lộng gió:
".. Ta như nước dâng, dâng tràn có bao giờ tàn
Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang
Ôm vết thương rỉ máu, vẫn cười dưới ánh mặt trời!"

Anh cũng đã cười dưới ánh mặt trời qua bao cuộc đổi đời nghiệt ngã từ Bắc vào Nam, từ quê nhà ra hải ngoại. Tiếng cười của anh tiếp truyền theo lời anh nhắn gọi tuổi trẻ lên đường phục hưng Tổ Quốc. Tiếng nói của anh lan tỏa trong không gian ba chiều chứa biết bao tâm huyết của một người suốt đời vì nước quên mình.

Chính những khẳng khái của ngôn tự bật lên từ trái tim nhiệt nồng của anh qua những bài thuyết giảng về sự tồn sinh nhân ái chuyển lưu vào mạch sống thế nhân, đã làm mọi người thương tiếc khôn nguôi khi anh ra đi. Ra đi mà hiện hữu, bởi di sản nhân sinh anh để lại cho đời còn đẹp mãi.

Tổ Quốc luôn sinh động dưới màu cờ vàng, mãnh lực của dân tộc chuyển mình xây dựng lại quê hương phát khởi từ một phần của dì sản ấy. Những đóa hoa tình của những người thân thương đang trao tặng anh hôm nay, có chứa cả nước mắt và lời nguyện cầu anh mãi bình yên và tiếp trợ cho những sinh lực mới đang nẩy mầm sống đẹp cho mùa Xuân Dân Chủ trên quê hương Việt Nam.

Cao Nguyên
Washington.DC - 12/3/2016



trả lời


Văn Hóa Sử


Chẳng Lẽ

Vào mỗi Tháng Tư, tôi lại dựng lên cột mốc thời gian 1975 và cộng thêm vào từng khoảng đời lưu vong đáng nhớ. Đánh dấu chuỗi dài bi thảm của Việt Nam, quê hương tôi.

Cả bi và thảm đều chứa nhiều nước mắt của hằng triệu người Việt sống lưu vong, hay đang sống tại quê nhà!
Tháng Tư 2016, cột mốc thời gian khắc dấu ấn 41 năm. Nhìn về trước và sau dấu ấn này, trên tầng tầng lớp lớp máu xương của sự hy sinh vì tự do dân chủ của một quốc gia, vẫn chổi lên mầm đau thương do nước mắt tưới vào. Nghiệt ngã thân phận của đời người, của đất nước chạy buốt theo tiếng thở dài gần như chỉ để mặc niệm từ hồi tưởng.

Mặc niệm với những anh hùng đã vì nước hy sinh! Hồi tưởng những đắng cay và tức tưởi của một đoàn quân quyết chiến mà thất bại. Một thất bại nhục nhã bởi sự phản bội của đồng minh và nội thù dân tộc.
Chẳng lẽ đây là thời kỳ nhiễu nhương nhất của dòng lịch sử cận đại do nội thù khuynh đảo trong hàng ngủ nhân thân? Chủ nghĩa cá nhân nẩy lòng phản trắc, mài sắt ngôn từ để triệt hạ nhau, bất chấp chân lý và công đạo! Lừa bịp cả thế nhân bằng những chiếc áo ngụy tạo hữu thần. Lợi dụng đức tin để lập đền tôn sùng lãnh tụ! Tệ hại hơn là vinh danh chính mình trên bản ngã tự tôn, tự mãn!!

Chẳng lẽ những ngọn bút tiên phong đã chùn tâm ráo mực? Chỉ phóng lên trời những dấu chấm than! Mặc thế gian hứng những dòng lệ đỏ bi thương trên màu da vàng chủng tộc? Cái cơ hội dùng bút thay súng để chiến đấu vì độc lập tự do và dân chủ cho quê hương, cũng vuột mất khỏi tầm tay của những người lính già đã từng thề vì nước hy sinh? Chẳng lẽ lời thề vệ quốc đã bị màu danh lợi phủ chụp lên cái thân phận vốn quen trò đón gió, trở cờ?

Chẳng lẽ chữ nghĩa và trí tuệ chỉ để dùng cho những dằng vặt lòng nhau, khơi niềm đau từ những đố kỵ để thỏa mãn sự riêng tư danh phận một đời người? Bất chấp lương tri của người cầm bút vì nghĩa diệt thân, chỉ vì lẽ phải khuất lấp dưới tầm nhìn, chỉ thấy cái "tôi" sáng lên trong niềm thù hận. Hả hê đập phá lẽ phải bằng ngôn từ bất xứng với đại từ Văn Hóa. Làm dấy lên lớp bụi mù che lấp con đường chân thiện mỹ được tiền nhân xây đắp suốt mấy nghìn năm!

Còn bao điều chẳng lẽ đóng vào tâm trí và tự mình rịt lại những thương đau bằng niềm tin vào lương tri của những cây bút vẫn miệt mài viết tiếp những trang sử dẫu bi hay tráng cũng mang hồn dân tộc và tổ quốc mình đã cưu mang. Lịch sử vẫn còn đó, lương tâm đồng chủng sẽ minh bạch mọi điều. Thế hệ tiếp sau sẽ đi vào chính sử với ánh sáng chân lý được dẫn soi bởi hồn thiêng dân tộc. Lướt qua sự hỗn tạp của hiện cảnh quê hương ảm đạm, để vạch lên con đường hướng tới tương lai tươi sáng thật không dễ. Nhưng chẳng lẽ mãi lặng lẽ ngồi nghe những niệm khúc u buồn cho tới lúc tàn hơi?

Chẳng lẽ chữ nghĩa cứ bị dồn nén trong khung cửa ký ức, mỗi khi thời gian chạm vào, những giọt nghĩ mới vỡ ra chảy theo dòng trầm mặc?

Không! Phải dựng chữ nghĩa đứng lên, vượt bóng đêm, xuyên qua đố kỵ và nghi hoặc, phóng vào vách thời gian những dấu ấn đẹp của văn hóa dấn thân vì sự sinh tồn của chính mình với lương tri của một người cầm bút. Để còn thấy tự hào khi nắm tay những người bạn trẻ trên hành trình hướng tới ngày mai. Để khỏi thẹn với chính mình từ lời tim ghi khắc và nhắc nhớ: Tổ Quốc, Danh Dự và Trách Nhiệm.

Cao Nguyên
Washington.DC - 1/4/ 2016



trả lời


Văn Hóa Sử


Nơi Cõi Đi - Về
(Tưởng nhớ nhạc sĩ Hiếu Anh)

Hiếu Anh ơi! Cứ xem như hôm nay, ngày cuối tuần, mình trò chuyện với nhau nhé.
Lại nói về một chút gì để nhớ, từ một nơi mình đã Đến, Ở và Đi - Phố Núi Pleiku.

Khi anh đặt chân đến đó, không hiểu có cùng bối cảnh và tâm trạng như thế này không :
"....Ra khỏi lòng phi cơ C.130, bước xuống Phi Trường Cù Hanh, tôi cảm thấy lạnh, dẫu lúc đó mới chỉ 6 giờ chiều . Da thịt của Sài Gòn nhiệt đới đang tiếp xúc với cái lạnh miền cao vào những ngày đầu mùa Đông , tuy hơi khó chịu nhưng khoan khoái. Chính cái lạnh và một chút hơi sương đã làm cái đầu tôi “ hạ hỏa “, khi phải tiếp nhận cùng lúc những tiếng ồn ào của động cơ các loại máy bay và xe quân sự, cùng với sự nhộn nhịp của ba lô, mũ sắt và súng đan ra vào phi cơ và các pháo đài bao cát. Có nghĩa là tôi đang đứng chân trên vùng đất chạm nhẹ là nghe tiếng nổ! Nghĩa là tôi thật sự mất đi sự yên tĩnh của những giảng đường, của những thôn xóm quê tôi vào thuở chưa mất đi sự yên tịnh ..."
(trích hồi ký của Cao Nguyên)

Bốn mươi mốt năm rồi đó anh, mình đã xa thành phố ấy, dẫu cho sương mù của thực cảnh, hay sương mù trong cả lòng ta, nhưng những gì ở đó vẫn hiển hiện trong cõi nhớ của mình.
Thương lắm, nhớ lắm cái khung cảnh chập chùng sông núi ấy, bao nẻo đường còn in dấu chân ta và bè bạn của một thời xa vắng dễ thương. Dẫu ở đó, có những tháng ngày tim ta rỉ máu, những giọt lệ hồng chảy trong đêm trăn trở khi hay tin bạn ta, ngày mai không về. Họ ở lại vĩnh viễn trên Đồi 31, trên đỉnh cao Dak Pek, Chư Prong, Chư Pao, núi Phượng Hoàng...!
Thời đau xót đã qua, lẽ ra không nên nhắc lại. Sao tâm ta cứ mãi nhớ về? Có phải là sự không đành của nỗi tức tưởi trên hành trình đi tìm hòa bình, tự do, chân lý và bác ái cho quê hương!

Rồi sao nữa hở anh? Trong thời gian thoáng qua, giữa chập chùng sông núi quê nhà, giọt lệ hồng của tôi, của anh vẫn chảy theo dòng thơ, ý nhạc. Chen lẫn trong tình khúc anh viết là những khúc quân hành có âm vang nhịp trống Tây Sơn như nhắc nhớ mình còn chưa trọn bước trong sứ mạng của 4 chữ "Cư An Tư Nguy" đã nặng trong hành trang ta đi lúc rời khỏi Vũ Đình Trường Thủ Đức?

Sự rạo rực trớ trêu lại đồng âm với niềm thổn thức, nên những lời thánh ca bay vút lên cao. Những lời chúc phúc chạm hồn các vì sao, những thiên thể hiện thân các bạn ta ở đó, tạo nên nguồn âm thanh thánh thiện ngân tấu trong một bầu trời trên mặt địa cầu không còn hai cực Bắc, Nam. Tất cả đã nhất quán: trong hư vô ta là hạt bụi!
Hiếu Anh ơi! Bây giờ thì anh thong dong rồi. Muốn đi đâu thì đi, không cần giấy thông hành, không cần phép tắc và những câu nệ thế gian; muốn gặp ai thì gặp, kể cả những người muôn năm cũ!

Phúc cho anh đã đổi những giọt lệ hồng lấy ly rượu ân phước của nước Chúa, nồng nàn anh trong cõi đã về!
Anh có muốn về thăm Phố Núi với tôi hôm nay không? Nhớ lắm.

Cao Nguyên
Charlottesville.VA - 28/3/2016



trả lời


Văn Hóa Sử


Nhóc Con
(Gởi Phương Trần - đứa con tinh thần của Ba)

Ba vẫn thích gọi tên Con như vậy, kể từ hồi do duyên mình có cái tình Cha Con từ một Phố Ảo.
Dù Ba có biết đích thực tên con là Phương Trần - cái tên mà kẻ sinh thành ra con đã đặt như gởi tròn tâm ý của mình cho một kiệt tác vào đời mang dáng Thơm chững bước trên đường Trần cát bụi dưới vòm trời sương khói phù vân!
Con biết, cái tên cũng ứng với vận số của một con người. Dẫu bối cảnh không gian và thời gian có khác qua mỗi thế thời. Qua cảm nhận tâm linh của Ba, nghiệm ra có thực. Dĩ nhiên trong tầm mức căn bản nhất của một dòng đời. Như tên Lan, dẫu là Xuân Hạ Thu Đông - Lan,về nguồn gốc vẫn là giòng họ nhà Lan. Con thử nghiệm với những cái tên con đã quen biết, nếu chung một nguyên căn, họ có những điểm tương đồng về tố chất và sự đồng cảm sắc màu và nhanh nhiệt.

Cứ như một thứ trò chơi đi tìm ẩn số cho một phương trình nhiều nghiệm. Còn tin hay không thì tùy theo Tâm Ý.
Cũng như người ta tin "đời người qua nét bút", tin vào "chữ ký"... mỗi nét thay đổi là mỗi chuyển dịch một góc cạnh đời, làm ảnh hưởng đến sự suy thịnh của phận người, với độ chính xác dung sai tùy sự ngộ thức khi quyết định sự thay đổi đó. Riêng nét bút thì khó mà thay đổi, bởi nó thuộc về căn cơ vốn định từ khi nhập Trần. Như bộ xương mỗi người đã được định hình từ khi kết thai. Chẳng thế mà, người Tàu có khoa "cốt tướng". Ba đã có dịp đến thăm một "cốt sư" ở Singapore. Ông ta mù, nhưng ngay khi Ba bước vào phòng, "cốt sư" đã biết về nhân dáng, và khi "cốt sư" tiếp xúc những khớp xương, đã có thể mô tả về huyết thống và sự di truyền phả hệ của người đến thăm.

Với ý nghĩ của Ba, cái "tên" của mỗi người là vỏ bọc cái "tâm", có thể ngắm và ngẫm về lộ trình họ đi từ khởi điểm và về từ muôn lối. Đôi khi ngồi nghiệm về tên, Ba mỉm cười về tên của một ai đó, do duyên hoặc ngẫu nhiên vướng vào con chữ của mình. Từ nỗi nhớ về quê hương, về một bến tình... mà tên người như chiếc lá bay lên từ cội rồi rớt về nguồn; như chiếc thuyền rời bến vẫn nhớ đến bờ sông...nên lòng luôn ngoái lại.

Sao tên em không là Đại Dương
cho Thơ anh như sóng khôn lường
khi yên ả lời nâng ghé bến
lúc cuồng phong ý đắm chập chùng?

Sao tên em không là Vô Thường
cho Thơ anh như là hư không
giữa trầm luân không nghe tiếng vọng
dù yêu thương tuông mạch sóng trầm?

Sao tên em không là Gió Trăng
cho Thơ anh thôi lời nhọc nhằn
tình yên vui trong đời tĩnh lặng
chẳng đau thương, không lời bâng khuâng?

Sao tên em không là Quê Hương
cho Thơ anh suốt đời vấn vương
bởi xóm làng, đồng quê, ruộng lúa
cứ hiện lên trong xa nghìn trùng ?

(Tên Em / Cao Nguyên)

Ba đã vượt lề rồi. Trở lại với tâm tình của hai Cha Con mình hén. Hôm kia Con nói: lại muốn làm một chuyến xuyên Việt như Con đã thực hiện cách đây mấy năm. Cũng nên lắm, khi mình cảm thấy cái đầu hơi nặng vì chứa đầy những vặt vãnh đời; Khi muốn dòng tâm cảm của mình chuyển lưu theo mạch nước sông, theo cơn gió vờn trên hoa cỏ của những thảo nguyên. Nhân tiện, nhìn ngắm lại vóc xưa của núi sông phía sau những kiến tạo mới. Để biết sự thích nghi của mình nhuốm khởi từ đâu, sau hoành tráng phản hóa vì sinh tồn! Là nguyên căn cổ kính thuần thành của lễ giáo triều nghi, hay là những phức điệu ráp nối không hoàn chỉnh giữa hai nền văn hóa Đông Tây!?

Hiểu được sự thích nghi là mình trở về với mình, trở về với cái Tâm và cái tên chính mình.
Ba vẫn còn giữ những tấm hình Con gởi qua email từ chuyến xuyên Việt của Con lần trước. Qua cảnh, Ba như thấy được những con đường và nơi chốn Ba đã đi qua từ những năm xưa. Xa lắc thế mà vẫn nhớ tên đất, tên người với những bồi hồi còn như nguyên vẹn. Như mỗi lần Con gọi Ba qua PM, Ba vẫn còn nỗi bồi hồi từ thuở mới quen. Có thể cái tên con là một ấn tượng vực dậy sự bồi hồi. Thanh nhã, giản dị mà đầy sức sống.

Dù bây giờ Con đã trưởng thành, đã chững chạc đi trên đường đời, biết tự lo cho mình và nghĩ đến người khác. Ba vẫn gọi Con là Nhóc Con, nhí nhảnh hát:
... một ngày mới, một ngày đang tới, đóa tầm xuân vẫn ngủ trong hoang dại, giọt sương trắng, giọt sương tan nắng, thức dậy đi đóa tầm xuân thơ ngây của tôi..!

Cao Nguyên



trả lời


Văn Hóa Sử


Duyên Chữ Nghĩa

Nhờ Duyên của chữ nghĩa hay Duyên với nguời, mà tôi được cái cơ may gặp nhà thơ Nhất Tuấn trên trời từ khanhly.net/phoxua để rồi anh em chào nhau qua điện thoại và kể chuyện mặt đất một thời binh lửa.
Tôi không ngại nói với anh về nửa thế kỷ tôi đọc thơ Nhất Tuấn từ "Ngày xưa hè đến phượng hồng nở hoa" đến "Quê xa cũng Thái Bình Dương / Mà ta hai kẻ viễn phương lưu đày".

Năm 2005, khi được tin anh Phạm Huấn mất, tôi viết bài thơ "TIẾC", như nén hương lòng gởi tiễn đưa một đàn anh:

TIẾC
(thương kính gởi thiên thần Phạm Huấn)

Tiếc
lúc gặp anh, Tây Nguyên mùa rực lửa
hẹn rồi chờ, rượu chưa bữa mời nhau
đêm thao thức chờ cổng thành rộng mở (*)
đón bạn về từ giữa núi rừng sâu

Tiếc
những tráng khúc, anh mơ chưa viết được
ngọn bút tình nghẹn chết giữa tim đau
bạn đang giữa trùng vây chưa bỏ cuộc
mà khăn tang ai cố buộc trên đầu

Tiếc
sự tàn nhẫn không thể nào hiểu được
giữa lương tri và cứu cánh làm người
trên đất lạ anh mãi còn thao thức
nhìn xuyên đêm tìm kiếm lại nụ cười

Tiếc
những nụ cười xưa, giờ đã mất
trên chính anh và của bạn bè anh
vậy mà lúc hoàng hôn anh sắp tắt
nhìn cháu con, ánh mắt chợt long lanh

Tiếc
khi anh đi, mình lại không được gặp
nhìn anh thôi, không dám nhắc gì đâu
chỉ lời nói còn trong tim là thật
còn mọi điều, rất tiếc - đã là không!

Cao Nguyên

Tôi gặp anh Phạm Huấn chỉ vài lần trong thời gian quân vụ ở Pleiku, không quen lắm nên chưa được thân, chỉ là cảm mến tính cách và văn phong của anh.
Đâu ngờ bài thơ này lại là một sợi dây nối kết tình thân ái giữa tôi và anh Nhất Tuấn - bào huynh của anh Phạm Huấn.
Khi bài thơ "Tiếc" xuất hiện trên trang khanhly.net, anh Nhất Tuấn nói sẽ chuyển bài thơ đến chị Minh Hà - vợ anh Phạm Huấn. Ô hay, cái vòng quay thời gian đã tạo nên mối ân tình huyền diệu giữa những tấm lòng mang ơn chữ nghĩa.
Mà chữ nghĩa cũng lạ, có gì đó rất quen quen giữa 2 bài thơ: "Thăm Người Lính Cao Nguyên" (Nhất Tuấn - 1964) và "Chiều Trên Cao Nguyên" (Cao Nguyên - 2004). Bốn mươi năm, lịch sử chuyển dịch qua mấy chặng đường, mà chữ nghĩa vẫn một mạch đi "Đây có những người trai / Của núi rừng đất đỏ" của ngày xưa, và nay nghe "gió reo lời hát / ngỡ tiếng bạn về / từ cõi trăm năm"!

Một Mở / Một Kết - Hai tâm hồn đồng điệu viết một tình khúc chứa cả bi và tráng của một thời mình đi qua trên vùng đất còn da diết nhớ :

Thăm Người Lính Cao Nguyên

Chiều muộn, lên rừng núi
Thăm anh lính cao nguyên
Mây đồi xa giăng khói
Chìm dần trong mưa đêm

Đây có những người trai
Của núi rừng đất đỏ
Ba lô nặng trĩu vai
Từng hành quân gian khổ

Hết ở “Pla-tô J”
Lại sang miền “Dak-sut”
Bụi nhòa bộ treillis
Thân run trong giá buốt

Vì dân anh diệt cộng
Nào sá gì lầm than
Chết cho mọi người sống
Đem thân giữ giang san

Đêm nay mưa rừng bay
Thăm nhau trong chốc lát
Ta cùng tay nắm tay
Tìm vui trong điệu hát

Rồi thanh bình trở lại
Có những người em thơ
Chờ anh về tâm sự
Cho trọn niềm ước mơ

Nhất Tuấn
(“Truyện Chúng Mình” I. 1964)

@

Chiều Trên Cao Nguyên

chiều trên cao nguyên
gió reo lời hát
ngỡ tiếng bạn về
từ cõi trăm năm

bạn từng một thời
trong đêm nước mắt
mời rượu tiễn người
vào đất lạnh căm!

chiều trên cao nguyên
sương mù rớt vội
quyện phấn thông vàng
khỏa dấu chân quen!

lòng ta đi qua
từng con dốc sỏi
trên đường về làng
nỗi nhớ gọi vang!

chiều trên cao nguyên
giăng hàng phố mới
đêm ta về đâu
tìm lối trăng xưa

lối chờ, lối đợi
hoa lá giao mùa
chừ xa vời vợi
gót hồng đón đưa!

Cao Nguyên
(tháng ba 2004)

Cám ơn anh Nhất Tuấn, nhờ dòng thơ anh, tôi có thêm một mối ân tình.
Virginia - tháng hai 2009

@

Bài viết đã 7 năm, thời gian vút qua nhưng Duyên Chữ Nghĩa mãi còn hiện hữu. Với cuộc hạnh ngộ của những tâm hồn đồng điệu vì duyên này, tôi và anh Nhất Tuấn lại gặp nhau trong " TUYỂN TẬP NHÂN VĂN -- XUÂN 2016" - Tủ Sách Việt Thức Phát hành tháng 3 / 2016.
Với những cây bút:
Lưu Nguyễn Đạt, Chu Việt, Lê Hữu, Chân Minh, Phạm Cao Dương, Phan Văn Song, Phạm Trần Anh, Nguyễn Cao Quyền, Nguyễn Trọng Khôi, Trọng Đạt, Trần Thanh Hiệp, Song Nhị, Trang Châu, Cao Nguyên, Nhất Tuấn.
Đúng là mối duyên kỳ ngộ phát sinh từ Chữ Nghĩa.

Cao Nguyên
Miền Đông Bắc Hoa Kỳ - 26/3/2016



trả lời


Văn Hóa Sử


Hạnh Phúc Bất Chợt

Có những mắc xích lịch sử đau thương đan xen nhau trong cùng một thời điểm làm tâm trí mình giao động chông chênh qua từng cảm xúc và sự kiện. Hôm qua đi xem phim "Ride the Thunder" và hôm nay đi diễn hành nhân ngày chiến sĩ trận vong của Hoa Kỳ (Memorial Day). Những hình ảnh về chiến tranh và hòa bình tạo nên những xung đột qua cảm xúc từ an tới nguy, từ nhân bản đến tội ác. Nhân Bản là nguyên ủy của sự sống, Tội Ác phát sinh từ sự sống, một luân chuyển nhịp nhàng nhưng đối nghịch. Mức độ tội ác trong chiến tranh cũng nẩy sinh khác biệt giữa một xã hội quyền sống của con người được minh định và bảo vệ bởi luật pháp như Hoa Kỳ, khác với tội ác trong chiến tranh được khởi xướng bởi chủ nghĩa tàn bạo được xác mình trong chủ thuyết của đảng cộng sản "thà giết lầm hơn bỏ sót" bất cứ ai có thể gây hại đến hệ thống đảng trị và nhân sự điều hành guồng máy chiến tranh.

Trong cuộc chiến 20 năm tại Việt Nam vừa qua (1954 - 1975) cộng sản đã giết hằng triệu dân vô tội dưới đủ mọi hình thức. Số lượng người dân bị giết chết qua thống kê không còn lạ với tầm nhìn và ý nghĩ của nhân loại trên khắp địa cầu.

Riêng với phim "Ride the Thunder" ngoài tính chất ác liệt của cuộc chiến, người xem càng thấy rõ hơn sự bạo tàn của chủ nghĩa cộng sản đối với những người của "bên thua cuộc" (theo cách nói của cộng sản). Chúng bất chấp qui ước về tù binh chiến tranh của Liên Hiệp Quốc, tàn bạo vượt quá sức tưởng tượng ngay khi người xem liên tưởng đến tội ác chiến tranh của đức quốc xã.

Phim diễn đạt từ truyện, truyện diễn tả thực trạng của các nhân vật trong mỗi sự kiện với sự dẫn trình của các nhân chứng còn hiện hữu. Ai đã từng bị giam trong các nhà tù cộng sản hẳn đã phải chịu sự khổ nhục. lắm lúc muốn tự hủy mình vì danh dự của một người chiến binh và nhân cách của một con người, nhưng đồng thời luôn nhắc nhủ mình cần phải sống. Sống để chống lại sự tàn ác, sống để còn cơ hội gặp lại những thân thương của gia đình và bằng hữu đã bị bức bách chia xa.
Tình cảm gia đình đã dìu người tù binh gượng dậy với ý chí kiên trì sống vượt qua sự khổ nhục để khỏi phụ lòng mong đợi của người thân. Đúng là người tù binh phải "cỡi ngọn sấm" (tựa của bản dịch Việt ngữ) để sống còn.

Bối cảnh chiến tranh Việt Nam trong thập niên 1970 qua sách và qua phim "Ride the Thunder" với tôi là rất thực. Bởi tôi vừa là nạn nhân, vừa là chứng nhân của giai đuoạn lịch sử đau thương đó. Thực trạng của mỗi sự kiện tôi đều đã trải qua, nên sự xúc động càng dấy lên mạnh hơn với cảnh người tù binh quay lưng bước trở vào phòng giam theo lệnh, cũng là lúc hai dòng nước mắt của người vợ vỡ òa qua rèm mi vừa chớp. Nước mắt được nén lại trong đôi mắt khổ đau đến cùng tận khi nhìn thấy thân thể chồng mình quá đỗi suy nhược. Sự xúc động lắng trong tôi làm loạn nhịp thở, tay tôi bấu vào mép ghế ngồi chạm phải tay người Mỹ ngồi bên cạnh. Chúng tôi nhìn nhau như có cùng một luồng cảm xúc. Qua va chạm bất thường và qua chuyện trao đổi, tôi biết người Mỹ là hậu duệ của một cựu chiến binh Mỹ đã từng tham chiến bên cạnh quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

Thêm một kỷ niệm đáng nhớ trong buổi xem phim là sau khi rồi phòng chiếu ra về. Đến cầu thang tôi gặp thêm một hậu duệ chiến binh Mỹ khác đang đứng nói chuyện với 2 cháu nhỏ mặc quân phục thủy quân lục chiến Mỹ. Tôi dừng lại gợi chuyện và muốn được chụp một tấm hình kỷ niệm với hai cháu bé đẹp và dễ thương. Lời yêu cầu của tôi được chấp thuận và chính người mẹ của hai cháu chụp cho chúng tôi tấm hình kỷ niệm. Tôi bắt tay tạm biệt hai cháu với lời cảm ơn, tiếng cười phả lấp nỗi buồn còn tồn đọng trong tôi từ cảm xúc của phim.

Không hiểu tôi có gì hấp dẫn khi nói chuyện với các cháu trẻ, mà cháu nào cũng vui vẻ và thân thiện với tôi. Như hôm nay đi diễn hành, tôi cũng được làm quen thêm vài cháu nữa. Và lại có thêm vài tấm hình kỷ niệm với hậu duệ của hậu duệ chiến binh Mỹ. Cuộc sống được những niềm vui bất chợt cũng tạo nên hạnh phúc.

Cảm ơn đời, cảm ơn tình thân mến người với người trao nhau.

Cao Nguyên
Washington.DC - 30/5/2016



trả lời


Văn Hóa Sử


Tâm Đạo

Em hỏi: Bây giờ anh có còn thích viết ?
Như em thấy đấy, anh còn gì nên viết ?
Viết thơ Tình Yêu ư ?

Vẫn những lời thương nhớ, những đau buồn vì xa xôi cách trở!
Mà hằng ngày em đọc rất nhiều ở những trang Thơ trên online, trên Báo ... Thậm chí, cả trên những bức tường ở những công viên.
Mọi người đã phung phí thời gian và chữ nghĩa vào đó quá nhiều.
Rồi được gì hở em ?
Ngoài những nhớ thương mà mình đã biết ..
Ngoài những tin yêu mà mình sợ mất ...!
Cái tha thiết hôm nay - ngày mai thành hoài niệm ..!

Những mất mát trong quá khứ cho ta hôm nay có những nỗi đau ..!
Nhưng anh nghĩ những nỗi đau này không đủ lớn bằng nỗi đau ở chung quanh ta:
- Những đứa bé chưa bao giờ được đi học ...!
- Những cô gái phải sống trong các ổ mãi dâm, hay trong tay những tên cuồng tâm thô bạo ..!
- Những người già gần chết không có người chăm sóc ... !

Một cuộc đời là thế nào hở em ?
Tiếng khóc lăn từ trên nôi xuống, chảy dọc theo tháng năm của bước chân mình .
Từng vũng nước mắt và máu loang lổ quanh ta suốt thế kỷ qua, là số phận nghiệt ngã mà dân mình phải trải ... và thế là cuộc đời?

Anh muốn viết - và anh đã viết - về những cảm nhận đó, để nói với chính mình như một nhắc nhở về ý nghĩa của một cuộc đời
Có ai muốn chia xẻ với mình không ?
Có chứ em.
Chẳng qua là người ta không muốn đèo bồng thêm những đau buồn, khi mà chính họ đã phải vất bỏ bớt trên đường đi tới.
Bởi vì nó quá nặng, chỉ sợ không mang nổi suốt đời.

Chính anh và em cũng vậy.
Liệu mình còn mang được bao nhiêu nỗi đau vào người ?
Anh sợ mình cũng không kham nổi, nếu phải viết về nỗi đắng cay.
Vậy nên đã có những lúc anh không còn biết mình phải viết gì? Vả lại, anh cũng không muốn em đọc những điều anh viết mà buồn thêm cho mình và cho người.
Nhưng bỏ viết hẳn ư?

Không thể, bỏ viết với anh như bỏ một phần trách nhiệm của mình với nhân sinh và xã hội. Và hơn thế, viết như một di chứng của sinh tồn, viết như sự tham dự vào lợi ích chung không cần thiết sự xiển dương cá thể, chỉ như một sự trả nợ chính mình khi cưu mang nghĩa vụ làm người:
Sáng hối hả quảy gánh đời ra chợ
Chiều về vui thoát khoảng nợ trong ngày!

Viết còn là một thú vui trong trò chơi chữ nghĩa.
Mỗi rảnh rổi anh thích đùa với những con chữ, cứ xáo lên, chuyển đổi ý vần là trải chút lòng mình cho bạn ngắm.
Mỗi lần chuyển đổi chữ, điều mình vừa viết có mới hơn. Thêm một game màu mới trên bức tranh đời .
Viết để làm gì ư ? Là như thế đó. Trước sau chữ nghĩa vẫn một ân tình. Lo gì người đọc không nhìn biết lòng mình. Nếu người đọc chưa thương mến chữ nghĩa của mình là chưa hòa nhập được vào cái hồn của chữ, cái sắc của nghĩa trong bức tranh đời mình tự vẽ.
Có thể là không gian hay thời gian chưa đồng lõa với sự giao cảm. Kiên trì chinh phục cũng là một thái độ sống vì chữ nghĩa.

Chọn chủ đề cho bài viết cũng là cách gọi tình tri kỷ. Ngắm và Ngẫm giữa người và ta là một giao thoa nối kết của vòng sinh diệt chuyển luân.

còn biết bước giữa đời bóng tối
là còn tin le lói cuối đường đi
ra khỏi tháng năm sầu bi trời sáng
tha hồ nhìn dĩ vãng với tương lai

dĩ vãng ngắm cả ân tình cổ mộ
tương lai nhìn hoa trỗ giữa mầm xanh
khi mạch sống trong tâm còn gieo hạt
lo gì không ý bén những lời vui

còn nghe bạn tiếng cười trêu cợt gió
lòng chợt vui chữ nghĩa gõ hồn ta
người ghé đọc nở nụ cười đồng cảm
hạnh phúc về dẫu chỉ một sat-na!

Cứ viết đi bằng chữ nghĩa thật thà
Đời sẽ đẹp trong giao hòa thân ái.

Chính vì vậy mà anh vẫn còn viết như chính anh dặn lòng kiên định tiếp tục cuộc sinh tồn khi bản năng còn có thể giữ được cây bút không chao ngã giữa những cơn gió vật vã dòng đời. Cố gắng giữ lòng thành tín: Tâm trong Đạo và Đạo trong Tâm.

Cao Nguyên



trả lời


Văn Hóa Sử


Đồ Cổ
Vật dụng cần thiết nhất đối với người tù trong trại cải tạo của cộng sản Việt Nam vào những năm giữa thập niên 1970 là chiếc lon đựng sữa Guigoz do Hòa Lan sản xuất. Công dụng của chiếc lon này rất đa năng: Vừa làm gáo múc nước, chứa nước uống...! Vừa làm nồi nấu nước, nấu thức ăn...! Vừa làm kho chứa kỷ vật của gia đình!
Hôm nay ngối với mấy bạn tù xưa, nhắc những chuyện hỡi ơi một thời qua, có nhắc đến dụng cụ hữu ích này sau nhiều năm vắng bóng. Để nhìn lại bèn search trên Amazon, thấy được món đồ cổ này rao bán với giá 40 Mỹ kim.
Ý định mua một chiếc làm hiện vật lịch sử diễn trình với các bạn trẻ về những thứ đơn giản mà quí hiếm từ mỗi hoàn cảnh sinh tồn, đành gát lại vì giá đồ cổ bất kham so với tấm lòng hoài niệm!
Các chiến hữu còn ở Việt Nam chắc dễ tìm được món đồ cổ này từ các kho vật dụng phế thải, hoặc hỏi xin nơi các chú quản giá trại cải tạo năm xưa thường tịch thu những vật dụng của Mỹ Ngụy, nhất là những vật dụng có in dấu: Made In USA.

Cao Nguyên
(truyện thật ngắn)

@
Đọc truyện chiếc lon guigoz:
https://ongvove.wordpress.com/2009/05/03/chi%E1%BA%BFc-lon-guigoz-hanh-trang-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-tu-c%E1%BA%A3i-t%E1%BA%A1o/



trả lời


lên trên